Đại Tập 57 - Bộ Kinh Tập IV - Số 490->584
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền » Bộ Kinh Tập, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 61 chương/phẩm, dày 1046 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.
- Phương tiện nhiếp thọ: dùng bốn mươi tám nguyện độ khắp ba căn.
Nếu đứng trên phương diện những chúng sanh được Phật hóa độ để luận thì:
1) Niệm Phật thành công liền được vượt ngang ra khỏi tam giới, đới nghiệp vãng sanh, chẳng cần phải đoạn hoặc chướng.
2) Vãng sanh Cực Lạc rồi, chẳng cần phải đợi đến khi chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, cứ sanh trong cõi Đồng Cư thì sẽ chứng được cả ba cõi Tịnh Độ khác.
3) Luôn trì một câu thánh hiệu, chẳng cần phải nhọc công tu phương tiện Thiền, Quán nào khác mà tự được tâm khai.
4) Lấy bảy ngày làm hạn, liền được nhất tâm bất loạn, chẳng cần phải nhọc nhằn tu hành nhiều kiếp.
5) Chỉ cần trì một câu thánh hiệu A Di Đà, liền được sáu phương chư Phật hộ niệm khiến cho người ấy được an ổn, không gặp phải các chướng nạn.
6) Công đức bố thí pháp một cách rộng lớn: dùng vô lượng quang thọ hằng diễn Phật pháp.
Đấy thật là những điều chẳng thể nghĩ bàn được nổi, toàn là do công đức, hạnh nguyện vô biên của Phật A Di Đà tạo thành. Như vậy, chữ Lợi ở đây là nói về đại lợi ích vô lậu thù thắng xuất thế. Cho nên bảo là “chẳng thể nghĩ bàn”.
Đoạn kinh văn này tổng kết những công đức trang nghiêm của y báo và chánh báo, phô diễn lợi ích thù thắng chẳng thể nghĩ bàn mà chúng sanh sẽ đạt được, trước khi nêu danh hiệu chư Phật sáu phương cùng khen ngợi, chứng tín pháp môn này.
1.2. Chư Phật tán thán, tiêu đề (chư Phật khen ngợi, nêu tên kinh)
1.2.1. Đông phương Phật:
Chánh kinh:
Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Phương Đông cũng có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
Pháp môn Tịnh Độ đây thật là pháp hết sức khó tin. Bởi thế, đức Thế Tôn không ai hỏi bèn tự giảng. Phật đã tự phát khởi, thì đương nhiên cũng phải do chính Ngài tự khuyến hóa, lưu thông. Vì thế, tiếp đó, Ngài dẫn vô lượng danh hiệu chư Phật trong các phương, dị khẩu đồng âm, tán thán, xưng dương kinh này để chứng minh, ngõ hầu hết thảy chúng sanh tin tưởng xác thật, đoạn sạch nghi tình.
Bản dịch của Ngài Huyền Trang kể đủ mười phương Phật. Trong bản này, Ngài La Thập tỉnh lược bớt. Đó là vì người Đông Độ thời ấy thích nói ngắn gọn, nên Ngài cũng thuận cơ nghi rút gọn, nhưng ý nghĩa kinh không hề bị giảm mất.
Phương Đông là phương mặt trời mọc, theo Bát Quái, thuộc về quẻ Chấn, chủ về Động. Trong tứ thời, phương Đông tương ứng với mùa Xuân. Khí Xuân khiến muôn vật sanh trưởng, biểu thị ý nghĩa trí huệ có công năng xuất sanh. Do trí huệ thường được dùng để hướng dẫn sự nghiệp học Phật, nên kinh lấy Đông phương làm chủ.
Danh hiệu của hết thảy chư Phật thường dựa trên các yếu tố “bi trí, đoạn chứng, nhân quả, hạnh lý” để xác lập. Mỗi danh hiệu Phật bao gồm muôn vạn nghĩa lý sai biệt, đầy đủ vạn đức; những lời giải thích dưới đây chỉ là căn cứ trên văn tự mà tạm giải thích để học nhân nương ý tự quán chiếu, viên ngộ vô lượng ý nghĩa của mỗi đức hiệu, khác nào toan dùng một giọt nước biển để diễn tả cả đại hải vậy.
1) A Súc Bệ Phật: còn phiên là A Sơ Bệ Phật, A Sô Bệ Phật, Hán dịch là Bất Động hoặc Vô Động; hàm nghĩa: hạnh chứng Phật trí, chẳng bị hết thảy cảnh giới (chẳng hạn như lợi, suy, chê bai, ca tụng, khen ngợi, gièm báng, khổ, vui...) nhiễu động. Chúng sanh trôi lăn trong sanh tử thường bị động, đức Phật đã chứng vô lậu thánh quả, pháp thân thường trụ bất biến, chẳng bị nhị biên (có - không, chân - tục, đến - đi) làm lay động, nên có tên như thế.
2) Tu Di Tướng Phật: Tu Di (Sumeru) là tên núi, còn phiên là Tu Di Lâu, hoặc Mê Lô sơn, tức là núi Diệu Cao. Núi Diệu Cao ở giữa đại hải, bốn đại châu bao quanh. Núi này do các báu tạo thành nên gọi là Diệu. Núi cao vượt khỏi mặt nước tám vạn bốn ngàn do tuần (đây là con số ước lệ, hàm ý núi rất cao) nên gọi là Cao. Ba đức Phật tiếp theo đây đều dùng Tu Di làm hiệu, hàm ý: đức trí siêu việt, cao siêu, mầu nhiệm như núi Tu Di.
Tu Di Tướng nghĩa là tướng hảo, quang minh do trăm phước cảm thành, giống như núi Tu Di do các báu hợp thành mầu
nhiệm khôn sánh. Trời, người, Nhị Thừa, Bồ Tát chẳng sánh nổi đức trí của Phật, khác nào núi Tu Di cao trỗi hơn tất cả. Vì thế Phật hiệu là Tu Di Tướng.
3) Đại Tu Di Phật: đức hạnh của vị Phật này còn cao siêu, sâu rộng vòi vọi, vượt xa núi Tu Di, như kinh Duy Ma nói: “Tiếng tăm cao xa, vượt hơn núi Tu Di”.
4) Tu Di Quang Phật: Tu Di do các báu hợp thành, đương nhiên quang minh chói lòa. Đức Phật này quang minh chiếu xa chói lọi, khác nào núi Tu Di tỏa quang minh phủ lấp các ngọn núi khác lẫn ánh sáng mặt trời, mặt trăng.
5) Diệu Âm Phật: Âm thanh của Phật vi diệu, thuyết pháp thích ứng căn cơ khiến chúng sanh luôn hoan hỷ, nên lập danh như thế. Thêm nữa, âm thanh của Phật chẳng thể nghĩ bàn, cùng trong một âm thanh thuyết pháp, mà tùy theo căn khí, mỗi người nghe sẽ lãnh hội pháp ích khác nhau, tăng trưởng đạo nghiệp. Kinh Duy Ma nói: “Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy loại ai nấy đều nhận, hiểu”.
“Như thị đẳng”: Đông phương vô biên, đương nhiên có vô lượng thế giới. Trong vô lượng thế giới, đương nhiên có vô lượng chư Phật. Chữ “như thị” chỉ năm Đức Phật vừa được nêu tên, chữ Đẳng chỉ chung hết thảy chư Phật còn lại.
Từ ngữ “Hằng hà sa số” (số cát trong sông Hằng) biểu thị con số cực nhiều. Mỗi khi muốn nói đến con số rất nhiều, không cách nào hình dung nổi, Phật thường dùng lượng cát trong sông Hằng để làm tỷ dụ.
Hằng Hà (Gange, còn phiên là Căng Già, dịch nghĩa là Thiên Đường Lai: từ cõi trời chảy xuống) là một trong bốn con sông lớn nhất toàn xứ Ấn. Phát nguyên từ ao A Nậu Đạt (Vô Nhiệt Não) trong rặng Tuyết Sơn (Hymalaya), bề ngang rộng
đến bốn mươi dặm, cát nhỏ mịn như bột, từng hạt phân minh. Những địa điểm Đức Phật thuyết pháp thường gần bên sông Hằng nên Phật hay dùng hình ảnh này để đại chúng dễ lãnh hội.
“Chư Phật” tức là chư Phật ở phương Đông. Do phương Đông có hằng hà sa số Đức Phật nên bảo là “chư Phật”.
“Quảng trường thiệt tướng” (tướng lưỡi rộng dài) là một trong ba mươi hai hảo tướng của Phật. Từ bao nhiêu kiếp đến nay, chư Phật đã xa lìa bốn lỗi nơi khẩu nghiệp (nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, ác khẩu), khẩu nghiệp hằng thanh tịnh, nên khi thành Phật, đạt được tướng này. Tả hữu là Quảng, trước sau là Trường. Tướng lưỡi Phật rộng lớn, mềm mại, đỏ hồng, nên bảo là “quảng trường thiệt tướng”.
Người thường nếu suốt ba đời chưa hề nói dối thì lưỡi dài có thể liếm đến chót mũi. Nếu lưỡi rộng không dài, hoặc dài nhưng hẹp, hoặc nhỏ ngắn, co rụt, cứng khó xoay chuyển, đều là do đời trước ưa bàn chuyện thị phi, nên cảm phải báo ấy.
Riêng mình Đức Phật trong vô lượng kiếp, tích tập công đức đã lâu, trọn không vọng ngữ, nên cảm được quý tướng ấy. Phẩm Ly Thế Gian trong kinh Hoa Nghiêm chép:
“Bồ Tát có mười loại lưỡi:
1) Lưỡi phân biệt giải nói vô tận hạnh của hết thảy chúng sanh.
2) Lưỡi khai thị, diễn nói vô tận pháp môn.
3) Lưỡi tán thán công đức vô tận của chư Phật.
4) Lưỡi thuyết pháp vô tận biện tài.
5) Lưỡi diễn nói vô tận pháp môn Đại Thừa.
6) Lưỡi trùm khắp mười phương hư không giới.
7) Lưỡi phổ chiếu hết thảy cảnh giới Phật.
8) Lưỡi bình đẳng tán thán hết thảy chúng sanh.
9) Lưỡi tùy thuận chư Phật khiến hoan hỷ.
10) Lưỡi hàng phục hết thảy ma và ngoại đạo, trừ diệt sanh tử, đạt đến Niết Bàn”.
Bồ Tát thành tựu mười pháp này nên thành tựu tướng lưỡi vô thượng, che khắp cõi nước (quảng trường thiệt tướng). Tướng lưỡi rộng dài, ai ai cũng sẵn có, nhưng do tu trì chẳng đủ, khẩu nghiệp chẳng thanh tịnh, nên chẳng thể chứng đắc, thọ dụng nổi!
“Biến phú tam thiên đại thiên thế giới”: Biến là khắp cả, Phú là che phủ. Tam thiên đại thiên đã giảng ở phần trước. Khu vực hóa độ của một Đức Phật tối thiểu bao gồm một tam thiên đại thiên thế giới, mà kinh hay gọi là “quốc độ” hoặc Phật Sát.
Ở đây, vì pháp môn được giảng rất thù thắng, đặc diệu “nhân bé, quả to”, chỉ sợ chúng sanh sanh lòng nghi, không chịu tu tập, còn trở lại gièm báng, nên chư Phật phải hiện tướng thần biến kỳ đặc “tướng lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên thế giới” để chứng tín.
“Thành thực ngôn” là lời quyết định chẳng hư vọng, là lời khẩn thiết, chân thực.
Trong từ ngữ “đương tín thị”, chữ Thị chỉ bản kinh này.
“Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”: Mười sáu chữ này là tên của bản kinh này. Tám chữ đầu ước về Phật đức (khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn), tám chữ sau là ước về pháp (Nhất thiết chư Phật sở hộ niệm: được hết thảy chư Phật hộ niệm). Ngài Huyền Trang dịch là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh, nghĩa lý tương đồng với nguyên danh; nhưng vẫn có phần rút gọn, vì đã đem nghĩa “bất khả tư nghị” gộp vào trong hai chữ Tịnh Độ.
Ngài La Thập dịch là Phật thuyết A Di Đà kinh, ý vẫn chẳng khác, vì mười sáu chữ tên gốc của kinh đều nằm trọn trong thánh hiệu A Di Đà. Dịch như vậy rất phù hợp với diệu chỉ Trì Danh được phô diễn trong kinh này, rất phù hợp với bổn ý của Đức Phật. Bởi thế, hậu thế đa phần lưu thông bản dịch của Ngài La Thập.
“Chư Phật Sở Hộ Niệm” hàm ý: tông chỉ của bản kinh này là chuyên trì hồng danh chẳng lui sụt mới được vãng sanh, cắt ngang sanh tử. Đây thật đúng là chiếc bè báu để vượt bến mê, là thuyền từ qua bể khổ, vì thế chư Phật đều cùng hộ niệm. Hộ là bảo hộ (gìn giữ, bảo vệ), Niệm là ức niệm (nghĩ nhớ). Ý nói: Chúng sanh niệm Phật, được chư Phật nghĩ nhớ đến, cảm Phật lực hộ trì nên được an ổn, chẳng bị thoái đọa. Đấy chẳng những là do sức hộ trì của riêng Phật A Di Đà, mà còn là sức hộ trì của mười phương chư Phật nữa. Pháp môn mầu nhiệm thế ấy, chẳng những mình Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khen ngợi, tán dương, mà mỗi mỗi vị Phật trong mười phương thế giới cũng đều dị khẩu đồng âm khen ngợi, tán dương.
Ngài Đạo Nguyên lại hiểu “hộ niệm” nghĩa là chư Phật trong mười phương đều gìn giữ, yêu mến, luôn nghĩ đến pháp môn thù thắng, đặc diệu này. Do được chư Phật gia hộ nên chẳng bị đọa lạc. Do được chư Phật ái niệm nên đạo nghiệp, phước huệ được tăng tấn.
Đối với đoạn kinh này, chư cổ đức có nhiều cách hiểu khác nhau:
Ngài Từ Ân (Khuy Cơ) bảo: “Các vị giáo chủ trong những thế giới, vốn đã tự tuyên dương pháp môn Niệm Phật khiến cho những chúng sanh trong cõi mình đều tu trì, phụng hành. Đức Thích Ca Thế Tôn lại còn lần lượt diễn nói, dẫn lời xưng tán cõi Tây Phương, khuyên trì pháp môn Niệm Phật của mười
phương chư Phật để đại chúng trong hội kính tín, ngưỡng mộ, cầu sanh”.
Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu lại cho rằng: “Ngay trong lúc đức Thích Ca Thế Tôn giảng dạy, khen ngợi cõi Tây Phương trong vườn Cấp Cô Độc và khuyên tu trì pháp môn Niệm Phật, thì mười phương chư Phật cũng đồng thời xưng tán”.
Cả hai cách giải thích này đều đáng để chúng ta suy gẫm, nhận lấy nghĩa lý.
Xét về Lý:
- A Súc Bệ biểu thị trí tánh sẵn có bất động, tự nhiên.
- Tu Di Tướng biểu thị Phật tướng vi diệu.
- Đại Tu Di biểu thị Phật đức đệ nhất.
- Tu Di Quang biểu thị Phật trí phổ biến.
- Diệu Âm biểu thị tứ biện tài, bát âm đầy đủ.
- “Tướng lưỡi rộng dài” biểu thị pháp âm viên mãn, trọn khắp.
1.2.2. Nam phương Phật
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất! Thế giới phương Nam có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Nhật Nguyệt Đăng Phật”: Nhật là mặt trời, ánh trăng soi sáng đêm trường. Ánh đèn (đăng quang) hỗ trợ ánh sáng mặt trời, mặt trăng trừ tối. Như vậy, Nhật Nguyệt Đăng hàm nghĩa quang minh khắp trọn, trừ sạch si ám. Nghĩa là đại trí quang minh của Đức Phật chiếu suốt mười phương, ba đời, chiếu tan hết thảy những điều phiền hoặc tối tăm: tham, sân, si... của chúng sanh. Vì thế, dùng Nhật Nguyệt Đăng để lập danh. Hoặc có thể hiểu là Nhật Nguyệt Đăng chính là thân quang lẫn trí quang cùng chiếu.
Hiểu sâu hơn, Nhật Nguyệt Đăng chính là dùng ba trí của Phật để lập danh. Nhật chiếu soi ban ngày, sanh trưởng vạn vật. Dùng Nhật để ví với Đạo Chủng Trí, chiếu rõ Tục Đế lý, thành tựu chúng sanh. Nguyệt chiếu soi ban đêm, xua tan hắc ám, ví như Nhất Thiết Trí, chiếu tỏ Chân Đế lý, phá trừ phiền ám. Đăng (đèn) chiếu soi cả ngày lẫn đêm, lại hỗ trợ công năng của Nhật lẫn Nguyệt. Như vậy, Đăng tương ứng với Nhất Thiết Chủng Trí, chứng Trung Đạo lý, cùng chiếu cả Chân lẫn Tục, viên dung vô ngại.
“Danh Văn Quang Phật”: Chữ Văn hàm nghĩa tiếng tăm vang dội, ai nấy đều hay biết. Vạn đức hồng danh của Đức Phật này vang dội khắp pháp giới, từ quang chiếu khắp nơi, gia bị
hết thảy chúng sanh, khiến cho những ai nghe danh hiệu Ngài hay được quang minh của Ngài chiếu thấu đều đạt đại lợi ích.
