Đại Tập 57 - Bộ Kinh Tập IV - Số 490->584
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền » Bộ Kinh Tập, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 73 chương/phẩm, dày 1046 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.
2) Nhuyễn ma: Đây chính là thân thích, quyến thuộc, ân ái trói buộc, vấn vương, bịn rịn khiến chúng ta khó lòng buông bỏ để toàn tâm toàn ý tu tập.
Dù ngạnh ma hay nhuyễn ma cũng đều là nhân duyên chướng đạo.
Mười phương Tịnh Độ dẫu thiện diệu vẫn không bằng nổi cõi Cực Lạc ở mức độ thắng diệu, chẳng có khả năng tiếp độ mọi căn cơ. Vì thế, Đức Phật đặc biệt khuyến hóa chúng sanh nên phát nguyện vãng sanh Cực Lạc. Dễ đâu gặp được nhân duyên hội ngộ thù thắng cùng các bậc thượng thiện nhân như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền... thế sao không gấp phát nguyện cầu nguyện vãng sanh? Có thân thích toàn là bậc thượng thiện nhân thì đâu còn ân ái buộc ràng, đâu còn oan gia hội ngộ, thế nên ngạnh ma lẫn nhuyễn ma chẳng còn tồn tại để tạo nhân duyên chướng ngại nữa!
Trong pháp hội Hoa Nghiêm, một đời viên mãn nhân thành Phật, chỉ có mỗi Thiện Tài đồng tử. Trong kinh này, các vị Nhất Sanh Bổ Xứ cực nhiều. Sự tuyệt diệu ấy không còn gì để nói nổi được nữa. Bởi thế, trong pháp hội Hoa Nghiêm, rốt cục Phổ Hiền Bồ Tát cũng khuyến hóa hải chúng quy hướng Cực Lạc.
Xét về Lý:
- “Nguyện sanh bỉ quốc” biểu thị sự “bội trần hiệp giác” (bỏ trần lao, hướng theo giác ngộ. Ở đây, Trần là ngũ trược, Giác là Cực Lạc).
- “Chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ” biểu thị trong tâm sẵn đủ hết thảy thiện pháp.
3. CHÁNH THỊ CHẤP TRÌ DANH HIỆU DĨ LẬP HẠNH(chỉ bày thẳng vào việc chấp trì danh hiệu để lập hạnh)
3.1. Xuất thắng nhân (nêu ra nhân thù thắng)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc.
(Xá Lợi Phất! Chẳng thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên để sanh về cõi ấy).
Giải:
Đây chính là đoạn văn thừa tiếp ý đoạn trên, nhấn mạnh: Muốn thân cận các bậc thượng thiện nhân như trên đã nói, cần phải có nhiều thiện căn, phước đức. Dùng câu nói này, Đức Phật nhằm dẫn dụ thính chúng nhận thức công đức thù thắng của việc Trì Danh: Tu hành các hạnh khác đều là những việc chỉ đạt được chút ít thiện căn, chút phước đức, chút nhân duyên; đều chưa phải là chánh nhân để được vãng sanh.
Thiện chính là hành vi cùng tâm nguyện thuần chánh, lương hảo. Căn có nghĩa là sanh trưởng. Như vậy, hiểu rộng ra thì “thiện căn” ở đây chính là tâm nguyện thuần lương, tinh tấn hành trì, cầu sanh Tây Phương. Đấy chính là căn bản của việc phát nguyện cầu sanh.
“Phước đức”: làm những điều lành nhằm tạo lợi ích cho người khác thì gọi là “tu phước”. Tích tụ thiện hạnh là Đức. Hành giả nếu chỉ có thiện căn mà chẳng chịu tu tập các phước đức để làm trợ hạnh, thì cũng chưa đủ để được vãng sanh Tây Phương.
Thiện căn và phước đức còn có thể hiểu như sau: thiện căn chính là Bồ Đề chánh đạo, đó là nhân; lục độ vạn hạnh là phước đức, đó là trợ duyên.
Nói cách khác: khăng khăng chấp giữ cái tâm phàm phu, đó là “vô thiện căn”. Phát tâm Tiểu Thừa là “thiểu thiện căn”, chẳng làm những việc lợi người là “vô phước đức”. Dù làm
nhưng mong cầu phước báo thì là “thiểu phước đức”. Trái lại: phát nguyện niệm Phật cầu sanh chính là làm được hạnh khó làm, nên có nhiều thiện căn; một câu hồng danh đầy đủ vạn đức, trì được câu danh hiệu ấy chính là nhiều phước đức. Bởi lẽ, trong đời ác ngũ trược này mà trì niệm được danh hiệu A Di Đà thì đích thật là một nhân duyên thù thắng khôn sánh!
Nói ở mức độ cao hơn: Thiện căn chính là chánh hạnh Niệm Phật; phước đức là tất cả các công đức khác để làm trợ duyên. Niệm Phật là đại thiện căn, là chánh nhân, những thiện sự khác chính là công đức, phước nghiệp, làm trợ duyên. Đúng như kinh Đại Bi đã dạy: “Một phen xưng danh hiệu Phật thì đã là thiện căn, dự vào trong cảnh giới Niết Bàn, chẳng thể cùng tận”.
Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức cũng bảo:“Nếu có ai được nghe danh hiệu của Vô Lượng Thọ Như Lai, một dạ tin ưa, trì phúng, tụng niệm thì người ấy sẽ được vô lượng phước, vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ. Sau khi mạng chung sẽ vãng sanh cõi kia”.
Luận Trí Độ khẳng định: “Thí như có người, lúc vừa mới sanh ra trên đất, liền có thể một ngày đi cả ngàn dặm, dâng thất bảo cúng Phật trong suốt cả ngàn năm, vẫn chẳng bằng người trong đời ác sau này xưng niệm một tiếng A Di Đà Phật. Phước người sau trội hơn người trước”.
Cũng theo Trí Độ Luận, chứng được năm thứ Bồ Đề tâm sau đây là tối thiện:
a) Phát Bồ Đề tâm: nghĩa là ngay khi đang còn ở trong vô lượng sanh tử, người niệm Phật có thể phát khởi tâm Đại Bồ Đề, cầu thoát sanh tử, vãng sanh Cực Lạc để tự độ, độ người.
b) Phục tâm Bồ Đề: trì danh niệm Phật, chánh niệm liên tục, đoạn các phiền não, hàng phục tâm mình.
c) Minh tâm Bồ Đề: trì danh niệm Phật, tâm miệng tương ứng, hiểu rõ một niệm tương ứng một niệm Phật, hiểu rõ các pháp không có vật gì ở ngoài tâm, niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật.
d) Xuất đáo Bồ Đề: đắc Vô Sanh Nhẫn, xuất ly tam giới.
e) Vô thượng Bồ Đề: người trì danh niệm Phật, viên chứng ba thứ Bất Thoái, đạt địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, ngồi Đại Đạo Tràng, thành vô thượng chánh giác.
Người niệm Phật dẫu còn ở địa vị phàm phu, nhưng đã phát khởi tâm Đại Giác, chánh niệm rỡ ràng, phiền não tự diệt, nội tâm tự có thể thuyết pháp Thật Tướng, chứng được địa vị Bất Thoái Chuyển, thẳng tiến đến thành Phật, nên đương nhiên năm thứ Bồ Đề tâm đều chứng trọn.
Hơn nữa, cầu sanh Tây Phương không phải là tiêu cực, trốn tránh hiện thực như nhiều người lầm tưởng. Cầu sanh Tây Phương chính là để đạt hoàn cảnh và nhân duyên tu tập thuận lợi cho sự tiến tu. Một khi chính mình đã chứng nhập Chân Lý, sẽ trở vào Sa Bà, lần lượt hóa độ chúng sanh.
