Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Tác giả: Chuyển Ngữ: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa - Giảo Chánh: Minh Tiến & Huệ Trang. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 848.

Chương 340: 16. Nêu Tỏ Ý Nghĩa Ẩn Kín Về Sự Thực Vãng Sanh Của Diêu Phu Nhân Nhà Họ Mã (Trang 727 - 728)

16. Nêu tỏ ý nghĩa ẩn kín về sự thực vãng sanh của Diêu Phu Nhân nhà họ Mã

           Quyến thuộc trong thế gian đều có nhân duyên, Bồ Tát nương nguyện còn chúng sanh theo nghiệp. Thiện - ác đều do từng loại mà tụ hợp, chủng tánh trọn chẳng sai. Hiếu Kinh nói: “Muốn biết cha hãy nhìn vào con”. Dịch Truyện ghi: “Mọi thứ tụ họp theo từng loài, vật chia ra thành bầy”. Vì thế, ngài Duy Ma Cật ở Tây Thiên, Phó Đại Sĩ, Bàng Cư Sĩ ở cõi này, cả nhà đều triệt ngộ tự tánh, tự chứng Vô Sanh, đến - đi tự tại, đắc đại giải thoát. Gần đây, danh nhân các giới mở rộng tầm mắt, đều cùng tôn sùng Phật pháp, ngầm chuyên tu trì. Cư sĩ Mã Thông Bạch ở Đồng Thành, tỉnh An Huy chính là bậc đại gia trong giới văn học hiện thời, trước thuật rất phong phú. Thoạt đầu cũng tiêm nhiễm ý kiến của Hàn, Âu, Trình, Châu, chẳng những không biết Phật là người như thế nào, lại còn chẳng biết nhất niệm tâm tánh của chính mình và Phật xét về bản thể trọn chẳng có hai. Đến khi về già, học thức ngày càng tiến, kiến địa ngày càng cao, mới biết Phật là bậc đại thánh nhân, giáo pháp của Ngài có những chuyện chẳng thể nghĩ bàn. Từ đấy, hằng ngày tụng kinh Kim Cang, trì thêm danh hiệu Phật để mong lìa trọn vẹn tứ tướng, triệt hứng nhất tâm, thoát khỏi ngũ trược ngay trong một đời này.
            Cô con gái thứ ba của ông tên là Quân Cán khá thông minh, thông hiểu văn chương, có phong thái của bậc liệt nữ thời cổ, ông Thông Bạch rất thương yêu, nhưng đối với Phật pháp cô ta hoàn toàn không tin tưởng. Về sau, bị bệnh rất khổ chẳng thể chịu đựng được; Thông Bạch thương xót, đối trước cô niệm kinh Kim Cang. Cô vừa nghe tiếng tụng kinh thân tâm liền an lạc. Đến khi tiếng tụng kinh dứt lại thấy đau khổ. Thông Bạch liền vì cô niệm kinh suốt đêm. Cô chợt ngồi dậy bảo đừng niệm nữa, giống như người khỏe mạnh. Lại nói: “Đối với những đạo lý kinh Kim Cang đã nói, con đều ngộ được”. Cô lại muốn hiện tướng đại nhân, nói pháp Vô Sanh để hết thảy những ai thấy nghe đều gieo căn lành, bèn giả vờ nói nhà cửa chật hẹp, muốn đến y viện dưỡng bệnh; bởi lẽ Thông Bạch và người con rể tên Phương Thời Giản cùng trú ngụ tại kinh đô, thuê nhà cùng ở nên chẳng thể rộng rãi, u nhã được. Thông Bạch thấy con đã quyết chí, bèn bảo chồng cô ta đưa vào Đức Quốc Y Viện, chọn gian phòng tốt đẹp nhất cho cô nằm. Cô bảo chồng và y tá đi ra hết, rồi bèn ngồi chắp tay qua đời. Ôi chao lạ lùng thay! Cô này cũng giống như cô Linh Chiếu con gái Bàng Cư Sĩ, đợi cha vừa rời khỏi tòa liền tọa thoát ngay nơi tòa ấy, nào có khác gì?
          Lý Mộc Công vốn hoàn toàn không tin Phật, nghe Thông Bạch kể nhân duyên ấy, cả nhà bèn quy y Tam Bảo. Phẩm Phổ Môn nói: “Nên dùng thân nào để độ được, bèn hiện thân ấy để thuyết pháp”, há chẳng tin ư? Chồng cô ta là Thời Giản, dù được hiện tướng ấy, kiến giải vẫn cứ hẹp hòi, đối với hành trạng
[của cô ta] lại còn vùi lấp đi, tội lỗi ấy chẳng nông cạn. Nay được cháu ông Thông Bạch là Hỗ Đình đem chuyện vãng sanh của bà thím và con bà là Căn Vĩ xót xa chỉ bày, mới biết Thông Bạch và vợ con ông ta đều có lai lịch lớn chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên.
         Căn cứ theo hành trạng, vợ ông Bạch họ Diêu, húy là Trạch Nhuận, được gia đình dạy dỗ cẩn thận từ nhỏ, thông hiểu đạo làm vợ, thờ cha mẹ, bố mẹ chồng một niềm kính cẩn. Mẹ chồng bệnh nặng, bà cắt thịt đùi hòa với thuốc, cầu khẩn với trời. Nhà vốn thanh bần, Thông Bạch dạy học, phu nhân thay chồng lo liệu việc nhà hết sức cần kiệm, nên chồng khỏi phải lo nghĩ. Dạy con cái đúng phép tắc, được xóm giềng khen ngợi. Mấy chục năm qua, trải bao nhiêu biến động trong đời, chán nhàm vô thường sâu xa, liền chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu thoát khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc. Tuổi ngoài bảy mươi vẫn khỏe mạnh. Đầu mùa Thu năm nay, thị hiện chút bệnh nhẹ, ăn uống giảm dần, nhưng sớm khuya lễ bái, trì tụng chưa từng gián đoạn chút nào. Đến ngày mồng Bốn tháng Tám, vừa mới đi nằm thì ngực bị nghẹn hơi, bảo con gái là Quân Vỹ và cháu dâu là Tôn Hiếu Đạt thay mình tụng kinh. Hiếu Đạt chính là vợ của Hỗ Đình; là người hằng ngày thường cùng bà tu tập Tịnh nghiệp khuyến khích lẫn nhau, nên thường chầu chực bên bà để phụ trợ. Đến đêm mồng Chín, phu nhân thấy chư Phật quang minh rạng rỡ, bèn phục trên gối lễ bái.
         Lại thấy đức Quán Âm duỗi tay ra, bèn nắm lấy tay Bồ Tát, liên tục xưng niệm danh hiệu Bồ Tát không ngừng, bảo Hiếu Đạt tụng kinh Di Đà. Hiếu Đạt tụng đến đoạn kinh nói về các thứ trang nghiêm trong cõi Phật, bà nói: “Cảnh giới như vậy rành rành ngay trước mặt, ta thấy chẳng khác gì kinh nói cả!” Người nhà vây quanh niệm Phật theo, có người nuốt lệ, phu nhân quở trách: “Sao lại như thế? Gây phiền lụy cho ta!” Đến giờ Ngọ ngày mồng Mười, môi còn khẽ động, thoạt lâu sau bèn qua đời, vẻ mặt vàng tươi. Phía chân mày và trán sáng láng như gương, trên đảnh khí nóng tỏa ra ngoài cách đầu gần cả thước như thể đang được nung nấu. Ấy chính là biểu hiện của Tịnh nghiệp thuần thục, thân tâm thanh tịnh vậy.
          Phàm muốn học Phật pháp trước hết phải tận lực giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận. Xét những việc hiếu dưỡng cha mẹ, bố mẹ chồng, cũng như dạy con thì đấy chính là như Quán Kinh nói “hiếu dưỡng cha mẹ, hành điều nhân từ thế gian”. Bà nhàm chán vô thường sâu xa, chuyên tu Tịnh nghiệp, lại được người cùng chí hướng khuyến khích hỗ trợ, có thể nói là những nghĩa “chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm” và “phát Bồ Đề tâm, khuyến tấn hành giả” đều đầy đủ cả. Đã có đủ chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật thì chắc chắn cảm được cái quả “cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tịnh Độ”. Những kẻ trong cõi đời chẳng trọn hết bổn phận để giữ vẹn lòng hiếu, lòng từ, lầm lẫn muốn cậy vào Phật từ lực để đới nghiệp vãng sanh thì Phật lực, pháp
/395
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »