Đại Tập 57 - Bộ Kinh Tập IV - Số 490->584
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền » Bộ Kinh Tập, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 73 chương/phẩm, dày 1046 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.
Lát sau, bà thấy một cái ao to, trong mọc nhiều hoa sen, to nhỏ chen lẫn, tươi, héo khác nhau. Phu nhân hỏi lý do, cô tỳ nữ đáp: “Người trong thế gian vừa mới khởi ý niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì trong ao này mọc lên một cành hoa sen. Do siêng lười khác nhau nên hoa cũng tươi héo khác biệt”. Trong hoa có một người mặc triều phục ngồi, mão báu, chuỗi ngọc trang hoàng trên thân. Phu nhân hỏi ai đấy? Cô hầu đáp: “Ông Dương Kiệt”. Bà lại thấy một người khác cũng mặc triều phục ngồi trên hoa, liền hỏi, cô hầu bảo đó là Mã Khư. Hai vị này đều cùng tu Tịnh nghiệp trước đây.
Phu nhân hỏi: “Ta sẽ được sanh về chỗ nào?” Cô hầu liền dẫn đi tiếp vài dặm, thấy một đài hoa, vàng ngọc chen nhau tỏa sáng, quang minh chói ngời. Cô hầu bảo: “Đây là chỗ phu nhân sẽ sanh về. Đây chính là kim đài thượng phẩm thượng sanh vậy”. Phu nhân chợt thức dậy, buồn vui lẫn lộn. Sinh nhật năm ấy, bà dậy sớm, khơi lư đốt hương, đứng nhìn về phía Quán Âm Các. Quyến thuộc bước đến toan chúc thọ, mới hay bà đã đứng mà hóa rồi.
3. KHUYẾN HÀNH
3.1. Chư Phật chuyển tán khuyến (các đức Phật khen ngợi lẫn nhau và khuyến hóa)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công đức.
(Xá Lợi Phất! Như ta nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật).
Giải:
Ở đây, chữ Ngã là tiếng đức Thích Ca dùng để tự xưng. Theo pháp sư Bân Tông, chữ “chư Phật” ở đây nên hiểu là chỉ nói riêng về đức Phật A Di Đà, vì trong bản Đường dịch của kinh này (với tựa đề Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh), Ngài Huyền Trang viết rõ: “Như ngã kim giả tán thán A Di Đà bất khả tư nghị công đức” (Như ta nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà).
Hiểu sâu hơn, đoạn kinh này có thể hiểu là đức Phật Thích Ca xưng tán công đức của chư Phật hay chỉ xưng tán mình công đức của Phật A Di Đà đều được. Bởi lẽ, thập phương chư Như Lai cùng một Pháp Thân, một tâm, một trí huệ, nên xưng tán chư Phật tức là xưng tán Phật A Di Đà; xưng tán mỗi một Đức Phật A Di Đà cũng là xưng tán tất cả chư Phật.
Trong câu “bất khả tư nghị công đức”, chữ “công đức” ám chỉ các công đức trang nghiêm của y báo, chánh báo cõi Cực Lạc. Trước chữ “công đức” lại thêm chữ “bất khả tư nghị” hàm ý: chẳng thể dùng bất cứ ngôn từ nào để diễn tả, phân biệt, giải thích được nổi. Cũng chẳng thể dùng tâm suy nghĩ, phán đoán, tưởng tượng để hình dung, lãnh hội được sự vĩ đại trang nghiêm kỳ diệu của cõi Cực Lạc.
Chánh kinh:
Bỉ chư Phật đẳng diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công đức nhi tác thị ngôn; Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Sa Bà ngũ trược ác thế: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(Các đức Phật ấy cũng khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta mà nói như thế này: “Thích Ca Mâu Ni Phật làm được chuyện rất là hy hữu, Ngài có thể ở trong đời ác ngũ
trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Giải:
Mười phương thế giới vô lượng vô biên, mỗi cõi Phật hoặc tịnh hoặc uế sai khác nên sự giáo hóa cũng sẽ dễ hay khó khác nhau. Chư Phật không xưng tán tướng hảo trang nghiêm của Đức Phật Thích Ca, mà lại ngợi khen Ngài về tinh thần, ý chí vĩ đại: làm được những việc khó làm, nhẫn được những điều khó nhẫn trong đời ác. Đấy chính là những điều thật là hy hữu chẳng thể nghĩ bàn được, thật đáng tán dương, khen ngợi không cùng.
Thành Chánh Giác trong cõi nước thanh tịnh đã là một việc khó khăn, thế mà đức Thích Ca lại có thể thành đạo Bồ Đề trong cõi ác ngũ trược. Đấy quả là một điều khó khăn nhất trong mọi điều khó. Vì thế gọi là “thậm nan hy hữu chi sự”.
Thành Bồ Đề đã khó, nhưng nếu không khéo vận dụng các duyên sẽ rất khó thể thuyết pháp. Chúng sanh đời ác ngoan cố, bướng bỉnh, khó thể điều phục, Đức Phật Thích Ca đã điều phục được họ, lại còn dùng pháp môn tối thắng viên đốn Niệm Phật này khiến họ mau chóng giải thoát, đấy thật lại càng khó. Giảng pháp môn Niệm Phật đã khó, thế nhưng nay đức Thích Ca lại chỉ dạy tu mỗi pháp môn trì danh hiệu để vượt ngang sanh tử, đấy là mới thật là một điều cực hy hữu trong mọi điều hy hữu. Vì thế mới gọi là “thậm nan hy hữu chi sự”.
Diệu pháp phương tiện đệ nhất chẳng thể nghĩ bàn này được đức Bổn Sư ân cần thuyết ra là để chúng sanh trong đời Mạt chóng chứng đạo vô thượng, chóng được hưởng cảnh an vui tự tại nơi cõi Cực Lạc. Ân ấy, đức ấy, khó nỗi đáp đền, chỉ còn biết ngưỡng tạ, tinh tấn chuyên tu trì danh niệm Phật ngõ hầu báo đáp chút phần.
“Thích Ca Mâu Ni”, Hán dịch là Năng Nhân Tịch Mặc. Ta thường xưng tụng Ngài là đức Bổn Sư. Bổn Sư nghĩa là vị thầy dạy mình từ căn bản. Ta biết đến Phật pháp, biết đến mọi pháp môn tu tập, biết đến danh hiệu cùng thế giới của chư Phật, danh hiệu, công hạnh và trụ xứ của chư đại Bồ Tát đều do đức Thích Ca giảng ra. Mọi hiểu biết về Phật pháp, về đường lối giải thoát đều bắt nguồn từ đức Phật Thích Ca, nên Ngài được gọi là Bổn Sư.
Về danh hiệu của đức Bổn Sư, Năng Nhân là thường đem lòng nhân từ đối xử với mọi chúng sanh (Năng là khả năng ứng cơ thuyết pháp, khéo vận dụng mọi phương cách thích hợp từng căn cơ để hóa độ. Sự ứng cơ thuyết pháp ấy không ngoài lòng từ ái vô biên của Đức Phật nên gọi là Năng Nhân). Tịch Mặc nghĩa là chẳng chấp tướng.
Nói chi tiết hơn: TỊCH là chẳng chấp vào thân tướng“chẳng lìa Bồ Đề đạo tràng mà đến trong vườn Lộc Dã”. Suốt ngày ra vào, qua lại, đắp y, ăn cơm, thậm chí rảo gót khắp toàn cõi Ấn Độ, nhưng tuyệt nhiên chẳng chấp vào thân tướng: “Khiến hết thảy chúng sanh diệt độ, nhưng chẳng thấy có một chúng sanh nào được diệt độ cả”. MẶC là chẳng chấp vào ngữ tướng (tướng ngôn ngữ): “Trọn ngày thuyết pháp, nhưng trọn chẳng có pháp nào để có thể nói”. Thậm chí: “Ta thuyết pháp suốt bốn mươi năm, nhưng chưa từng nói một chữ”. Đấy chính là mặc nhiên (im lặng) không hề có ngữ tướng vậy.
Hiểu sâu hơn, Năng Nhân chính là Đại Bi, Tịch Mặc là Đại Trí. Phàm phu vô bi, vô trí; Nhị Thừa thánh nhân hữu trí vô bi; Bồ Tát đủ cả Bi lẫn Trí, nhưng chưa rốt ráo. Riêng mình Đức Phật Bi Trí viên mãn, là bậc thánh nhân đạt cực quả Đại Thừa, kinh Pháp Hoa thường ví là “ngồi xe trâu trắng lớn”. Xe trâu trắng lớn tức là xe Bi Trí gồm đủ vậy. Hết thảy vạn pháp đều không ngoài Bi và Trí. Vì thế, dùng Bi Trí để lập hồng danh vậy.
Hơn nữa, Năng Nhân là Sự, Tịch Mặc là Lý. Lý Sự vô ngại nên hiệu là Năng Nhân Tịch Mặc. Thêm nữa, Năng Nhân là Tướng, Tịch Mặc là Tánh. Tánh tướng viên dung nên hiệu là Năng Nhân Tịch Mặc. Năng Nhân là Tục Đế, Tịch Mặc là Chân Đế. Chân Tục nhất như nên hiệu là Năng Nhân Tịch Mặc. Nói rộng ra, tam tạng mười hai bộ kinh, hết thảy công đức, không gì là chẳng nhiếp trọn trong bốn chữ thánh hiệu Thích Ca Mâu Ni.
“Sa Bà quốc độ”: Sa Bà, Hán dịch là Kham Nhẫn. Đây chính là một cõi tam thiên đại thiên thế giới, thuộc phạm vi hóa độ của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Dịch là Kham Nhẫn, hàm ý: chúng sanh trong cõi Sa Bà cam lòng chịu đựng những nỗi khổ sở do ngũ trược gây ra, chẳng biết chán nhàm. Dù có được nghe Phật pháp, vẫn ít kẻ chịu tiến tu để thoát ly khổ cảnh, cam tâm vùi đắm mãi trong cảnh trói buộc, nên gọi là Kham Nhẫn. Cũng vì người nghe pháp thì nhiều, kẻ chịu tu tập thì ít nên chúng sanh cõi Sa Bà thường được mệnh danh là “cang cường thành tánh, nan điều, nan phục” (bướng bỉnh, cứng cỏi thành tánh, khó điều, khó phục).
“Ngũ trược ác thế”: Thế là thế giới. Thế giới tánh vốn không trược ác, do vì có năm thứ trược nên gọi là “ác thế”. Trược nghĩa là ô uế, chẳng khiết tịnh. Giống như nước sạch, trong trẻo, sáng láng, bị quăng đất đá vào sẽ trở thành đục ngầu, bẩn thỉu; nhưng khi gạn hết bụi đất, tánh trong của nước lại hiện ra.
Nước trong ví như chân tánh, đất bụi ví như phiền não. Bản tánh của chúng ta cũng thế: vốn luôn trong sạch, do vọng niệm mê mờ che lấp nên tánh bản nhiên thanh tịnh không hiển hiện được, cứ mãi phải luân hồi trong sanh tử.
Nếu muốn quy hoàn về bản tánh thiên chân thì phải giống như gạn lọc nước đục: Phải chứa trong bình sạch, để yên không xáo động, cát, đất, sỏi sạn từ từ lắng xuống, nước trong hiện ra.
Đấy gọi là bước đầu điều phục phiền não. Gạn sạch hết bụi đất đi rồi thì chỉ còn nước trong. Gạn sạch bụi phiền não khỏi bản tâm thì gọi là “đoạn trừ căn bản vô minh” vậy. Dùng thủy thanh châu đặt vào nước đục, nước đục tự lóng trong. Đem Phật hiệu vạn đức đặt vào tâm loạn, tâm loạn tự nhiên lặng dứt bụi trần phiền não. Năm thứ trược là:
1) Kiếp Trược:
Kiếp nói đủ là Kiếp Ba, Hán dịch là Thời Phần. Thời Phần có bốn giai đoạn lớn: Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi một giai đoạn gồm hai mươi lần tăng giảm. Tính từ lúc thọ mạng chỉ mười năm, cứ qua một trăm năm, tăng thêm một tuổi. Thời gian từ khi tuổi thọ từ mười tuổi tăng đến tám vạn bốn ngàn năm, thì gọi là “thời kỳ tăng”.
Từ tám vạn bốn ngàn tuổi, cứ mỗi một trăm năm lại giảm đi một tuổi, cho đến khi tuổi thọ chỉ còn mười tuổi, thì lại bắt đầu tăng. Đấy là thời kỳ giảm.
Thời gian gồm một thời kỳ tăng và thời kỳ giảm gọi là Tiểu Thời Phần (tiểu kiếp, tức là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm). Hai mươi tiểu kiếp là một Trung Thời Phần (Trung Kiếp). Bốn Trung Kiếp hợp thành một Đại Thời Phần (Đại Kiếp).
Kiếp vốn không có tự thể, do có bốn thứ trược kia (Kiến Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sanh Trược, Mạng Trược) xen lẫn nên gọi Kiếp Trược. Nói chính xác hơn, trong thời kỳ kiếp giảm, khi tuổi thọ con người chỉ còn hai vạn năm thì Kiếp Trược bắt đầu. Đó là do nghiệp báo của chúng sanh cùng tạo thành, ba độc (tham, sân, si) tăng trưởng ngày càng kịch liệt hơn, ba thứ tiểu tam tai (đao binh, thiên tai, tật dịch) cũng ngày càng xảy ra nhiều hơn. Đến lúc con người chỉ còn thọ mười tuổi là lúc tệ ác nhất. Cỏ cây trong khắp đại địa chạm đến đều biến
thành vũ khí; chúng sanh chịu muôn vàn nỗi khổ sở chẳng cách nào diễn tả trọn nổi. Do có những điều tệ ác như thế nên gọi là Kiếp Trược.
Trong giai đoạn kiếp tăng, tam tai dần giảm bớt, phiền não mỏng nhẹ dần, chúng sanh hướng về điều lành, ác kiến nhẹ bớt, mạng dần tăng thêm. Do ngày càng tốt đẹp hơn nên tạm gọi là Kiếp Thanh. Trong giai đoạn này, chư Phật thường chẳng xuất thế mà thường chỉ thị hiện độ sanh trong giai đoạn Kiếp Trược.
2) Kiến Trược:
Kiến là kiến giải, hoặc có thể hiểu là những tư tưởng, suy nghĩ của chúng ta. Trong nhà Phật, có năm loại kiến: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Năm thứ kiến này thường gọi là “ngũ lợi sử”. Do chúng có công năng sai khiến hết thảy chúng sanh tạo tác hết thảy ác nghiệp, khiến họ bị đọa lạc trong sanh tử, nên gọi là Sử (sai khiến). Tác dụng của chúng rất nhanh chóng, mạnh mẽ nên bảo là Lợi.
a. Thân Kiến: Chấp thân ta là Ngã, vọng sanh tham trước, chẳng thể thấu suốt thân ta chỉ là tứ đại giả hợp, hết thảy đều là huyễn mộng vô thường, lầm chấp là thật có thân, tưởng mình là chúa tể thật sự của cái thân, bèn khởi ra mọi ý tưởng điên đảo, tạo tác đủ mọi ác nghiệp để thỏa mãn, cung phụng cái thân này. Mỗi khi gặp điều gì trái ý bèn cho là tổn hại đến thân. Do đồng nhất thân với tâm, nên lại tạo tác đủ mọi điều hầu mong thân được an nhàn, khoái lạc. Đó gọi là Thân Kiến.
b. Biên Kiến: Đây là thứ kiến giải bất chánh, tà vạy của ngoại đạo. Cố chấp một cách ngoan cố, bướng bỉnh vào những hiểu biết lệch lạc của chính mình, tin mù quáng vào những học thuyết như Nhất Nguyên Luận, Nhị Nguyên Luận, Hữu Thần Luận, Vô Thần Luận, Nhất Thần Luận, Đa Thần Luận v.v... Do
chấp chặt vào một bên, vào một khía cạnh của sự việc, nên gọi là Biên Kiến.
c. Giới Thủ Kiến: Đây cũng là một loại kiến giải sai lầm của ngoại đạo. Thời xưa, ở Ấn Độ có đến 96 phái ngoại đạo, chủ trương những giới pháp chẳng chánh đáng (chẳng hạn giữ giới trâu, giới chó, giới gà v.v... tức là sống như loài trâu, loài chó, loài gà... với ước vọng được sanh thiên), hoặc có những người co chân đứng suốt đời, nằm bàn chông, tu đủ các thứ khổ hạnh vô ích như lõa thể, bôi tro lên thân, đánh tội hành xác, nằm giường dây, mặc áo gai, nhịn đói v.v... Nói rộng ra, Giới Thủ là những giới cấm khổ hạnh vô ích không đưa đến lợi ích giải thoát nào. Vì khăng khăng chấp nhặt vào những giới cấm vô ích, những cách hành trì hoang đường nên gọi là Giới Thủ Kiến.
d. Kiến Thủ Kiến: Đây cũng là thứ kiến giải cố chấp lầm lạc của ngoại đạo. Họ tưởng họ đã chứng ngộ chân lý, chấp chặt vào đường lối tu hành của mình, chưa chứng đã tưởng là đã chứng, chấp vọng là chân, cố chấp, ngoan bướng, lầm lạc suốt cả đời, nên gọi là Kiến Thủ Kiến (Thủ có nghĩa là nắm giữ, chấp chặt). Nói rộng hơn, nếu chấp chặt khăng khăng vào một giáo lý trong Phật pháp, bài xích các giáo pháp khác thì cũng bị vướng vào lỗi Kiến Thủ Kiến.
e. Tà Kiến: Dùng tà tâm để lãnh ngộ chân lý, điên đảo thị phi, chẳng tin nhân quả, đoạn diệt các thiện căn. Đấy gọi là Tà Kiến.
Nói chung, Thân Kiến là chấp vào Ngã Kiến (chấp có Ngã), Biên Kiến là Đoạn Kiến (chấp chết là hết) và Thường Kiến (chấp có một linh hồn thường hằng, sau khi chết sẽ hội nhập với Đại Ngã v.v...); Giới Thủ Kiến là chẳng phải nhân giải thoát mà cứ chấp chặt là nhân giải thoát; Kiến Thủ Kiến là đối với sự
không phải là quả giải thoát lại chấp là quả giải thoát; Tà Kiến là kiến chấp bác không nhân quả. Những kiến chấp như vậy khiến chúng sanh mãi chìm đắm trong biển khổ sanh tử, không cách nào thoát ra khỏi tam giới. Chẳng những mình lầm lạc mà còn làm cho hậu thế lầm lạc theo.
4) Phiền Não Trược:
Phiền não nghĩa là những điều khiến tâm tăm tối, buồn phiền, bất an. Có năm yếu tố tạo thành phiền não, thường gọi là Ngũ Độn Sử. Đó là: tham, sân, si, mạn, nghi. Do tác dụng của chúng khiến chúng sanh ngu độn, chậm chạp, nên gọi là Độn. Tuy là Độn, chúng vẫn có công năng khiến chúng sanh tạo tác đủ mọi ác nghiệp, tiến nhập đường ác.
1. Tham: Cầu được không chán, lòng ham muốn vô tận thì gọi là Tham. Lòng tham của con người không ngoài năm thứ ham muốn (ngũ dục): Tài (tiền của), Sắc (sắc dục), Danh (danh lợi), Thực (ăn uống), Thùy (ngủ nghê). Không lúc nào con người chẳng ham muốn những điều ấy, tìm đủ mọi cách thỏa mãn dục vọng của mình mà thôi!
2. Sân: Gặp những cảnh trái ý liền giận dữ, chẳng thể nhẫn nhục, hơi chút liền nổi nóng, não loạn cả mình lẫn người.
3. Si: Đối với những cảnh chẳng thuận, chẳng nghịch lại khởi tâm mê hoặc, chẳng thể tỉnh táo quán sát, đối với hết thảy mọi pháp chẳng thể hiểu rõ, nên gọi là Si.
4. Mạn: kiêu ngạo, cậy mình tài trí, khinh miệt người khác thì gọi là Mạn.
5. Nghi: đối với hết thảy pháp đều sanh lòng ngờ vực, chẳng thể phán đoán dứt khoát, mê muội đối với pháp tướng.
Nói chung, năm điều trên khiến tâm ta phiền muộn, chẳng được an ổn, những điều trên day dứt, dày vò tâm ta khiến ta chẳng được thảnh thơi. Vì thế, chúng được gọi là phiền não. Do Tham chiêu cảm nạn đói kém, do Sân chiêu cảm nạn đao binh, do Si chiêu cảm đau bịnh. Thậm chí đại tam tai: thủy, hỏa, phong, không gì chẳng phải là do ba độc Tham, Sân, Si chiêu cảm cả. Những thứ phiền não ấy khiến tâm ta hỗn loạn, mờ đục nên gọi là Phiền Não Trược.
Nếu nói tỉ mỉ hơn, phiền não gồm có hai loại: khách trần phiền não (tức Kiến Hoặc và Tư Hoặc) và căn bản phiền não (tức Vô Minh hoặc).
4) Chúng Sanh Trược:
Chúng có nghĩa là chẳng phải một, Sanh là từ ngữ chỉ chung cõi trời lẫn nhân gian và cả tam ác đạo. Các loài hữu tình thọ sanh trong mọi chỗ nên gọi là Chúng Sanh. Lại phải dựa vào bốn đại: đất, nước, gió, lửa giả hợp để có huyễn thân sanh diệt nên gọi là Chúng Sanh. Lại do bị Ngũ Ấm chướng lấp nên gọi là chúng sanh.
Ngũ Ấm còn gọi là Ngũ Uẩn. Ấm có nghĩa là ngăn che, Uẩn có nghĩa là tích tụ. Năm yếu tố (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) kết hợp, tích tụ lại tạo thành một chúng sanh, nên chúng được gọi là Ngũ Uẩn.
Chúng sanh mê muội lẽ Duyên Sanh, khăng khăng chấp trước vào Ngã tướng, cứ tưởng là mọi vật đều do cái Ngã ấy làm chủ tể. Vì thế, sanh khởi tâm vị kỷ, tâm tư lợi, gây tạo bao nhiêu ác nghiệp. Do tạo ác nghiệp nên lại bị đọa lạc trong những đường ác xấu hèn khó chịu đựng nổi. Vì thế gọi là Chúng Sanh Trược.
5) Mạng Trược:
Mạng là sanh mạng. Khi tâm lý (tám thức tâm) và thân huyết nhục kết tụ lại, có tri giác, có hoạt động, chẳng hạn như mắt thấy, tai nghe... có hơi thở, có thân nhiệt, có ý thức cùng kết hợp lại thì gọi là Mạng.
Mỗi sanh mạng lấy thức tánh làm chủng tử, do nghiệp lực sở cảm nên có thời hạn tồn tại nhất định. Đó gọi là Mạng Căn hay Thọ Mạng. Do nghiệp lực mạnh hay yếu mà mạng căn sẽ tồn tại dài hoặc ngắn.
Hoặc có thể nói: Thân người do các duyên hội hợp, biến đổi không ngừng trong từng sát na, không cách nào khống chế nổi. Khi nghiệp lực duy trì các duyên ấy hội hợp đã hết, các duyên sẽ chia lìa. Vì thế, mỗi thân mạng chỉ tồn tại trong một thời kỳ nhất định. Do đó, gọi là Thọ Mạng. Thọ mạng có thể bị chấm dứt bất ngờ vì những yếu tố bên ngoài như tai nạn, chiến tranh, thiên tai v.v... nên gọi là Mạng Trược.
Nếu xét trên phương diện tương quan nhân quả thì:
a) Kiến Trược, Phiền Não Trược là Nhân; Chúng Sanh Trược, Mạng Trược là Quả.
b) Từ Kiến Trược đến Mạng Trược là Nhân tạo thành cái Quả là Kiếp Trược.
Pháp môn Niệm Phật chỉ là Tín - Nguyện - Hạnh, chuyên chú chấp trì hồng danh A Di Đà. Một khi đã được vãng sanh thì sẽ chuyển Kiếp Trược thành hải hội thanh tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành liên hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ. Pháp môn Niệm Phật có công năng thù thắng, siêu dị như thế nên đức Đại Thánh Thích Ca đại từ, đại bi, đại nguyện, đại lực, chẳng nài chúng sanh bướng bỉnh, ngoan cố, ngu độn khó độ, vẫn ân cần giáo hóa chúng sanh cõi này khiến đều được giải thoát. Vì đức
Bổn Sư công hạnh vĩ đại, vì tâm nguyện của Ngài dũng mãnh đáng phục như thế nên sáu phương chư Phật đều cùng khen ngợi, ca tụng đức Thích Ca Mâu Ni Phật là bậc có thể làm được chuyện rất hy hữu, rất khó khăn là thành đạo trong đời ác ngũ trược này.
Chánh kinh:
Vị chư chúng sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.
(Vì các chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó tin này).
Giải:
Ở đây, chữ “chúng sanh” chẳng những chỉ phàm phu mà còn bao gồm tất cả những hàng thánh nhân Nhị Thừa. Chúng sanh trong đời ác ngũ trược, bị vật dục che lấp, tri kiến tối tăm, loạn đục, chẳng thể dễ dàng tiếp nhận pháp môn Niệm Phật rất mực viên đốn này. Thế mà, đức Thích Ca không ai hỏi, tự dũng mãnh giảng ra phương tiện bậc nhất, pháp tu cực nhanh chóng, thẳng tắt, cực thù thắng này.
Chữ “thế gian” chỉ hết thảy hữu tình trong cửu giới (địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, a tu la, nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát).
Pháp môn Niệm Phật gọi là “nan tín” (khó tin) vì những lẽ sau:
1) Chúng sanh sống trong đời ác ngũ trược, đã tập quen thành thói, kiến văn hữu hạn. Đột nhiên nghe nói có thế giới Tây Phương Cực Lạc thanh tịnh trang nghiêm, thù thắng khôn sánh, liền sanh lòng nghi ngờ cho là không có, hay chỉ là phương tiện quyền hiện, ngụ ngôn mà thôi!
2) Có kẻ tuy biết thế giới vô tận, nhưng lại chấp rằng: đã có vô tận thế giới thì vãng sanh thế giới nào chẳng được, cớ gì cứ phải nhất định vãng sanh Cực Lạc?
3) Hoặc khởi nghi: Sa Bà cách Cực Lạc đến cả mười vạn ức cõi Phật, dù có muốn sanh về đấy cũng không cách nào đến được!
4) Hoặc khởi ý tưởng bỉ lậu: thế giới Cực Lạc trang nghiêm, hoa mỹ bậc nhất, mình là chúng sanh ngũ trược, là kẻ phàm phu vô tri, làm sao sống ở đó được?
5) Hoặc tự nghi: Muốn trang nghiêm Tịnh Độ, ắt phải tu hành rất nhiều công hạnh, phải dùng một pháp môn nào rất kỳ lạ, rất đặc biệt mới hòng được vãng sanh về đó, chứ chỉ niệm mấy câu A Di Đà Phật, hoặc chỉ nhất tâm bất loạn từ một ngày đến bảy ngày liền được vãng sanh thì thật không sao tin được nổi!
6) Hoặc ngờ rằng: Hễ muốn thọ thai ắt phải có cha mẹ, thế mà vãng sanh Cực Lạc lại chẳng cần đến cha mẹ, dùng hoa sen để hóa sanh. Thật không sao tin được nổi!
7) Hoặc ngờ rằng: Người sơ tâm học Phật, đa số là tâm dễ bị lui sụt. Những người sanh trong cõi Cực Lạc đều là bậc đại phước đức, đại trí huệ, tu đại hạnh. Thế mà phàm phu chỉ trì danh niệm Phật liền được vãng sanh. Không những thế, sanh cõi ấy rồi, liền chứng ba thứ bất thoái chuyển. Có phải là điều cực kỳ vô lý hay không?
8) Có kẻ vận dụng kiến giải, lý luận chủ quan để phán định cõi Tịnh Độ chẳng hề tồn tại khiến người sơ cơ học Phật hồ nghi bất định.
Do những lẽ trên, chúng sanh trong lục đạo khó lòng tin tưởng pháp môn Niệm Phật này; thậm chí hàng thánh nhân Nhị Thừa cũng khó tránh hoài nghi. Vì thế, trong đời ác ngũ
trược, giảng dạy pháp môn Tịnh Độ chẳng khác nào giảng cho những người mù nghe thế nào là đen, thế nào là trắng vậy.
Đức Bổn Sư là bậc chân ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ (chẳng nói lời lừa dối), bất dị ngữ (chẳng nói lời sai khác). Vì thế, chúng ta phải nên chí thành, tin tưởng sâu xa, trân trọng tiếp nhận pháp môn vô thượng này.
3.2. Bổn Sư kết tán khuyến (đức Bổn Sư kết lại lời khen ngợi để khuyến hóa)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Đương tri ngã ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vị nhất thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan!
(Xá Lợi Phất! Hãy biết rằng ta ở trong đời ác ngũ trược, làm được việc khó khăn này: đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì hết thảy thế gian nói pháp khó tin này, thật là điều rất khó!)
Giải:
Đây là lời đức Thích Ca tự thuật. Trong đoạn trên là lời sáu phương chư Phật khen ngợi công hạnh của đức Bổn Sư. Hai chữ “thậm nan” được dùng để kết lại lời khuyên, diễn tả ý “hành thử nan sự” và “thuyết nan tín chi pháp” ở đoạn trước. Hết thảy chúng sanh trong thế gian khó thể tin tưởng rằng chỉ trì niệm sáu chữ hồng danh A Di Đà Phật là có thể thành Phật. Vì thế, Đức Phật Thích Ca ngay trong đời ác ngũ trược, tu trì Tín - Nguyện - Hạnh, được sanh về Cực Lạc thế giới, thành tựu Phật đạo. Ngài lấy chính thân mình làm gương, tu hạnh khó làm được, ở ngay trong chốn khó thành đạo mà thành đạo, lại còn vì hết thảy chúng sanh tuyên nói pháp môn Niệm Phật rất khó tin