Tìm kinh sách
Vần A-Z:
A Di Đà Kinh Hợp Giải

A Di Đà Kinh Hợp Giải

Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.

Chương 16: 2. Khuyến Nguyện (Trang 281 - 285)

Thuở xưa có một vị Hòa Thượng sùng phụng pháp môn Niệm Phật, thường dùng bốn chữ “tín, ức, xưng, kính” (tin tưởng, nhớ nghĩ, xưng danh, cung kính) để dạy người: “Hai chữ Tín - Ức chẳng lìa nơi tâm; hai chữ Xưng - Kính chẳng rời khỏi miệng. Vãng sanh Tịnh Độ ắt phải có tín. Ngàn người tin, ngàn người sanh. Vạn người tin, vạn người sanh. Tin vào danh hiệu Phật, chư Phật ắt gia hộ ngươi, ắt cứu giúp ngươi. Tâm thường nhớ Phật, miệng thường niệm Phật, thân thường kính Phật, thì mới gọi là thâm tín”.

2. KHUYẾN NGUYỆN

Chánh kinh:

Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả; thị chư nhân đẳng giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

(Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh vào cõi Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được chẳng thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đối với cõi nước ấy, họ đã sanh, đang sanh hoặc sẽ sanh).

Giải:

Phần trên khuyên phát khởi lòng Tin, phần này khuyên nên phát nguyện.

Pháp môn Tịnh Độ chẳng phải đợi đến khi đức Phật Thích Ca thuyết giảng kinh A Di Đà xong mới hiện hữu. Thực sự ra, ngay sau khi Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay, pháp môn này đã sớm được tuyên lưu rộng rãi khắp mười phương thế

giới. Vì thế, Đức Phật mới nói: “Nếu có người đã phát nguyện thì người ấy đã sanh về trong cõi ấy”.

Nói “đã phát nguyện” là chỉ những người phát nguyện trong mười kiếp kể từ khi Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay. “Nay phát nguyện” là những thính chúng trong pháp hội này, nghe xong tin tưởng, phát nguyện thì ngay trong lúc này, cũng được vãng sanh về cõi Cực Lạc. Suốt cho đến đời vị lai, những người sẽ phát nguyện thì cũng sẽ được vãng sanh. Nói tóm lại, chỉ cần nghe pháp rồi sanh lòng tin kiên cố, do tin nên phát nguyện, do nguyện bèn siêng năng thực hành, không một ai là không được vãng sanh Cực Lạc!

Nay chúng ta thấy nhiều người niệm Phật, nhưng ít thấy người được vãng sanh là vì đâu? Đó là vì tuy tín ngưỡng Cực Lạc, nguyện cầu vãng sanh, nhưng tâm vẫn giữ khăng khăng muôn mối lo toan, tham đắm, vọng niệm rộn ràng, chẳng chịu buông bỏ mọi duyên, đến nỗi lâm chung bị các tạp duyên gây chướng ngại.

Lắm kẻ lại còn ngờ: nếu mười phương chúng sanh niệm Phật cùng được vãng sanh về Cực Lạc, làm sao cõi ấy dung chứa trọn hết nổi?

Nên biết rằng: nghi ngờ như thế chính là do Biến Kế Sở Chấp mà thành. Thế giới Cực Lạc là do vô lượng công đức của Phật A Di Đà tạo thành, chính là thế giới diệu hữu. Diệu hữu vốn là chẳng thể nghĩ bàn, chứ nào phải là cái Có bị hạn cuộc trong vòng suy lường hạn hẹp của phàm phu. Tại sao nghe kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết thuật cái thất chỉ rộng một trượng của Ngài Duy Ma Cật có thể dung nạp ba vạn hai ngàn tòa sư tử báu thì tin, mà lại chẳng tin nổi thế giới Cực Lạc có thể dung nạp mọi chúng sanh niệm Phật?

Chánh kinh:

Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.

(Vì thế nên Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có ai tin tưởng thì hãy nên phát nguyện sanh về cõi nước ấy).

Giải:

Đây là lần thứ ba đức Thế Tôn khuyên nên phát nguyện. Trong phần Chánh Tông, lần khuyến hóa thứ nhất là: “Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ” (Chúng sanh nghe vậy hãy nên phát nguyện sanh vào cõi nước ấy). Lần khuyên thứ hai: “Nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ”.

Đức Thế Tôn từ bi khẩn thiết, ba lượt ân cần chỉ dạy, khuyên răn phát nguyện. Sau khi trần thuật cõi Cực Lạc y báo, chánh báo, trang nghiêm, người sanh trong cõi ấy sẽ đắc ba thứ Bất Thoái, đức Thế Tôn bèn khuyên nên phát nguyện vãng sanh. Đấy là lần khuyến hóa thứ nhất.

Tiếp đó, cuối phần Chánh Tông, sau khi chỉ dạy pháp Trì Danh, hành trì giản tiện nhưng lại mau được vãng sanh, lợi ích lớn lao, thính chúng ai nấy tâm khai ý giải, đức Thế Tôn lại khuyến hóa nên phát nguyện vãng sanh. Đấy là lần khuyến hóa thứ hai.