Như vậy, trì danh niệm Phật thật là điều thiện nhất trong các sự thiện, thật là đại thiện bậc nhất trong các điều thiện lớn lao nhất.
Hành giả tu trì một câu A Di Đà chính là tu trọn vạn hạnh, tu khắp lục độ! Niệm đến nhất tâm bất loạn, buông bỏ thân tâm thì đương nhiên sẽ chẳng khởi tâm tham. Đấy là Bố Thí Độ. Chẳng còn tâm tham sẽ không khởi tạo mọi điều ác. Đấy chính là Trì Giới Độ. Không còn ác nghiệp đương nhiên không còn nhân ngã thị phi, đấy là Nhẫn Nhục Độ. Đã được nhất tâm bất loạn thì nội tâm tự nhiên minh bạch, chẳng có chút gián đoạn, chẳng hề có ý tưởng lười nhác. Đấy chính là Tinh Tấn Độ. Do đạo nghiệp tinh tấn nên chẳng khởi vọng niệm điên đảo, đấy chính là Thiền Định Độ. Không còn vọng niệm thì
đương nhiên chánh niệm rỡ ràng, chẳng bị lầm lạc vào những nẻo quanh co, dứt tận cùng cội rễ ngu si. Đấy chính là Trí Huệ Độ.
Rõ ràng là giữ vững sáu chữ hồng danh chính là tu trọn Lục Độ; mà tu Lục Độ chính là tu trọn hết thảy phước đức. Vì thế, Niệm Phật chính là đại phước đức vậy!
Tuy nói như vậy, cần phải lưu ý là người niệm Phật chớ nên xao lãng việc tu tập các phước duyên để làm trợ hạnh. Bởi lẽ người niệm Phật trong đời hiện tại, nghiệp chướng nặng nề, căn lành sơ bạc, nếu không dùng trợ duyên hỗ trợ, khó lòng một bề tinh tấn chuyên tu. Một khi đã không tinh tấn chuyên tu, hóa ra thiện căn cũng chẳng thành tựu, mà phước đức cũng chẳng đạt được gì, làm sao thành tựu sự nghiệp vãng sanh?
Hỏi: Câu nào cũng đề cao Niệm Phật là đại thiện căn, là đại phước đức. Như vậy, hóa ra tu các môn khác, chẳng hạn như tu Thiền Định là ít thiện căn, ít phước đức hay sao?
Đáp: Phải biết rằng: Tu Thiền Định là hạnh viên đốn, chuyên chú trọng nơi Thiền Định, không hề cầu sanh Tây Phương. Tuy là kiến giải cao, nhưng sự tái sanh trong thân sau chưa đoạn (tức là chưa đoạn nổi sanh tử). Chẳng hạn như Ngài Triết Công tinh tấn tu Thiền, là bậc đại long tượng trong nhà Thiền, thân sau sanh trong nhà họ Tăng, phải đọa lạc trong chốn hồng trần. Ngũ Tổ Giới Thiền Sư thân sau sanh làm Tô Đông Pha, tham luyến phú quý... Cứ lấy mấy trường hợp ấy mà suy, ta thấy tu các môn khác chưa ổn đáng, nên chẳng xứng gọi là “đại thiện, đại phước đức” được!
Hỏi: Quán kinh đã dạy thập niệm Di Đà, chóng sanh Tịnh Độ. Nếu nói như vậy, hóa ra đâu cần phải nhiều thiện căn, nhiều phước đức mới được vãng sanh?
Đáp: Mười niệm được sanh là bi nguyện để tiếp độ chúng sanh giải đãi. Nhưng thật ra để thành tựu mười niệm đó, cần phải cả một quá trình tu tập dài lâu. Kẻ ngũ nghịch, thập ác lâm
chung nếu không có túc phước thâm hậu, dễ đâu lâm chung gặp thiện tri thức khai ngộ, mười niệm vãng sanh? Nói “nhiều thiện căn, nhiều phước đức” là đối với căn cơ tinh tấn, siêng học mà nói. Kinh văn nói hoặc lược hoặc rộng, phải khéo suy xét, chớ khá hồ nghi!
Hỏi: Bồ Tát bao kiếp dài lâu vào trong cõi trần độ sanh, nay ta nguyện vãng sanh Tây Phương, ắt chẳng thể trở về ngay đời ngũ trược hóa độ hữu tình, há chẳng phải là tu hạnh Tiểu Thừa hay sao?
Đáp: Bao kiếp dài lâu ở trong cõi trần độ sanh nào phải chuyện dễ dàng! Muốn làm được vậy, phải có đủ trí huệ, biện tài, thần thông, phương tiện. Nếu không, khác nào toan cứu người chết đuối, mình đã không có ghe thuyền, lại chẳng biết bơi; mình lẫn người cùng chết chìm cả! Muốn phát Đại tâm, trước hết phải vãng sanh về cõi kia, để hoa nở, gặp Phật, rồi sau mới có thể trở vào ngũ trược, thuận nghịch lợi sanh một cách tự tại được.
Hỏi: Cõi Sa Bà một kiếp chỉ bằng một ngày đêm trong cõi Cực Lạc. Bậc Thượng Trung Phẩm vãng sanh còn phải chờ qua một đêm hoa mới nở, bảy ngày sau mới đắc Diệu Bồ Đề. Bậc Thượng Hạ Phẩm phải chờ đúng một ngày một đêm hoa mới nở, hăm mốt ngày sau mới được thấy Báo Thân Phật. Như vậy là khi đó, cõi Sa Bà đã trải qua nhiều kiếp. Nếu ta không kịp độ chúng sanh, chỉ sợ bọn họ tâm thức bất định, tạo nghiệp đọa khổ, không cách nào cứu nổi?
Đáp: Tuy phát đại tâm, tự mình không sức, chẳng bằng tự cứu mình trước đã! Khi đã đắc Phật Huệ rồi, sẽ nhập trần độ sanh, cả mình lẫn người đều được lợi ích thù diệu. Nay tâm đại bi tha thiết, sau ắt sẽ toại nguyện.
Xét về Lý, “thiện căn, phước đức" biểu thị hết thảy công đức sẵn có nơi tự tánh.
3.2. Thị chánh tu (chỉ bày đường lối tu hành)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn.
(Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn)
Giải:
Đoạn kinh văn này giảng về điều kiện thứ ba để được vãng sanh: Hạnh. Hạnh chính là Chấp Trì Danh Hiệu.
Từ ngữ “thiện nam tử, thiện nữ nhân” bao gồm hết thảy chúng sanh trong sáu đường, tất cả những người có thiện tâm. Gọi là “thiện nhân” vì phải là người từng đã gieo nhiều căn lành từ trước đối với Tam Bảo, nay mới có thể niệm Phật.
Hiểu theo nghĩa hẹp, “thiện nam tử”, tiếng Phạn là Ưu Bà Tắc (còn phiên là Ô Ba Sách Ca), Hán dịch là Cận Sự Nam, là những tại gia đệ tử nam, vâng giữ năm giới. Do thân cận phụng sự Tam Bảo nên gọi là “cận sự”. “Thiện nữ nhân”, tiếng Phạn là Ưu Bà Di (còn phiên là Ô Ba Tư Ca), dịch là Cận Sự Nữ.
Hỏi: Vãng Sanh Luận của Bồ Tát Thiên Thân (Bà Tẩu Bàn Đậu) viết: “Nữ nhân và căn khuyết, giống nhị thừa chẳng sanh”, ở đây kinh lại gộp cả thiện nữ nhân, như vậy có mâu thuẫn nhau hay không?
Đáp: Như nữ nhân chuyên tinh niệm Phật tinh tấn, khi mạng chung rồi sẽ chuyển sanh nam thân, sanh về cõi kia, nào có trở ngại gì. Người căn khuyết cũng thế. Vả nữa, Luận nói như vậy hàm nghĩa: trong cõi Cực Lạc, không hề có danh hiệu nữ nhân, không có người các căn bị khuyết thiếu, không có định tánh Nhị Thừa!
“Văn” (nghe) là nghe từ nơi thiện hữu giảng thuyết sự vãng sanh cõi Cực Lạc, hoặc tự mình tìm hiểu biết được. Nên biết rằng: “Một phen lọt qua tai, vĩnh viễn thành Phật chủng”. Một khi danh hiệu Phật lọt qua tai, sẽ kết thành đạo chủng thành Phật trong tương lai; vì ai ai cũng có Phật tánh, nhờ Phật hiệu đánh thức, khiến cho tâm thức phát sanh thiện căn, thiện căn ấy lần lần được tăng trưởng, thuần thục, khiến hành nhân phát tâm Bồ Đề, tiến tu đạo nghiệp. Nghe danh hiệu Phật có lợi ích lớn lao như thế nên kinh Hoa Nghiêm từng nói: “Thà ở trong đường ác, thường được nghe Phật hiệu, chẳng muốn trong đường thiện, tạm thời chẳng nghe nói đến Phật!”
“Chấp trì”: Chấp là cầm nhận lấy, Trì là giữ gìn. Hiểu sâu hơn: Chấp là tín tâm chẳng lay động, Trì là nghĩ nhớ chẳng quên. Ý nói: do tín lực kiên cường, vận dụng công phu nghĩ nhớ, gìn giữ danh hiệu Phật chẳng hề quên mất. Chấp Trì Danh Hiệu không có nghĩa là miệng niệm Phật xuông, mà tâm phải chuyên chú theo tiếng niệm, tâm khẩu tương ứng, tịnh niệm tiếp nối, mới xứng gọi là Trì Danh Niệm Phật.
Hỏi: Nhà Phật kỵ nhất là chấp trước, hễ còn chấp trước thì chưa phải là ngộ nhập Phật pháp, tại sao ở đây Phật lại dạy chúng sanh nên chấp trì danh hiệu, há chẳng phải là khiến tâm chấp trước càng sâu nặng hơn sao?
Đáp: Tám vạn bốn ngàn pháp môn chẳng qua chỉ gồm 2 loại chính: Không môn và Hữu môn.
Từ Không môn mà vào thì phải chứng nhập “hết thảy đều là không”, chẳng được chấp trước. Vì thế, kinh Kim Cang dạy:
Dùng sắc để thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Chẳng thấy được Như Lai.
Ý nghĩa của bài kệ này là khi còn chấp có sắc thân Phật để thấy được, còn có âm thanh Phật thuyết pháp có thể cầu được thì đã lạc vào đường tà, làm sao thành Phật nổi? Theo Không Môn nhập đạo, phải thấy hết thảy là không. Ngay cả cái “tất cả đều là không” ấy cũng là không. Trọn không còn chấp vào cái gì nữa mới hòng minh tâm kiến tánh.
Từ Hữu môn nhập đạo lại khác: Tin có cõi Cực Lạc, tin có Phật A Di Đà, không hề sợ chấp trước, vì chấp đây là chấp vào A Di Đà Phật, chứ nào phải chấp vào ngũ dục, lục trần. Y báo, chánh báo cõi Cực Lạc chính là Diệu Hữu. Chấp vào Diệu Hữu, chấp đến nhất tâm bất loạn, sanh về Tây phương, liễu chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đấy là đường tuy khác, nhưng mục đích tương đồng. Diệu Hữu chẳng hữu mới chính là Chân Không. Cái không của Chân Không nào phải là ngoan không, cũng chẳng phải là Đoạn Diệt Không. Chân Không chẳng không chính là Diệu Hữu!
Vì thế, nào ngại chấp trước, chỉ sợ chấp trước chẳng chuyên; bởi lẽ, ngũ dục, lục trần đã là tập khí từ vô thỉ! Đấy chính là dùng tịnh chấp để đối trị vọng chấp.
Những câu “hoặc một ngày... hoặc bảy ngày” hàm nghĩa giả định. Nói từ một ngày cho đến bảy ngày chỉ là tạm ấn định một thời gian để dốc sức hạ thủ công phu trì niệm; mà cũng là ngụ ý: công phu Niệm Phật thật dễ thành tựu. Chúng sanh căn cơ khác nhau, nghiệp chướng cạn sâu có khác. Có người niệm Phật
từ một đến bảy ngày liền được Nhất Tâm Bất Loạn. Đương nhiên có người phải niệm nhiều lần bảy ngày, hoặc bốn mươi chín ngày, hoặc bốn mươi chín tháng, bốn mươi chín năm, thậm chí cả đời niệm Phật, cũng chưa đạt được Nhất Tâm Bất Loạn.
Con số “từ một đến bảy ngày” đó chỉ là nói đại khái, để hành giả định kỳ hạn chuyên tu, ngõ hầu đạt được Nhất Tâm. Chẳng hạn, kinh Vô Lượng Thọ lấy 10 ngày chuyên niệm làm hạn. Kinh Cổ Âm Thanh Vương cũng bảo mười ngày mười đêm chuyên trì niệm, trừ bỏ tán loạn. Kinh Ban Châu Tam Muội lại lấy bốn mươi chín ngày làm hạn, thường đi, thường đứng, chuyên niệm Phật. Kinh Văn Thù Bát Nhã cũng lấy bốn mươi chín ngày thường ngồi hướng về Tây, chuyên niệm Phật để cầu đắc Tam Muội. Đức Di Đà đã nguyện: “Nhất tâm hệ niệm đến ta, tuy chỉ trong vòng một ngày một đêm chẳng đoạn, ắt sẽ được sanh trong cõi ta”. Như vậy, thời gian dài hay ngắn chẳng thành vấn đề. Quan trọng là người niệm Phật có giữ được tâm niệm Phật liên tục chẳng gián đoạn hay không.
“Nhất tâm bất loạn”: Bốn chữ này chính là yếu chỉ của toàn bộ kinh, mà cũng là cứu cánh của toàn bộ công phu niệm Phật. Nói rộng ra: bốn chữ này chính là cốt tủy của toàn bộ Đại Tạng Kinh, là chỗ tu chứng của mọi pháp môn, là điều xứng tánh cực đàm của toàn bộ giáo thuyết nhà Phật.
“Nhất tâm” là không có gì xen tạp khiến tâm bị gián đoạn. “Bất loạn” là chuyên chú, không bị tản mác. Hiểu một cách đơn giản, sơ lược: Phàm phu suốt ngày lăng xăng với những chuyện bên ngoài, những vọng tưởng bên trong, gặp cảnh nào duyên theo cảnh đó, tâm vọng động liên tục. Nhất Tâm Bất Loạn là tâm chỉ riêng chuyên chú nơi danh hiệu Phật, không còn tưởng đến gì khác. Dù làm mọi chuyện gì, uống, ăn, làm lụng, ngủ nghỉ, trong tâm không rời câu Phật hiệu. Hiểu như vậy mới là đạt Nhất Tâm Bất Loạn về mặt Sự.
Nếu thấu hiểu, chứng nhập được diệu chỉ “ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”, tâm lẫn Phật gộp thành một phiến, tâm vắng lặng như mặt nước, như gương sáng, chiếu soi hết thảy, nhưng chẳng bị hết thảy lay động, thì đã đạt Nhất Tâm Bất Loạn về mặt Lý.
Đạt được nhất tâm bất loạn là đã chứng Niệm Phật Tam Muội, quyết định được vãng sanh vô ngại, nào khác gì với cái gọi là “minh tâm kiến tánh” của nhà Thiền ư? Cần phải nhớ rằng người thật sự minh đạt đạo lý Nhất Tâm sẽ chẳng chấp lý phế sự. Trái lại, càng thêm dũng mãnh trì danh chẳng ngơi. Bởi lẽ toàn Sự tức là Lý, toàn Lý tức là Sự.
Hỏi: Kinh văn chỉ nói từ một ngày đến bảy ngày liền đạt nhất tâm bất loạn, nhưng có người tu hành cả mấy tháng, mấy năm, cho đến trọn đời vẫn không đạt được nhất tâm bất loạn là vì sao?
Đáp: Có ba nguyên nhân:
- Tội nghiệp sâu nặng.
- Niệm lực chưa đủ, lại tu trì chẳng chuyên.
- Niệm chẳng đúng như pháp, tâm niệm Phật chưa thật sự khẩn thiết, tín tâm chưa sâu chắc. Theo Ngài Đạo Nguyên, niệm Phật chín trăm chín mươi chín tiếng rồi, nếu một niệm nghĩ tưởng đến chuyện gì khác ngoài Phật hiệu thì lần chuỗi niệm lại từ đầu, không tính những niệm trước. Có như vậy tâm mới chuyên nhất được.
Tâm người niệm Phật hay bị tán loạn phần nhiều là do những điều mình thấy nghe gây chướng ngại. Nếu biết tu tập sao cho trong bất cứ hoàn cảnh nào đều niệm Phật được thì tâm sẽ chẳng khởi lên vọng niệm, sẽ mau đạt được nhất tâm. Nếu một Phật thất chưa thành tựu thì hai, ba thất cho đến trọn đời
dũng mãnh niệm Phật, lo gì rồi sẽ chẳng thành tựu “nhất tâm bất loạn”.
Tuy thế, Đại Sư Luyến Tây Cổ Côn Ngọc Phong còn cho rằng cứ chuyên tâm niệm Phật là đủ, dẫu tâm tán loạn cũng được, miễn sao thời thời khắc khắc đừng quên câu niệm Phật, chẳng cần vội mong cầu “nhất tâm bất loạn” làm gì. Càng mong cầu sẽ khiến tâm thêm chao động, càng khó đạt Nhất Tâm. Ngài dạy: “Nếu thường niệm Phật lâu ngày thì ắt sẽ biết là nhất tâm bất loạn quyết định là do tán tâm niệm Phật mà thành, lẽ đâu lại coi là chuyện tầm thường! Nếu đã chẳng tán tâm niệm Phật từ trước thì làm sao thành tựu nổi nhất tâm? Nếu ai quả thực có thể thường tán tâm niệm Phật lâu ngày chẳng lui sụt thì sẽ tự nhiên thành tựu nhất tâm!”
Ngài còn cho rằng căn bịnh chung của người niệm Phật là vừa niệm Phật vừa cố trừ vọng tưởng. Tâm niệm xáo động nên càng khó nhất tâm. Phải quán sát: “Hoàn toàn không vọng tưởng thì chỉ có mỗi một mình Như Lai đạt được, hễ còn là chúng sanh thì còn có vọng tưởng. Mặc cho vọng tưởng lao xao, cứ chuyên tâm niệm Phật thì tự nhiên vọng tưởng lặng dần, chẳng cần diệt mà vọng tưởng tự diệt. Nếu không biến câu niệm Phật thành tập quán, làm sao lúc lâm chung nhớ Phật, niệm Phật cho được?”
Đại Trí Độ Luận dùng ba tâm để phán định Nhất Tâm Bất Loạn:
1) Trực tâm: chánh niệm Chân Như, chẳng lạc vào hữu niệm lẫn vô niệm, chẳng chấp vào hai bên (có và không), hoàn toàn quy về Trung Đạo. Đấy chính là Nhất Tâm Bất Loạn.
2) Thâm tâm: ưa thích tích tập các thiện pháp, tu trọn lục độ, đầy đủ vạn hạnh. Như kinh Na Tiên đã nói:“Trong các điều thiện, chỉ có mỗi mình Nhất Tâm thật là bậc nhất. Các điều
thiện tùy thuận Nhất Tâm ấy”.Đấy chính là Nhất Tâm Bất Loạn.
3) Đại bi tâm: rộng độ chúng sanh, độ được chúng sanh nơi tự tánh của chính mình. Đấy chính là Nhất Tâm Bất Loạn.
Căn cứ trên ba tâm ấy, chúng ta thấy rằng: Người niệm Phật nếu đã có thể chánh niệm Chân Như, tu lục độ, vạn hạnh, rộng độ chúng sanh, thì đấy chính là chân nhân để thành tựu vãng sanh, đương nhiên lâm chung sẽ cảm được Phật và thánh chúng đến tiếp dẫn.
Nếu luận về Sự Lý thì có bốn loại chấp trì danh hiệu Phật:
a) Sự Trì Danh Niệm Phật:
Chẳng luận là tăng hay tục, là trời hay người, nếu có thể xem nhẹ danh lợi, ngũ dục, buông bỏ thân tâm, lại đoạn trừ được tập khí, nghĩ đến những nỗi khổ của cõi Sa Bà, hâm mộ những sự vui trong cõi Cực Lạc, miệng niệm tai nghe sáu chữ hồng danh Di Đà, chữ chữ phân minh, câu câu nối tiếp, ngoài tuyệt tà cảnh, trong tâm dứt những suy tưởng. Đi cũng niệm như thế, đứng, ngồi, nằm cũng niệm như thế. Nghĩa là trong cả bốn oai nghi, trong mọi hoàn cảnh chẳng lìa câu niệm thì gọi là Sự Trì Danh Niệm Phật.
Thành tựu cách tu này thì chẳng bị Kiến Hoặc, Tư Hoặc nhiễu loạn, lâm chung cảm Ứng Thân Phật đến tiếp dẫn vãng sanh về Phàm Thánh Đồng Cư Độ.
b) Lý Trì Danh Niệm Phật:
Cách này dung thông cả Thiền lẫn Quán. Trước hết, phải nhận thức rõ: một niệm tâm tánh tịch chiếu thường hằng, tịch mà thường chiếu (vô lượng quang), chiếu mà thường tịch (vô lượng thọ). Dùng quang - thọ làm Thể để khởi tín nguyện trì
danh, nhất tâm xưng niệm, động tịnh bất nhị thì gọi là Lý Trì Danh Niệm Phật.
Tu cách này thành tựu sẽ phá được Trần Sa vô minh, cảm được Báo Thân Phật đến tiếp dẫn vãng sanh Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ.
c) Sự Lý Bất Nhị Trì Danh Niệm Phật:
Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng giống nhau: thuận tiện cũng được, bất tiện cũng xong, trong khi Thiền Quán cũng tốt, ở chốn ồn náo cũng được, chẳng bị chân lẫn vọng làm trở ngại. Hiểu rõ toàn vọng là chân, tâm, Phật, chúng sanh vô sai biệt. Niệm niệm Di Đà, tiếng tiếng Cực Lạc. Làm được như vậy chính là Sự Lý Bất Nhị Trì Danh Niệm Phật.
Tu cách này thành tựu sẽ phá được căn bản vô minh, cảm được Pháp Thân Phật hiện tiền, sanh trong Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
d) Tùy Ý Trì Danh Niệm Phật:
Chẳng câu nệ hoàn cảnh nào, cứ mặc kệ tất cả để niệm Phật. Niệm đến mức nhất tâm bất loạn, đến lúc lâm chung liền được tùy ý vãng sanh, hoa nở gặp Phật. Đấy là Tùy Ý Trì Danh Niệm Phật.
Tu cách này thành tựu thì tùy công phu sâu hay cạn, sẽ tùy ý cảm được Phật hiện tiền, sanh về Cực Lạc.
Luận về phương cách trì danh niệm Phật thì lại có mười loại:
1) Ngồi ngay ngắn trì danh: Lúc đi đứng nằm, ngồi, thân tâm đoan chánh. Hễ thân ngay thẳng tâm ắt sẽ chánh trực. Tâm chánh trực thì vọng niệm khó sanh, tự nhiên thanh tịnh, mau đắc Nhất Tâm Bất Loạn.
2) Lần chuỗi niệm Phật: niệm Phật một tiếng, tay lần chuỗi một hạt, chớ để lầm loạn. Dùng chuỗi để bó buộc tâm, tự nhiên mau được thân tâm vắng lặng thanh tịnh.
3) Kim Cang Trì: Ở chỗ ồn ào, hoàn cảnh chẳng thuận lợi, thì chỉ động môi mép niệm. Đấy là Kim Cang Trì. Chẳng cần biết niệm nhiều hay ít, cốt sao chữ chữ phân minh, Phật hiệu từ trong tâm tuôn ra. Làm vậy sẽ trừ được hết thảy vọng niệm, mau đạt Niệm Phật Tam Muội.
4) Lớn tiếng niệm Phật: khi vọng tưởng nổi lên, hoặc lúc thần chí hôn trầm, nên niệm Phật lớn tiếng để đánh thức, khôi phục tinh thần. Niệm đến khi tinh thần tỉnh táo, thì lại niệm nhỏ tiếng như cũ.
5) Niệm Phật nhỏ tiếng: lúc mệt mỏi, chỉ cần niệm sao cho riêng mình nghe được là đủ, niệm cho đến khi hết mệt mỏi, tinh thần phấn khởi trở lại thì có thể chuyển sang cách niệm Phật lớn tiếng.
6) Phép niệm điều hòa hơi thở: Lúc tịnh tọa, trước hết điều hòa hơi thở sao cho chẳng gấp, chẳng hoãn, dõi theo hơi thở ra vào, cứ mỗi hơi là một câu niệm Phật. Niệm đến lúc không còn thấy hơi thở lẫn câu niệm, thân tâm an vui, ngay khi ấy chính là cảnh giới Duy Tâm Tịnh Độ.
7) Lễ bái trì danh niệm Phật: Thân ngay ngắn hướng về Phật, vừa lễ vừa niệm, hoặc niệm xong, lễ một lễ. Hoặc lạy một lạy xong, niệm mấy câu lại lễ đều được. Nhân vì thân lễ Phật, miệng niệm Phật, ý nghĩ đến Phật nên ba nghiệp thanh tịnh, sáu căn thâu nhiếp. Cách này có hiệu lực rất lớn, rất dễ chứng đắc Niệm Phật Tam Muội.
8) Định kỳ trì danh: Tự hạn định thời gian để tạ tuyệt hết thảy mọi việc, thân tâm buông bỏ hết để chuyên chí niệm Phật.
Cách này thường gọi là “khắc kỳ thủ chứng” (định kỳ hạn để cầu được chứng đắc); rất mau được “nhất tâm bất loạn”.
9) Niệm Phật trong khi bệnh hoạn: Trong khi bệnh tật, luôn nghĩ mọi thứ cảm thọ trong Sa Bà đều là khổ; coi nhẹ sống chết, siêng năng niệm Phật, chỉ mong A Di Đà Phật mau đến tiếp dẫn. Đây chính là phương pháp tối hảo để tự khích lệ mình siêng gắng.
Trong quá khứ, có một vị Tăng mắc bệnh, đau đớn quá, cứ rên “ôi chao” một tiếng, lại niệm Phật một tiếng, ngày đêm chẳng ngớt xưng niệm. Quả nhiên cảm được Như Lai gia hộ, chẳng lâu sau liền lành bệnh, bèn bảo mọi người: “Tôi trong lúc đau bệnh, hễ đau liền rên ôi chao, đỡ đau liền niệm A Di Đà Phật. Giờ đây bệnh đã khỏi nhưng A Di Đà vẫn còn y nguyên, hai chữ ôi chao không biết đã đi đâu rồi!” Câu chuyện này có thể lấy làm gương cho những hành nhân Tịnh nghiệp vậy.
10) Trì danh bằng mười hơi: Cứ trong một hơi, tùy ý trì được mấy câu thì trì cho đến hết một hơi. Làm như vậy đến mười lần thì thôi. Cách này căn cứ theo ý nghĩa thập niệm vãng sanh trong bốn mươi tám nguyện của đấng Từ Phụ, dành cho những người quá bận rộn, không có thời gian rảnh rỗi nhiều để niệm Phật.
Hỏi: Lúc niệm Phật, bị nhiều tạp tưởng hôn trầm bức bách quá đỗi thì phải làm cách nào?
Đáp: Vọng tưởng chính là tập khí từ vô thỉ, muốn trừ vọng tưởng thì vọng tưởng càng tăng thêm. Khi vọng tưởng nổi lên, cứ cao tiếng niệm Phật khiến cho từng câu niệm lọt rõ ràng vào tai, chú tâm lắng nghe, dần dần tâm sẽ quy nhất.
Hỏi: Cầu thọ thì niệm Dược Sư, độ vong thì niệm Di Đà có được hay không?
Đáp: Niệm vị Phật nào cũng có công đức chẳng thể nghĩ bàn; nhưng nếu niệm như vậy, tâm vướng mắc vào chỗ phân biệt, so đo. A Di Đà chính là Vô Lượng Quang Thọ, nguyện lực khôn lường. Niệm một đức Phật đến triệt để thì hiện tại đã tăng phước thọ, lâm chung gởi chất nơi liên thai. Chứ nếu tâm còn so đo, tính toán, sẽ khó lòng niệm đến đắc lực được!
Chánh kinh:
Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền.
(Người ấy lúc mạng sắp dứt, A Di Đà Phật cùng các thánh chúng hiện ra trước mặt)
Giải:
Đoạn trước, Phật dạy diệu hạnh Trì Danh. Đoạn này, Phật thuyết minh quả báo thù thắng của diệu hạnh Trì Danh.
Chữ “kỳ nhân” chỉ người niệm Phật đã niệm đến mức nhất tâm bất loạn.
“Lâm mạng chung thời” là lúc khổ báo trong cõi Sa Bà sắp chấm dứt.
“Chư thánh chúng” là các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác trong cõi Cực Lạc.
Lúc lâm chung, cảm được Phật, Thánh đến tiếp dẫn hoàn toàn là cậy vào Tự Lực và Tha Lực cảm ứng đạo giao mà thành. Phàm nhân, lúc bình thời đã tạo những nghiệp thiện ác gì, lúc lâm chung, những cảnh thiện ác ấy đều cùng lúc hiện ra trước mặt. Tùy theo nghiệp lực sẽ sanh thiên hay đọa lạc. Kẻ tạo ngũ nghịch, thập ác, ắt tướng Địa Ngục hiện tiền. Kẻ keo, tham, ganh ghét, cảm tướng Ngạ Quỷ hiện. Kẻ ngu si ám muội cảm tướng súc sanh hiển hiện.
Nếu cả một đời niệm Phật, thì do tịnh nghiệp cảm thành, đương nhiên tịnh cảnh sẽ hiện ra; vì thế, Phật, Thánh tự nhiên hiển hiện; đúng như kinh Lăng Nghiêm đã dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai, nhất định thấy Phật”. Đấy chính là sức tự niệm của chính mình.
Phật Di Đà lại có lời nguyện: “Lúc ta thành Phật, chư thiên nhân dân trong mười phương vô ương số thế giới có ai phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi ta, thì lúc lâm chung, ta cùng đại chúng hiện trước mặt người ấy”. Đây chính là Tha Lực, tức là Nguyện Lực của Phật A Di Đà.
Hỏi: Phật thân vốn chẳng đến, chẳng đi, sao lại bảo là hiện ra trước mặt?
Đáp: Pháp Thân vốn không đến, không đi, nhưng Báo Thân, Ứng Thân vì độ sanh nên phương tiện tùy cơ cảm hiện.
Hỏi: Chúng sanh niệm Phật trong mười phương thế giới rất nhiều, chỉ có mỗi một đức Phật A Di Đà làm sao có thể hiện ra khắp mọi nơi được?
Đáp: Như một vầng trăng trên không hiện bóng trong muôn chỗ có nước. Tâm người niệm Phật trong veo như nước thì Di Đà và Thánh Chúng đều hiện bóng trong ấy. Điều này cũng chẳng ngoài sức cảm ứng đạo giao của Tự Lực và Tha Lực vậy.
Hỏi: Cứ như nhà Thiền thường bảo: “Phàm hết thảy những hình tướng ta thấy đều là hư vọng, hoặc là ma đến nhiễu loạn đạo tâm”. Vậy lấy gì bảo đảm Phật và thánh chúng hiện ra khi người niệm Phật lâm chung đó chẳng phải là ma?
Đáp: Nên biết rằng Niệm Phật là pháp môn vô cùng đặc biệt. Niệm Phật thấy Phật là chuyện nhân quả xứng hợp. Xưa Ngài Huệ Viễn chuyên tu Tịnh nghiệp, ba lượt thấy Thánh tượng, lâm chung thấy Phật tiếp dẫn. Tâm đã chân thành niệm Phật, lại nương Phật lực, bổn nguyện lực, nhiếp thọ lực tiếp dẫn, chở
che, ắt chẳng có ma sự! Giả sử hành giả do túc nghiệp sâu nặng, hoặc là chẳng khéo dụng tâm, nên vướng phải ma sự, làm sao phân biệt được? Hãy dùng huệ tâm quán sát, soi chiếu hết thảy cảnh giới vốn là không tịch. Nếu là ma hiện thì đương nhiên chúng sẽ bị ẩn mất.
Xin đại chúng hãy nhớ: “Phù sanh như mộng, huyễn chất chẳng bền, vô thường nhanh chóng, sanh tử việc lớn”, hãy gấp chí tâm niệm Phật để dự bị lúc lâm chung khỏi bị tán loạn.
Lại có kẻ bảo: “Nếu đúng là như thế, chỉ cần lúc lâm chung, phát sanh thiện tâm niệm Phật thì liền được vãng sanh Tây Phương là xong. Cần gì lúc thường cứ phải khéo dụng công niệm Phật!”
Đáp: Cần phải nhớ rõ một điều: có được một niệm lâm chung toàn là nhờ lúc bình thường chí tâm niệm Phật. Tu trì đến mức thuần thục thì lâm chung, chánh niệm mới hiển hiện rỡ ràng, mới có thể phát khởi thiện niệm. Nếu không, bệnh tật hôn mê, đau đớn bức bách, lại thêm vợ đèo con níu, quyến thuộc lăng xăng, chẳng thể dứt tình ân ái, hoặc bị những ác nghiệp từ trước lôi kéo, nhiễu loạn khiến thần chí mê loạn. Lúc bấy giờ có muốn phát khởi một thiện niệm hay niệm Phật một tiếng cũng không xong.
Hơn nữa, mạng người yểu thọ, dễ ai biết trước, hoặc bị tai nạn chết ngang xương, có kịp phát sanh thiện niệm nữa không? Đến giây phút lâm chung quan yếu ấy, người tu hành tinh tấn còn sợ chẳng thể làm chủ, huống hồ là kẻ chẳng tu ư?
Vì vậy, lúc bình thời tu trì niệm Phật chính là để dự bị cho lúc lâm chung. Cứ bảo đợi đến lúc lâm chung mới niệm thì thật là mình đã lầm lẫn lại còn khiến người lầm lạc theo, tai hại chẳng nhỏ, hãy nên cẩn thận.
Hỏi: Nhà Thiền lìa tâm ý thức để tham chiếu, tham thấu tới khi cha mẹ còn chưa sanh ra, còn người niệm Phật lại hoặc là trì danh, hoặc là quán tưởng, chẳng hề lìa tướng là vì cớ nào?
Đáp: Đối với nhà Thiền, dĩ nhiên phải “dù một tướng cũng chẳng lập, chẳng vướng một trần, hễ còn mảy may ý niệm ắt thành nghiệp nhân sanh tử”. Người niệm Phật trong thì dựa vào Nhất Tâm của chính mình, ngoài thì dựa vào Di Đà nguyện lực, cốt sao chấp trì danh hiệu chẳng quên, chẳng khuyết, chắc chắn như Thái Sơn, thì gọi là Chánh Niệm. Nếu ai tu quán tưởng niệm Phật, thì phải theo đúng như lời dạy trong Quán kinh, chuyên chú tâm vào một cảnh, rành rẽ, chẳng sai chạy. Như vậy mới là Chánh Quán. Cả hai việc ấy đều có thể hoàn thành ngay trong một đời này.
Chánh kinh:
Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.
(Người ấy lúc mạng chung, tâm chẳng điên đảo, liền được sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà).
Giải:
Chữ “thị nhân” chỉ người niệm Phật.
“Chung thời” là lúc khí ấm trên thân đã hết, thức thần sắp ly khai xác thân.
“Tâm bất điên đảo” là vì công phu niệm Phật sâu dày, luôn nghĩ đến vô thường chẳng có kỳ hạn, thường vâng giữ một câu Phật hiệu khăng khăng, niệm đến mức nhất tâm bất loạn. Thế nên tâm linh minh mẫn, chánh niệm hiện tiền, chẳng bị điên đảo.
Theo Duy Thức học, khi người sắp xả mạng, thân thể lạnh dần, hơi nóng thoát ra từ đâu chính là thức thứ tám thoát ra từ đó. Bởi vậy, mới có thuyết: Dựa theo chỗ nào bị lạnh sau cùng, có thể đoán biết người chết được sanh về đâu. Chẳng hạn, đảnh đầu lạnh sau cùng sẽ sanh về thiên giới. Từ đó, sanh ra việc khám nghiệm hơi ấm rộn ràng khiến người chết nhiều khi bị chạm xúc, sanh tâm sân hận, chướng ngại việc vãng sanh. Vì thế, chư tổ đức Tịnh Độ cực lực cấm ngặt việc khám nghiệm hơi nóng trên thân người chết.
“Tức đắc vãng sanh”: là nói vãng sanh rất lẹ, chẳng cần phải trải qua giai đoạn Trung Ấm thân, trong vòng một niệm liền sanh về cõi Cực Lạc. Quán kinh bảo là:“Trong khoảng khảy ngón tay, sanh trong cõi Cực Lạc”.
Hỏi: Chúng sanh ác nghiệp vô lượng, làm sao có thể chỉ niệm Phật trong một đời, tội chướng liều tiêu trừ, được vãng sanh?
Đáp: Theo Tịnh Độ Thập Nghi Luận, do ba điều nên có thể đối địch ác nghiệp:
- Một là tại tâm: Lúc tạo tội dùng tâm hư vọng, lúc niệm Phật dùng tâm chân thực. Dùng thực trừ hư dĩ nhiên là được, như bóng tối ngàn năm, chẳng thể đương nổi một tia sáng mặt trời.
- Hai là tại cảnh: Duyên tạo tội thuộc trong cảnh giới điên đảo. Duyên niệm Phật là công đức thắng diệu. Dùng chân khử ngụy, có gì là không được.
- Ba là tại tịnh: Tạo tội là ý nhơ nhiễm, niệm Phật là tâm thanh tịnh. Tịnh thù thắng, nhiễm hạ liệt, nhiễm sánh sao nổi với tịnh; khác nào đứa trẻ con mượn sức gươm bén chặt đứt sợi thừng to dài cả ngàn trượng; một đốm lửa tí ti đốt tiêu vạn bó củi. Quán kinh nói: “Niệm Phật một tiếng trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”.
Hơn nữa, nhân nào quả nấy, tơ hào chẳng sai. Người niệm Phật dùng Phật hiệu để lắng trong cái tâm hôn mê, điên đảo, vọng tưởng bộn bề của mình, cố giữ cho tịnh niệm liên tục như gà ấp trứng, như mèo rình chuột, không để lúc nào sơ hở, thì tự nhiên cái tâm lắng trong. Tâm đã lắng trong thì tâm quang sẽ phát khởi. Tâm ta biến thành một phiến quang minh, sẽ phản chiếu được quang minh từ nơi tâm địa của Phật A Di Đà. Ánh sáng giao nhau, khác nào hai thếp đèn ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, sáng càng thêm sáng.
Người niệm Phật đến mức Nhất Tâm Bất Loạn thì tất nhiên tâm địa là một phiến quang minh, đồng thể với tâm địa của Phật A Di Đà, tự nhiên A Di Đà và thánh chúng tự hiển hiện trong tâm người ấy. Tâm tâm niệm niệm chỉ nghĩ đến Phật A Di Đà; mắt thấy, tai nghe, không gì là chẳng chuyên chú nơi Phật A Di Đà.
Thêm nữa, lúc lâm chung, do tâm luôn chuyên chú nơi tịnh cảnh, nơi Phật, không còn vọng tưởng tham luyến, nhất chí tưởng niệm vãng sanh Tây Phương. Đó là tự lực mạnh mẽ, đánh bạt mọi ác nghiệp khác. Lại thêm Phật và thánh chúng hiện tiền, Phật lực tiếp dẫn, tạo thành sức hỗ trợ thù thắng, thì đương nhiên sẽ được vãng sanh. Cái nhân đã thanh tịnh thì dĩ nhiên cái quả cũng thanh tịnh vậy.
Hỏi: Như trên đã nói: “Niệm Phật, lễ tụng trừ được tội chướng”, nhưng sao lại có những kẻ thiện tín chăm chỉ lễ niệm vẫn gặp phải tai ương, hoạn nạn?
Đáp: Đó là do nghiệp chướng sâu nặng từ nhiều kiếp, hoặc do lễ niệm không chuyên chí, tạp niệm niệm Phật nên không đạt được tác dụng thù thắng vậy. Đấy là do quả do nhân tạo, như bóng theo hình, chẳng sai sảy mảy may. Di Lặc Bồ Tát nói: “Trong khoảng khảy ngón tay có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Mỗi niệm thành hình, thiện niệm thành hình ảnh tốt, ác niệm tạo thành cảnh tượng xấu, chẳng sai tơ tóc. Con người
suốt ngày suy nghĩ tạp nhạp mà vẫn chẳng hay biết, đến lúc muốn lắng đọng ý niệm, mớihay mình có nhiều ý niệm”.
Từ phàm tiến lên thánh, ý niệm trở nên càng tinh tế hơn. Ngay như Di Lặc Bồ Tát vẫn còn có chút ý tưởng vi tế, huống hồ bọn phàm phu chúng ta? Một tâm niệm tí ti vẫn bao trọn khắp pháp giới. Vì thế, một thiện niệm có công năng rất lớn, một ác niệm cũng tạo tội khó thể nghĩ bàn! Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện dạy: “Khởi tâm động niệm, không chi là chẳng phải tội”. Huống hồ từ vô thỉ đến nay, bao tội ác đã gây tạo có thể tính lường nổi ư?
Nay do túc căn, tuy niệm Phật, lễ tụng, nhưng trí lực kém cỏi, ý niệm bất định, khác nào ngọn đèn thắp giữa lúc sương mù, lại thêm bị gió lùa, tỏa sáng được mấy? Ví dù có chút đắc lực, lại do tình chấp nặng nề, khiến cho ma sự dễ bề nhiễu loạn.
Vì lẽ đó, niệm Phật phải chuyên chú nhất cảnh, chớ để tạp niệm xen tạp. Dù có thấy tướng hảo, quang minh của Phật cũng đừng hoan hỷ, cứ câu câu giữ vững, tâm tâm vắng lặng thì nghiệp chướng sẽ tự tan. Người đời nay dụng công một chút, thấy được chút hảo cảnh, đã vội khoe khoang rầm rĩ, tránh sao khỏi bị ma dựa?
Hỏi: Tu Thiền cố nhiên gặp nhiều ma sự, còn người niệm Phật làm thế nào để khỏi bị ma nhiễu?
Đáp: Thiền giả dùng quán trí đối chọi vọng tưởng, tất nhiên ngũ ấm ma tà trong tám thức bị kích động, nên hiện ra đủ các tướng kỳ lạ. Người trí lực kém, lầm sanh vui mừng, chấp trước, ắt vướng phải ma sự. Người niệm Phật niệm niệm quy nhất sẽ có quang minh chiếu xa đến bốn mươi dặm, ma tà tránh xa. Nếu thấy thánh tướng cũng chẳng sanh lòng hoan hỷ, khoe khoang ầm ĩ, chỉ càng thêm siêng gắng công phu, sẽ quyết định sanh Tây.
Nếu vì duyên sự bức bách như bệnh tật không thể dùng miệng niệm, mà dùng tai chú tâm lắng nghe hay vô tâm niệm Phật vẫn được lợi lạc. Cuối đời Thanh, bước sang thời Dân Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn ở Nam Kinh là một người hoằng dương Phật giáo rất tích cực tại Hoa Nam. Tuy giảng nhiều kinh điển khác nhau, ông vẫn chuyên tâm Tịnh Độ và thường niệm Phật rất tinh chuyên. Con chim bát ca (gần giống con nhồng) của ông nuôi, mỗi ngày thường nghe chủ niệm Phật, cũng bắt chước niệm theo. Dần dà thành thói quen, cứ thấy chủ là nó niệm Phật. Mấy năm sau chim chết, cụ Dương đem chôn bên nhà, đắp thành nấm mộ nhỏ. Mấy hôm sau, từ mộ chim mọc lên một cành sen. Tò mò, cụ đào lên thì thấy cành sen ấy mọc ra từ mỏ chim. Chuyện lạ này được đồn khắp hai xứ Nam Kinh, Thượng Hải. Đủ thấy dẫu là chúng sanh đang thọ khổ trong tam ác đạo vẫn có khả năng niệm Phật.
Câu Phật hiệu còn có khả năng cứu độ chúng sanh trong tam ác đạo: Đời Tống, trong khoảng niên hiệu Thuần Hy, ông Ma Thành Trung kết bạn rất thân với hòa thượng Thọ Phổ ở đất Kinh Nam, thường qua lại đàm luận đạo lý với nhau. Một lần đến chơi, trong khi chờ đợi chủ nhân, Sư thấy có con vẹt trong lồng treo bên phòng khách. Tự nhiên, vẹt kêu lên: “Ba năm nhốt trong lồng, vẫn chưa được giải thoát, xin Hòa Thượng từ bi”. Sư đáp: “Tiểu súc! Ai bảo mày hay nói làm chi?” Chim gục đầu như hiểu, từ đó, không nói nữa. Sư bèn khuyên ông Ma thả chim đi.
Khi về đến chùa, Sư thấy vẹt bay theo, kêu ríu rít như cảm tạ. Sư dạy: “Ngươi hãy lánh thân trong rừng sâu để tránh lưới rập”. Con vẹt không chịu bay đi, cứ ngước nhìn Sư như cầu dạy bảo. Sư niệm: “A Di Đà Phật!” Tám năm sau, Hòa Thượng vân du, đến một khu rừng núi nọ, có một đứa bé đến lễ tạ, thưa: “Xưa kia con là con vẹt trong nhà họ Ma, nay đã được sanh làm con trai nhà họ Tiêu ở Tây Hương”.
Đời Tấn, ở Lĩnh Nam có một vị thầy đồ nuôi một con vẹt trắng. Mỗi sáng, thầy niệm thánh hiệu Quán Âm và tụng chú Đại Bi. Mỗi khi thầy niệm, con vẹt cũng niệm theo. Một bữa nọ, con vẹt chợt bảo: “Tôi từ Tây Phương đến, nay lại về Tây phương”. Nói xong, cúi đầu, xếp cánh chết ngay.
Xét về Lý, “nhất tâm bất loạn” biểu thị tự tánh linh minh, “tâm bất điên đảo” biểu thị tự tánh chẳng mê muội.
3.3. Trùng kết khuyến (lại kết ý và khuyên răn)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn. Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
(Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi này, nên nói ra lời ấy. Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy thì hãy nên phát nguyện sanh về cõi nước ấy)
Giải:
Trong câu “Ngã kiến thị lợi”, Ngã là lời Như Lai tự xưng; “kiến” là Đức Phật dùng Phật nhãn quán sát tường tận, chữ “thị lợi” (điều lợi này) chỉ diệu quả được Phật tiếp dẫn vãng sanh như trên đã nói: một phen được sanh trong cõi Cực Lạc sẽ viên chứng ba thứ Bất Thoái, lại cùng sum họp với các vị thượng thiện nhân. Bởi thế, đức Thế Tôn mới nói “ngã kiến thị lợi” (ta thấy điều lợi này).
Trong suốt hơn bốn mươi năm hóa độ, đức Thích Tôn giảng kinh hơn ba trăm hội, giảng ra vô lượng pháp môn, nhưng phần lớn những pháp môn ấy đều là tự lực, phải đoạn sạch Hoặc nghiệp mới có thể liễu thoát sanh tử. Chỉ mỗi một mình pháp môn Tịnh Độ này, chẳng những độ trọn ba căn, lợi độn cùng tu,
lại khế lý, khế cơ, chí viên, chí đốn, dung thông Tự Lực lẫn Tha Lực, đới nghiệp vãng sanh, thật không còn pháp môn nào tạo được lợi ích lớn lao hơn thế!
Tu các pháp môn khác, kẻ cuồng huệ vọng đàm lý Không, kẻ cuồng tu chấp tướng mê tâm. Đấy đều là do ngũ trược chướng nặng, hoặc nghiệp hừng hực, dẫu muốn tu trì cũng khó lòng thành tựu. Dù đã chứng Sơ Quả, vẫn còn mê khi xuất thai, Bồ Tát vẫn còn mê khi cách ấm (chuyển thân này sang thân khác). Chỉ mình pháp môn Niệm Phật đây, một khi được vãng sanh, chẳng còn sợ những chướng ngại như thế nữa!
“Cố thuyết” (cho nên nói) là chữ dùng để tiếp ý câu trên. Đức Phật xét rõ tuy pháp môn Niệm Phật rất khó tin, nhưng vẫn có người tin nhận được, cho nên không ai thỉnh vấn, Ngài vẫn tự nói.
Chữ “thử ngôn” (lời này) chỉ giáo pháp Niệm Phật.
Câu “văn thị thuyết giả” (nghe nói như vậy) hàm ý: pháp môn Niệm Phật thù thắng mầu nhiệm như vậy, đừng để như gió thoảng qua tai, mà phải nên phát nguyện cầu sanh mới là đúng lý.
Hai chữ “ưng đương” (phải nên) thể hiện tấm lòng tha thiết, khẩn khoản của đức Thế Tôn. Ngài bao lượt đinh ninh dặn dò, khuyên lơn những mong người nghe mau phát tâm nguyện cầu vãng sanh, đừng bỏ lỡ đại lợi ích thù thắng này.
“Phát nguyện”: Nguyện dẫn dắt Hạnh, như phải có người cầm cương đánh xe thì mới đến được mục tiêu. Nếu không có Nguyện dẫn dắt Hạnh, làm sao sanh về cõi Cực Lạc?
Hỏi: Thập phương chư Phật đều có bi nguyện, lẽ đâu chỉ mình Phật Di Đà; vì sao chỉ khuyên phát nguyện vãng sanh cõi ấy?
Đáp: Chư Phật độ sanh hễ có duyên thì ứng, vô duyên chẳng cảm. Chư Phật tuy đều sẵn lòng bi, nhưng Phật chỉ có thể hóa độ chúng sanh hữu duyên. Kẻ vô duyên bị nghiệp chướng của chính họ ngăn che, nên chẳng độ được. Do Di Đà đại nguyện có túc duyên sâu sa đối với chúng sanh trong đời ác trược, nên bất cứ kẻ nào cũng đều được Ngài tiếp độ. Vì lẽ ấy, chư Phật, chư Bồ Tát, chư cổ đức đều cực lực khuyến hóa phải nên phát nguyện sanh về cõi Ngài.
Hỏi: Tổ Linh Phong bảo nếu không có tín, nguyện, chỉ chấp trì danh hiệu, dù có niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn cũng chẳng được vãng sanh. Nếu đã chẳng tin có cõi Cực Lạc, lại chẳng thèm phát nguyện cầu sanh, lẽ đâu cam tâm niệm Phật cho được?
Đáp: Những kẻ ấy được nghe người khác dạy rằng: Niệm Phật có công đức rất lớn, chẳng những chỉ kiếp sau được hưởng quả báo phú quý, lại còn có thể sanh thiên hưởng phước. Do họ ham đắm những phước báo hữu lậu như thế nên khẩn thiết niệm Phật, đem vạn đức hồng danh của Phật quy hướng nơi phước báo nhỏ nhoi cõi trời. Thật đáng tiếc thay!
Ở Trung Hoa còn có tà thuyết: cứ niệm Phật một tiếng, trong ngân hàng âm phủ sẽ có thêm một đồng. Thế nên lắm kẻ chăm chỉ mỗi ngày niệm Phật ba vạn tiếng để dành sẵn tiền cõi âm cho thân sau. Chẳng niệm Phật để cầu xuất thế, lại chỉ niệm Phật để cầu chết đi biến thành một con quỷ bạc tiền rủng rỉnh, chẳng đáng đau xót lắm ư?
Đến đây phần Chánh Tông đã xong, phần kế tiếp chính là phần Lưu Thông với mục đích làm cho người nghe tin nhận, phụng hành, khiến cho pháp môn Niệm Phật được lưu truyền bất tuyệt.