“Đại Diệm Kiên Phật”: Diệm có nghĩa là quang minh chói rực, chiếu tan hết thảy hắc ám. Kiên là đôi vai, có tác dụng gánh vác. Đức Phật này quang minh chiếu suốt tột cùng hết thảy chúng sanh, vận dụng Quyền Trí lẫn Thật Trí để đảm đương sự nghiệp cứu độ chúng sanh.
“Tu Di Đăng Phật”: Núi Tu Di tối cao, Đăng (đèn) có tác dụng soi đường, chỉ lối. Đức Phật này dùng trí huệ tối cao dẫn dắt, chỉ dạy chúng sanh, khiến họ bỏ chỗ tối tìm về chỗ sáng.
“Vô Lượng Tinh Tấn Phật”: Vô lượng là con số rất lớn, Tinh là chẳng tạp, Tấn là chẳng lui sụt. Trong vô lượng thời gian, Đức Phật này tuyên thuyết đạo lý thuần chánh, chưa từng ngưng nghỉ nhằm làm lợi lạc chúng sanh. Nếu luận về tu nhân thì Đức Phật này trong vô lượng kiếp đã rộng tu vô lượng pháp môn, đối với pháp môn nào cũng đều tinh tấn chẳng lười, nên mau được thành Phật.
Xét về Lý:
- Nhật Nguyệt Đăng biểu thị ba trí của Phật có công năng phá được ba thứ hoặc chướng.
- Danh Văn Quang biểu thị ba đức trí chiếu khắp mười phương.
- Đại Diệm Kiên biểu thị Quyền Trí và Thật Trí có công năng chiếu tỏ Chân Đế và Tục Đế.
- Tu Di Đăng biểu thị chứng tứ đức rồi khởi dụng.
- Vô Lượng Tinh Tấn biểu thị từ Phật trí lưu xuất phương tiện bất tận.
1.2.3. Tây phương Phật
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất! Thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Vô Lượng Thọ Phật”: Vị Phật này mang cùng tên với đấng Đạo Sư cõi Cực Lạc. Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu bảo: “Phật Phật đạo đồng nên chư Phật đồng danh rất nhiều”. Pháp sư Bân Tông cho rằng: Vị Phật này chẳng phải là vị Phật do tỳ kheo Pháp Tạng tu thành, vì chẳng lẽ Phật A Di Đà lại tự đứng ra khen ngợi mình. Nếu tự khen ngợi như thế, há chẳng phải sẽ khiến cho chúng sanh cõi Cực Lạc lại mong cầu một cõi Cực Lạc nào khác nữa ư?
“Vô Lượng Tướng Phật”: chữ Tướng chỉ tướng hảo trang nghiêm của Phật. Tướng hảo trang nghiêm của đức Thế Tôn
nhiều đến vô lượng, vô tận, như đức Lô Xá Na có đến Hoa Tạng hải vi trần tướng hảo. Nếu chỉ luận về Ứng Thân thì có ba mươi hai tướng hảo, hoặc chín mươi bảy tướng đại nhân v.v... Báo Thân có sát trần vô lượng tướng. Pháp Thân có vô lượng chẳng thể nghĩ bàn tướng. Đức Phật Vô Lượng Tướng tu thành Phật Quả, chứng vô lượng tướng, lại dùng tướng hảo dẫn dụ chúng sanh nhập đạo.
“Vô Lượng Tràng Phật”: Tràng là cái sào hoặc trụ rất cao (hình tròn hoặc hình lục giác, bát giác) để treo phan hoặc cờ, hay là khắc kinh chung quanh. Như vậy, chữ Tràng biểu thị hai ý nghĩa cao tột và thấy rõ. Tràng gồm ba nghĩa: siêu thắng (cao trỗi hơn mọi vật), tồi tà (dẹp tan tà vạy) và hiển chánh. Đức Phật này vận dụng Phật trí, kiến lập vô lượng pháp tràng, dẫn đạo vô lượng chúng sanh, dẹp tan vô lượng tà ma.
“Đại Quang Phật”: Đại Quang là quang minh vĩ đại, không đâu chẳng chiếu thấu. Danh hiệu Phật này ước theo Trí mà lập. Đức Phật này quang minh trí huệ cực đại, chiếu khắp hết thảy chúng sanh.
“Đại Minh Phật”: Đại Minh có nghĩa là trọn chẳng có hắc ám gì. Đức Phật này phá trừ hắc ám tam hoặc, đã chứng trọn ba trí, quang minh chiếu khắp mười phương thế giới, không bị chướng ngại, phá tan hoặc chướng của chúng sanh, nên hiệu là Đại Minh.
“Bảo Tướng Phật”: Chữ Bảo hàm nghĩa tôn quý, hy hữu, lợi ích. Tướng hảo thù thắng đặc biệt, đều như trân bảo, thật đáng tôn quý. Vì thế gọi là Bảo Tướng. Đức Phật này hiển thị tướng hảo siêu tuyệt cho hết thảy chúng sanh được trông thấy, khiến họ ngưỡng mộ Phật tướng quý báu mà phát tâm Bồ Đề, tu đạo chứng quả, đoạn sanh tử.
“Tịnh Quang Phật”: lìa các cấu nhiễm là Tịnh, hoặc chướng trừ sạch thì trí huệ quang minh tự nhiên phát sanh. Đức Phật này chứng ngộ cực quả một cách sâu xa, viên mãn; lại dùng trí quang vô lậu chiếu hết thảy chúng sanh, khiến hết thảy chúng sanh đều được lợi ích, tâm địa đều quang minh.
Xét về Lý:
- Vô Lượng Thọ biểu thị quả báo thù thắng trọn khắp ba đời.
- Vô Lượng Tướng biểu thị Phật tánh tùy cơ thị hiện vô tận.
- Vô Lượng Tràng biểu thị Phật tánh siêu thắng viên mãn.
- Đại Quang, Đại Minh biểu thị Thể lẫn Dụng của Phật tánh đều vô tận. Bảo Tướng biểu thị công đức trí viên mãn.
- Tịnh Quang biểu thị nơi Phật tánh, trí lẫn quang cùng thể hiện rạng ngời.
1.2.4. Bắc phương Phật
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất! Thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Diệm Kiên Phật”: xem chú giải ở phần trên.
“Tối Thắng Âm Phật”: Âm thanh của Phật cực kỳ viên mãn. Không một âm thanh nào khác có thể chướng ngại được Phật âm. Phật có tám thứ âm thanh: cực hảo âm, nhu nhuyễn âm, hòa thích âm (âm thanh điều hòa, vừa phải, thích ứng), tôn huệ âm (âm thanh tôn quý, trí huệ), bất nữ âm (không có giọng nữ, không yếu đuối), bất ngộ âm (chẳng lầm lạc), thâm viễn âm (âm thanh sâu xa), bất kiệt âm (chẳng cùng kiệt). Đấy chính là do khẩu nghiệp thanh tịnh nên đạt quả báo thù thắng như vậy. Đức Phật này sở chứng chẳng thể nghĩ bàn, dùng một âm thanh diễn nói khiến cho thập loại chúng sanh ai nấy đều được giải ngộ.
“Nan Trở Phật”: Trở là phá hoại, ngăn chướng. Về mặt tự lợi, Phật đã chứng lý thể rốt ráo kiên cố, thân như kim cang, không có gì phá hoại được. Về phương diện cứu độ, Ngài làm cho những chúng sanh được Ngài cứu độ đều nhận rõ chân lý vũ trụ, chẳng bị ngũ dục, ma chướng phá hoại.
“Nhật Sanh Phật”: Mặt trời vừa mọc, chiếu tan đêm trường tăm tối. Quang minh trí huệ của Đức Phật này xuất hiện, chiếu khắp hết thảy chúng sanh, không mảy may tư vị, khiến cho hết thảy chúng sanh chướng trừ, trí hiển, như ánh thái dương chiếu khắp đại địa.
“Võng Minh Phật”: Võng (cái lưới) là do nhiều sợi gai bện thành, Minh là tỏa sáng. Lưới mà tỏa được ánh sáng thì lưới ấy phải được kết bằng sợi báu, bảo châu. Đức Phật thuyết pháp, lời lẽ chẳng hư vọng, mỗi chữ như từng hạt châu, mỗi câu đều là
lời báu, quán xuyến tất cả, khiến cho chúng sanh đều được yên trụ nơi chánh đạo, khác nào mành lưới tóm thâu tất cả, chẳng sót vật nào.
Xét về Lý:
- Tối Thắng Âm biểu thị tự tánh sẵn đủ tám âm thâm diệu.
- Nan Trở biểu thị Pháp Thân kiên cố.
- Nhật Sanh biểu thị tự tánh vằng vặc.
- Võng Minh biểu thị Phật trí quang minh chói rọi, phản chiếu vô lượng.
1.2.5. Hạ phương Phật
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất! Thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Hạ phương thế giới” tức là những thế giới nằm ở ngay dưới thế giới chúng ta đang sống. Dưới thế giới này có thủy luân. Dưới thủy luân có kim luân. Dưới kim luân có hỏa luân. Dưới hỏa luân có phong luân. Dưới phong luân có không luân. Phía dưới không luân là trời Vô Sắc Giới, Sắc Giới, Dục Giới, nhân gian của một thế giới khác. Dưới thế giới ấy lại có thủy luân, kim luân, hỏa luân.... trùng trùng vô tận thế giới như vậy.
“Sư Tử Phật”: Sư Tử là vua loài thú, oai mãnh vô cùng, các thú đều chịu khuất phục nó. Tiếng nó rống khiến các loài thú khác đều run sợ. Phật là Pháp Vương, thuyết pháp tự tại, phá tan hết thảy tham, sân, si của chúng sanh, khiến cho ngoại đạo, tà ma đành chịu khuất phục, hoảng sợ. Vì thế, kinh dùng Sư Tử làm thí dụ để biểu thị Phật đức oai mãnh, tôn quý tối thắng. Đức Phật này cũng dùng ý ấy để lập tôn hiệu.
“Danh Văn Phật”: Danh xưng rền khắp vô lượng thế giới. Đức Phật này dùng vô lượng công đức cứu độ chúng sanh, chẳng dùng sức nào khác, ai nghe đến tên Ngài đều ngưỡng mộ, đạt lợi ích thù thắng.
“Danh Quang Phật”: danh tiếng, pháp âm của Đức Phật ví như ánh nắng mặt trời bình đẳng soi rọi khắp tất cả. Đức Phật này bình đẳng thí pháp cho hết thảy chúng sanh; cũng như trong toàn bộ thế gian này, không ai là chẳng được hưởng ánh mặt trời soi rọi.
“Đạt Ma Phật”: Đạt Ma là Pháp. Đức Phật đã tự dùng Phật pháp để tu thành Phật Quả, chẳng còn trụ vào hữu vi lẫn vô vi, rồi lại đem pháp ấy cứu độ hết thảy chúng sanh, khiến ai nấy đều được thành Phật.
“Pháp Tràng Phật”: Như trên đã nói, Tràng hàm nghĩa cao hiển. Pháp Đức Phật nói ra, dẫu là pháp Tiểu Thừa vẫn cao siêu
hơn mọi pháp thế gian. Đức Phật này dùng Phật pháp cao siêu làm cờ hiệu, hiển minh cứu cánh, chiết phục tà ma, ngoại đạo, khiến nhân thiên đều ngưỡng mộ.
“Trì Pháp Phật”: Trì là chấp trì. Đức Phật này khéo dùng các pháp quyền - thật, đốn - tiệm, tùy cơ giáo hóa chúng sanh, đối bệnh cho thuốc, khiến ai nấy đều do nghe pháp bèn được hưởng lợi ích thù thắng.
1.2.6. Thượng phương Phật
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất! Thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
Thượng phương thế giới là những thế giới ở phía trên hư không của thế giới chúng ta đang sống. Trên đỉnh núi Tu Di là trời Đao Lợi. Trên đấy là trời Dạ Ma, Đâu Suất... cho đến trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Trên Vô Sắc Giới lần lượt là không luân, phong luân, hỏa luân, kim luân, thủy luân. Phía trên thủy luân là nhân gian thế giới. Trùng trùng vô tận thế giới như thế.
“Phạm Âm Phật”: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Chỉ mình Đức Phật chứng đắc âm thanh thanh tịnh. Đức Phật này từ bao kiếp lâu xa đến nay, tu trì chứng đắc diệu âm thanh tịnh, tuyên thuyết vô ngại khiến cho tâm thính chúng vui thích nên có hiệu như vậy.
“Tú Vương Phật”: Tú là tinh tú (sao), mặt trăng được gọi là vua của các tinh tú bởi vì ánh sáng của muôn sao không che lấp được ánh sáng của mặt trăng. Riêng mỗi mặt trăng tỏa sáng vằng vặc giữa muôn sao, nên cổ nhân gọi “mặt trăng là vua của muôn tinh tú”. Đức Phật này đã chứng cực quả, làm đấng Pháp Vương, hết thảy chúng sanh chẳng sánh bằng, khác nào các tinh tú phải chịu kém sáng hơn mặt trăng. Còn có thể hiểu cách khác: Phật là Giác Vương, là đấng hết thảy chúng sanh quy y, khác nào tinh tú quây quần quanh mặt trăng. Vì thế, Đức Phật có tôn hiệu như vậy.
“Hương Thượng Phật”: Chiên Đàn Hải Ngạn hương chính là vua trong các loài hương, Sáu thù hương này trị giá bằng cả tam thiên đại thiên thế giới. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Hương Chiên Đàn vừa đốt lên, tỏa ngát hương khắp bốn mươi dặm”. Đức Phật này nhiều kiếp tu trì, thành tựu năm thứ diệu hương công đức Pháp Thân (giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, diệu giải thoát tri kiến hương), xông khắp pháp giới chúng sanh, khiến hết thảy ngửi thấy mùi hương đều được lợi ích. Vì thế dùng hương Chiên Đàn tối thượng để sánh ví với Đức Phật.
“Hương Quang Phật”: Hương có công năng trừ mùi nhơ, trừ khí ác. Quang chính là trí huệ hiển hiện, trừ diệt hết thảy hắc ám của chúng sanh. Vị Phật này đã chứng năm phần Pháp Thân hương, đã đoạn sạch hai thứ cấu uế: Kiến, Tư Hoặc, dùng trí đức quang minh chiếu phá hết thảy ngu si, hắc ám, nên có tôn hiệu như thế.
“Đại Diệm Kiên Phật”: xem lời giải thích ở phần trước.
“Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật”: Tạp Sắc là nhiều màu, Bảo Hoa là hoa do các thứ trân bảo quý giá nhất hợp thành. Nghiêm Thân là thân thể được trang sức hết sức đoan chánh. Hoa biểu thị nhân hạnh (hạnh được thực hiện khi còn tu nhân). Tạp Sắc Bảo biểu thị các pháp môn thù thắng trong khi tu nhân. Vị Phật này từ bao kiếp lâu xa đã tinh ròng tu lục độ vạn hạnh, nên khi thành Phật, cảm được thân tướng đoan nghiêm khôn sánh, quý như các thứ trân bảo hợp thành. Lại dùng đức tướng thù thắng ấy để dẫn dắt chúng sanh, khiến ai được trông thấy thánh tướng trang nghiêm của Phật đều chẳng quên chí nguyện, tinh tấn hướng đạo.
“Sa La Thọ Vương Phật”: Sa La là tiếng Phạn, dịch nghĩa là Kiên Cố. Loại cây này xanh tươi suốt bốn mùa, chất gỗ cực cứng rắn, hoa đẹp, thơm ngát. Đao, búa không chặt mẻ được cây, tàng cây cao to. Thật là một loại cây phi thường, nên gọi là Thọ Vương (cây chúa). Vị Phật này đã chứng lý thể Pháp Thân kiên cố rốt ráo, chẳng bị bất cứ trần cảnh nào nhiễu động hoặc phá hoại, thành bậc thánh của chư Thánh, lại dùng Đại Bi phổ tế hết thảy chúng sanh. Khác nào cây Sa La trong lúc nắng gắt, xòe tàng rợp bóng che mát người đi đường.
“Bảo Hoa Đức Phật”: Hoa cõi thế gian ắt sẽ có tướng tàn tạ. Còn Đức Phật đây, trọn đủ vạn đức, trang nghiêm quý trọng
như hoa báu, kiên cố diệu tuyệt, chẳng bị hư hoại, nên lập danh như vậy.
“Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật”: Các pháp thế gian, xuất thế gian vô lượng nên cũng có vô lượng nghĩa lý. Vì thế gọi là Nhất Thiết Nghĩa. Thiên sai vạn biệt nghĩa lý ấy, chỉ mình Đức Phật hiểu thấu tột cùng, đã chứng được Nhất Thiết Chủng Trí, đầy đủ chánh tri, chánh kiến, lại liễu đạt Thật Tướng của các pháp, cũng như các lý Quyền - Thật, Thiên - Viên. Vì thế, Phật hiệu là Kiến Nhất Thiết Nghĩa.
“Như Tu Di Sơn Phật”: Tu Di là vua trong các núi. Vị Phật này đầy đủ bốn đức, cao quý hơn hết trong mười pháp giới, khác nào núi Tu Di vượt trỗi trong thế gian. Vì thế, lấy danh hiệu như thế.
Xét về Lý:
- Phạm Âm biểu thị bản tánh của âm thanh là vô nhiễm, thanh tịnh.
- Tú Vương biểu thị pháp thanh tịnh có công năng tiêu trừ sự nóng bức của phiền não (như ánh mặt trăng mát mẻ, khiến ai cũng khoan khoái).
- Hương Thượng biểu thị vạn đức siêu việt các nhân vị.
- Hương Quang biểu thị Pháp Thân hương chiếu khắp thế giới.
- Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân biểu thị quả đức dùng vạn hạnh làm nhân hoa để trang nghiêm.
- Sa La Thọ Vương biểu thị Pháp Thân kiên cố, bất biến.
- Bảo Hoa Đức biểu thị bốn đức của Phật thơm ngát, thanh tịnh nhiệm mầu.
- Kiến Nhất Thiết Nghĩa biểu thị hiểu thấu suốt, tường tận các pháp.
1.3. Trưng thích kinh danh (nêu tên kinh và giải thích ý nghĩa)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh?
(Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao lại đặt tên là Kinh Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm?)
Giải:
Bản kinh này có giá trị lớn lao như thế nào mà cả sáu phương chư Phật dị khẩu đồng âm cùng nồng nhiệt ca tụng đến thế? Để dứt mối nghi tình ấy cho đại chúng, đức Thế Tôn bèn tự nêu lời hỏi, rồi tự đáp. Tám chữ đầu trong đề mục tên kinh (Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức) đã được giảng giải tường tận qua phần Chánh Báo và Y Báo được thuyết minh trong phần Chánh Tông. Vì thế, ở đây, đức Phật chỉ giải thích ý nghĩa sáu chữ còn lại (Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh).
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị kinh, thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này mà thọ trì và nghe danh hiệu của chư Phật, thì các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm,
đều đắc Bất Thoái Chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác)
Giải:
Trong đoạn này, Đức Phật giải thích sự lợi ích thù thắng: “Được chư Phật hộ niệm”.
“Nhược hữu” (nếu có) là từ ngữ dùng để diễn tả ý giả định.
“Thiện nam tử, thiện nữ nhân” là hết thảy kẻ nam, người nữ có lòng tin thâm thiết. Nói cả nam lẫn nữ để xác tín một sự thật: “Ai cũng có khả năng thành Phật”.
“Văn thị kinh, thọ trì giả”: Văn là lắng nghe, “thị kinh” (kinh này) chỉ kinh A Di Đà, Thọ là tin tưởng, vui thích nhận lãnh; Trì là chấp trì, nghĩ nhớ chẳng quên. Nói cách khác, Văn - Thọ - Trì chính là tam huệ: Văn - Tư - Tu. Nghe được pháp môn Niệm Phật này, tin tưởng sâu xa pháp môn này thật ổn thỏa thích đáng. Đấy chính là Văn Huệ. Nghe rồi bèn ghi nhớ trong lòng, chán uế ưa tịnh, nguyện cầu vãng sanh. Đấy là Tư Huệ. Phát nguyện xong, chuyên tâm chấp trì danh hiệu, tịnh niệm tiếp nối mãi đến khi Nhất Tâm Bất Loạn. Đấy chính là Tu Huệ. Đó cũng chính là ba món tư lương của hành nhân Tịnh nghiệp.
“Cập văn chư Phật danh giả” (và nghe danh hiệu của chư Phật): Chữ “chư Phật” chỉ các đức Phật trong khắp sáu phương như đã nói ở trên. Phải biết rằng ai thọ trì được bản kinh này, người ấy phải là hạng đã từng gieo thiện căn lớn lao, sâu dày trong bao đời trước. Kinh Vô Lượng Thọ dạy: “Nếu xưa kia chẳng từng tu phước huệ sẽ chẳng được nghe chánh pháp này. Đã từng kính ngưỡng, vâng thờ các đức Như Lai, do nhân duyên như vậy mới được nghe nghĩa này”. Kinh Hoa Nghiêm
chép: “Thà chịu khổ địa ngục, nguyện được nghe tên Phật, chẳng nguyện sanh cõi trời, tạm chẳng nghe Phật hiệu”.
“Giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm”: kinh này có công đức chẳng thể nghĩ bàn, được nghe kinh này, thọ trì kinh này đều phải là do đại nhân duyên, đã từng gieo nhiều thiện căn. Do vậy, người trì kinh đương nhiên được chư Phật hộ niệm.
Hỏi: Nếu bảo thọ trì pháp môn Niệm Phật này sẽ được chư Phật hộ niệm, nhưng như vậy là phải đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn mới được chư Phật hộ niệm hay bất cứ ai có lòng xưng niệm đều được chư Phật hộ niệm?
Đáp: Thánh hiệu Di Đà gồm đủ hết thảy công đức. Chẳng cần biết là hạng chúng sanh nào, ai có lòng xưng niệm thì sẽ đều được chư Phật hộ niệm. Chỉ có điều do công lực thọ trì sai khác nên tự nhiên sẽ cảm thọ sức hộ niệm của chư Phật sâu cạn sai khác.
Nếu chỉ nghe danh hiệu Phật, không chịu xưng niệm thì chỉ là “Lý tức hộ niệm”. Nghe rồi, chịu xưng niệm, nhưng chẳng chuyên, vẫn gieo được nhân thù thắng giải thoát trong đời vị lai. Đấy chính là “danh tự tức hộ niệm”. Nghe rồi giải ngộ, lại còn trì tụng thì là “quán hạnh tức hộ niệm”. Nếu đạt được Sự nhất tâm bất loạn, đoạn sạch Kiến hoặc, Tư hoặc, chứng lý Chân Đế thì là “tương tự tức hộ niệm”. Nếu đạt được Lý nhất tâm bất loạn, phá một phẩm vô minh, chứng được một phần Chân Như Thật Tánh thì là “phần chứng tức hộ niệm”. Niệm đến khi cả bốn mươi phẩm vô minh phá sạch, chứng pháp tánh thanh tịnh thì là “cứu cánh tức hộ niệm”.
Nếu có thể nghe kinh này và thọ trì đến Nhất Tâm Bất Loạn thì là Hạnh trọn vẹn (Bát Nhã đức), danh hiệu Phật mình đang trì tụng ấy phô bày trọn vạn đức (Pháp Thân đức), niệm niệm trừ diệt sanh tử trọng tội (Giải Thoát đức). Có những công đức
như thế nên người thọ trì được Như Lai hộ niệm, mà sự hộ niệm ấy cũng từ chính những công đức ấy phát sanh.
“A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”: A nghĩa là không, Nậu-đa-la dịch là Thượng. Tam dịch là Chánh, Miệu dịch là Đẳng. Bồ Đề dịch là Chánh Giác. Hợp lại, có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
* Chánh Giác (Chánh là không tà, Giác là không mê), hàm ý: đây là sự giác ngộ đúng đắn, chánh trí điên đảo, lìa hý luận. Gọi là Chánh Giác để phân biệt với bất giác của phàm phu hay tà giác của ngoại đạo. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, do vọng tưởng chấp trước khiến cho bản giác chân tâm bị ngũ uẩn vùi lấp, mê muội, chẳng giác ngộ. Vì thế gọi là “bất giác chúng sanh”. Ngoại đạo quay lưng với bản tâm, hướng ngoại cầu pháp, cho nên cái gọi là “giác ngộ” của họ nếu chẳng vọng thì cũng là tà. Bởi thế, chẳng thể công nhận sự giác ngộ của họ là chân chánh được.
* “Chánh Đẳng” (đẳng là bình đẳng): Sau khi tự mình đã giác ngộ rồi, chẳng hề tiếc nuối mảy may, vận dụng trí huệ chân chánh, bình đẳng tận lực làm lợi cho người khác. Gọi là Chánh Đẳng để phân biệt với Độc Giác, Nhị Thừa. Nhị Thừa tuy có Chánh Giác, nhưng chẳng thể lợi tha, chẳng hề có tâm bình đẳng phổ biến. Vì vậy, sự giác ngộ của họ không thể gọi là Chánh Đẳng được.
* “Vô Thượng” là viên mãn cả ba điều giác ngộ (tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn), đầy đủ vạn đức, không còn điều gì cao siêu hơn được. Luận trên phương diện tự chứng thì trí huệ đã viên mãn vô thượng. Xét về phương diện lợi tha thì công đức cũng viên mãn vô thượng.
Gọi là Vô Thượng để phân biệt với sự chứng đắc chưa toàn phần của Bồ Tát. Bồ Tát tuy đã có thể bình đẳng quán sát cả
Chân lẫn Tục, đã thực hiện được công hạnh tự giác và giác tha, nhưng xét về tự chứng vẫn còn chưa hoàn toàn viên mãn, vẫn còn có những vô minh vi tế chưa đoạn sạch được. Công đức lợi tha cũng chưa thể hoàn toàn viên mãn, vẫn còn phải cầu Phật Quả. Do vậy, Bồ Tát chỉ có thể xưng là Chánh Đẳng Chánh Giác, chứ chưa thể gọi là Vô Thượng.
Chỉ mỗi mình Đức Phật là bậc phước huệ đều đủ, rốt ráo viên mãn, mới kham xưng là “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Nhờ thọ trì kinh này và nghe danh hiệu chư Phật, hành nhân sẽ được bất thoái chuyển đối với vô thượng Phật quả, tức là Bồ Đề tâm không bị lui sụt dù phải tu hành trong bao nhiêu kiếp. Đấy chính là điều lợi ích thù thắng nhất.
Nói cách khác, Chánh Giác tương ứng với Tự Giác, Chánh Đẳng tương ứng với Giác Tha, Vô Thượng tương ứng với Giác Mãn. Sáu chữ đức hiệu này thường không dịch nghĩa mà giữ nguyên âm tiếng Phạn để biểu thị lòng tôn trọng. Sau khi thành Phật thì gọi là đắc Bồ Đề quả, nhân của Bồ Đề quả là Bồ Đề tâm. Vì thế, người mới học Đại Thừa cầu chứng Phật quả, thì gọi là “phát Bồ Đề tâm”. Thành Phật chính là nhờ tâm. Bởi vậy, nhà Thiền mới xướng thuyết “tức tâm tức Phật” (tâm chính là Phật); Tịnh Độ dạy: “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (tâm này là Phật, tâm này làm Phật). Ai có tâm đều có khả năng thành Phật.
Xét về Lý, “đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” biểu thị tự tánh vốn sẵn đầy đủ thánh đức vô thượng.
1.4. Phổ khuyến đại chúng tín thọ (khuyên hết thảy đại chúng tin nhận)
Chánh kinh:
Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ cập chư Phật sở thuyết.
(Vì thế ông Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận lời ta và lời chư Phật đã nói).
Giải:
Đây là lần thứ ba, Đức Phật khuyến chúc. Hai chữ“thị cố” (vì thế) để thừa tiếp đoạn trước; hàm ý: do chư Phật hộ niệm, được bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
“Nhữ đẳng”: lời phó chúc, khuyến tu này không chỉ dành riêng cho Ngài Xá Lợi Phất, mà là dành cho toàn bộ đại chúng hiện diện trong pháp hội cũng như toàn bộ chúng sanh được nghe kinh này trong đời tương lai.
“Giai đương tín thọ”: Tín ở đây là tin chắc chắn, không nghi ngờ gì hết. Thọ là giữ vững, chẳng để quên lãng. Hết thảy đại chúng trong pháp hội và hết thảy chúng sanh trong đời tương lai đều phải nên tín thọ lời dạy này.
“Ngã ngữ”: Ngã là chữ Đức Phật Thích Ca dùng để tự xưng. Chữ “ngữ” chỉ toàn bộ những lời dạy trong pháp hội này: y báo, chánh báo trang nghiêm, lợi ích thù thắng của việc vãng sanh cũng như hạnh Chấp Trì Danh Hiệu.
“Cập chư Phật sở thuyết”: hết thảy chúng sanh đều phải nên tin nhận pháp môn Niệm Phật là pháp môn được Đức Phật Thích Ca đích thân diễn giảng cũng như được mười phương vô lượng chư Phật tán thán mà sanh khởi tín tâm, phát nguyện vãng sanh.