Lần khuyến hóa thứ ba là ngay trong đoạn kinh văn này: Ai muốn vãng sanh liền được vãng sanh. Được vãng sanh đồng nghĩa với thành tựu những lợi ích thù thắng, chẳng hạn như viên chứng ba thứ Bất Thoái. Vì thế, đức Thế Tôn rát miệng, nhọc lòng khuyên răn đại chúng phải cấp tốc phát nguyện cầu sanh.

Chỉ trong một bài kinh ngắn như kinh A Di Đà, đức Thế Tôn ba lượt khuyên nên phát nguyện, đủ thấy tâm từ bi cứu thế của

đức Thích Ca trước sau luôn tha thiết. Ai nghe đến kinh này, phải nên tin tưởng, phải nên phát nguyện, tinh tấn tu trì thì mới khỏi cô phụ tấm lòng quan hoài, từ bi vô tận của đấng Đạo Sư hai cõi.

Hỏi: Kinh Lăng Nghiêm dạy:

“Chân giáo thể phương này,

Thanh tịnh nơi nghe tiếng”.

Như vậy, nhĩ căn của chúng sanh cõi này đặc biệt nhạy bén. Bởi lẽ đó, Ngài Văn Thù chẳng chọn pháp Niệm Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí. Thế sao Tịnh Độ Tông lại luôn khuyến hóa mọi người niệm Phật?

Đáp: Chúng sanh căn tai lanh lợi càng phải nên niệm Phật. Bởi lẽ, tiếng niệm Phật từ miệng thoát ra, thấu vào tai, có khả năng thống nhiếp các căn, khiến cho tịnh niệm tiếp nối; thật là phù hợp với nguyên tắc “dùng âm thanh làm Phật sự” vậy!

Huống hồ, pháp Niệm Phật của Ngài Thế Chí chú trọng nơi tâm niệm, chứ đâu phải là khẩu niệm xuông! Dùng âm thanh thuyết giáo chỉ thấu đến những người căn tai thông lợi, còn bổn nguyện tiếp độ người niệm Phật vãng sanh phổ độ tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới. Bởi thế, không riêng mình đức Phật Thích Ca khen ngợi pháp này, cả mười phương chư Phật đều cùng xưng tán.

Hỏi: Như Lục Tổ Huệ Năng nói: “Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây phương. Người Tây phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh về cõi nào?” Nếu ai dùng câu nói ấy để bác pháp môn Niệm Phật thì nên đáp như thế nào? 

Đáp: Do giảng dạy pháp môn sai khác nên thuyết pháp cũng sai khác. Nhà Thiền chỉ mong trực chỉ chân tâm, chỉ cốt triệt ngộ nguồn tâm, ngay khi triệt ngộ ấy liền thành Phật. Nhưng bản thể của tâm vốn chẳng phải là Phật, cũng chẳng phải là

chúng sanh, nên thường nói: “Trong Chân Như môn chẳng dính mảy trần”. Nhà Tịnh dùng pháp môn Niệm Phật để biến cải cái tâm ô nhiễm thành tâm thanh tịnh, lấy niệm Phật làm phương pháp, lấy sự vãng sanh làm mục đích, nên thường bảo: “Nơi Phật sự chẳng hề bỏ một pháp”.

Lời dạy của Lục Tổ là nhắm vào căn cơ thượng thượng thừa, khích lệ họ cậy vào tự lực. Trong khi đó, Tịnh Độ là pháp môn phương tiện thù thắng khiến cho mọi người dù là đàn bà, trẻ nít vẫn có thể tấn tu nhập đạo. Niệm Phật đến mức ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm, tâm lẫn Phật gom thành một phiến thì nào có khác gì cảnh giới “không Phật, không chúng sanh” đâu!

Lời Lục Tổ dạy là dành cho người tu Thiền hâm mộ trực chỉ đơn truyền, mà cũng là để cảnh tỉnh người niệm Phật chấp tướng quá lẽ mà thôi!

Tuy vậy, dẫu chấp tướng niệm Phật, một lòng tin tưởng vào pháp môn Tịnh Độ vẫn được vãng sanh, được bất thoái chuyển, lợi ích vô cùng; vẫn hơn những kẻ thích cao đàm huyền luận, chấp lý phế sự, suốt ngày trọn năm hiu hiu tự đắc luận chuyện giải thoát trên đầu lưỡi, khóe miệng, để khi đại sự chợt đến, chân tay luống cuống, thần hồn mờ mịt. Lúc ấy, dẫu muốn ung dung làm chủ nghiệp thức cũng đành bó tay, phó mặc cho nghiệp lực lôi kéo!

Nếu chính mình đã có thể hành trì pháp môn Niệm Phật, lại còn dạy bảo người khác cùng hành thì chẳng những người ấy chắc chắn được vãng sanh, mà phẩm vị còn thêm cao tột. Như xưa kia, bà Việt Quốc phu nhân họ Vương lãnh đạo toàn thể thê thiếp trong nhà niệm Phật, cùng tu Tịnh Độ. Có một tỳ nữ đột nhiên không bệnh mà mất. Đêm ấy, Vương phu nhân mộng thấy cô tỳ nữ đến bái tạ: “Nhờ ơn phu nhân dạy răn, nay con được vãng sanh Tịnh Độ”. Phu nhân hỏi: “Ta đến Tây Phương có được không?” Cô tỳ nữ thưa được, rồi dẫn bà đi.
 

/22
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »