Tìm kinh sách
Vần A-Z:
A Di Đà Kinh Hợp Giải

A Di Đà Kinh Hợp Giải

Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.

Chương 19: Thay Lời Kết (Trang 303 - 305)

“Tác lễ”: biểu thị lòng thành kính tối cực, đem đảnh đầu là chỗ cao quý nhất trong thân mình áp vào chân Phật để biểu thị lòng tôn kính, biết ơn thâm thiết.

“Nhi khứ”: Khứ là nghe pháp xong, ai nấy lui về chốn mình tự tu tập. Hiểu sâu hơn là nghe được pháp thâm sâu vô lượng, tối cực viên đốn này, bao nhiêu tâm phiền não, tâm kiêu ngạo, tâm vô minh, tâm tham, sân, si đều bỏ xuống hết, đều dứt bặt hết, đều bị trừ khử hết, chỉ còn hướng thẳng đến Tây Phương Thánh Cảnh mà tiến bước.

Không những chỉ tự mình tiến trên con đường giải thoát này mà còn lưu truyền giáo pháp này đến khắp mọi hữu tình có duyên với pháp môn Tịnh Độ.

THAY LỜI KẾT

Xin mượn lời kết luận của pháp sư Văn Châu để kết thúc cuốn Hợp Giải này:

“Bút giả trộm nghĩ: Chẳng nghe, chẳng biết đến kinh này, nên chẳng tín, chẳng hạnh, chẳng nguyện thì tuy là đáng thương, nhưng vẫn còn có thể chấp nhận được. Chứ ai đã được nghe, xem đọc kinh này, đã biết pháp môn Niệm Phật thù thắng như thế ấy, nhưng nghe mà chẳng tin, hoặc tin nhưng chẳng nguyện, chẳng hạnh, thì chẳng những chỉ phụ bạc đấng Thích Tôn là đấng đã thực hiện được việc khó này, đã nói pháp khó tin này; mà còn là phụ bạc chính mình, lãng phí kiếp sống này vậy!

Phải biết rằng: Chúng ta sống gởi trong cõi Sa Bà, ngoài thì bị việc người vùi dập, khiến cả thân lẫn tâm đều bị tổn thương; trong thì phiền não gây khốn đốn, bệnh tật vây hãm, khổ thật chẳng thể nói nổi. Nay được nghe diệu pháp này, khác nào bệnh nặng liệt giường, chợt được thần lực, kẹt ở đất khách lâu ngày, chợt gặp thuyền bè...

Cổ nhân nói:

Cấp cấp mang mang khổ khổ cầu,
Hàn hàn noãn noãn độ xuân thu,
Triêu triêu mộ mộ doanh gia kế,
Muội muội hôn hôn bạch liễu đầu,
Thị thị phi phi hà nhật liễu,
Phiền phiền não não kỷ thời hưu,
Minh minh bạch bạch nhất điều lộ,
Vạn vạn thiên thiên bất khẳng tu
(Tạm dịch:
Gấp gáp bộn bề khổ nhọc cầu,
Lạnh nồng đã trải mấy xuân thâu,
Sáng trưa chiều tối lo gia sự,
Mờ mịt, u mê bạc trắng đầu,
Đúng đúng, sai sai phân biện mãi,
Phiền phiền não não dễ ngừng đâu?
Một con đường chánh luôn ngời rạng,
Ngàn vạn muôn phần chẳng chịu tu!)
Đáng tiếc biết bao!
Phải biết rằng:
Nhất cú Di Đà tối phương tiện,
Bất phí công phu, bất phí tiền,
Đản giao nhất niệm vô gián đoạn,
Hà sầu bất đáo pháp vương tiền.
(Một câu Di Đà phương tiện mầu,
Nào tốn công phu, chẳng tốn xu,
Cốt sao nhất niệm đừng gián đoạn,
Sanh trước pháp vương há phải sầu?)
Hoặc có người bảo: ‘Ta nay đang lúc tráng niên, phải dốc tâm lo sự nghiệp, làm sao niệm Phật được?’ Nào có biết rằng: Sự có thành, hoại, hưng, suy, nhưng thời gian đã qua chẳng hề trở lại, tuổi trẻ khôn tìm lại, một mai vô thường xảy đến, có hối cũng muộn rồi! Cổ nhân nói:
Mạc đạo lão niên phương học đạo,
Cô phần đa thiểu thiếu niên nhân.
(Chớ bảo đến già toan học đạo,
Mồ hoang bao kẻ tuổi đầu xanh)
...Liên Trì Đại Sư nói rất hay:
‘Pháp môn Niệm Phật bất luận nam, nữ, Tăng, tục, quý, hèn, hiền, ngu, không có một ai là chẳng niệm Phật được! Nếu là người phú quý, của cải dư dả thì đúng là phải niệm Phật. Nếu là kẻ bần cùng, nhà hẹp, của ít thì càng phải nên niệm Phật. Nếu là người có con cháu, việc cúng bái tổ tiên đã có chỗ nhờ cậy thì rất nên niệm Phật. Nếu là người không con, trơ trọi một thân tự do thì càng phải nên niệm Phật.
Nếu ai có con hiếu thuận, yên hưởng con cái phụng dưỡng thì rất nên niệm Phật. Nếu ai có con ngỗ nghịch, chẳng sanh lòng yêu thương thì thật đúng là phải niệm Phật. Nếu ai vô bịnh, thân thể khỏe mạnh thì càng phải nên niệm Phật. Nếu ai có bịnh, rất gần cơn vô thường thì càng phải nên niệm Phật. Nếu ai già cả, tháng ngày chẳng còn mấy thì càng phải nên niệm Phật. Nếu ai tuổi trẻ tinh thần sáng suốt thì thật là rất tốt để niệm Phật. Nếu ai an nhàn, tâm không bị sự gì khuấy động thì thật đúng là nên niệm Phật. Nếu là người bận rộn, được đôi
/22
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »