Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Tác giả: Chuyển Ngữ: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa - Giảo Chánh: Minh Tiến & Huệ Trang. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 848.

Chương 254: 74. Lời Tựa Sách Nho Thích Nhất Quán (Trang 562 - 564)

dùng để độ cũng như tướng chúng sanh được độ, thì bốn tướng chẳng sanh, ba tâm180 há được? Không trụ vào đâu để sanh tâm, vô sở đắc để làm Phật. Do vậy, thọ trì bốn, ba, hai, một câu thì công đức khó thể nói được, còn nói chi là trì toàn bộ kinh. Do vậy, từ cổ đến nay, nhiều người đọc tụng. Người đốn ngộ tự tánh triệt chứng duy tâm, sống dự vào dòng thánh, chết về An Dưỡng kể sao cho xiết? Kế đến là tiêu trừ tội nghiệp, tăng trưởng thiện căn, chuyển họa thành phước, từ ngu trở thành trí lại càng nhiều hơn nữa. Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh đem những sự tích cảm ứng đã được ghi chép từ xưa đến nay phân loại rồi soạn những bài tụng. Bạn ông ta là Lưu Khế Tịnh lại viết lời chú thích để người đọc đều biết được nghĩa lý uyên thâm, công đức rộng lớn, sanh lòng chánh tín, gắng bắt chước tu theo. Tùy theo công hạnh cạn hay sâu cũng sẽ được các thứ lợi ích. Kinh dạy: “Hết thảy chư Phật và đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều phát xuất từ kinh này. Nếu có thể phát tâm chí thành cung kính thọ trì thì sẽ thuộc vào trong số chư Phật vị lai”, xin hãy gắng sức lên!

74. Lời tựa sách Nho Thích Nhất Quán

        Nho - Thích đạo không hai, chúng sanh và Phật tâm không hai. Do con người có cùng một tâm này, tâm cùng một lý này, nên hết thảy hữu tình đều nhờ vào Chân Như Phật Tánh mà được kiến lập. Nhưng chúng sanh và Phật thật khác biệt, phàm - thánh khác hẳn nhau là vì nhân địa mê - ngộ bất đồng, Tu Đức thuận - nghịch sai khác. Do vậy, thánh nhân Nho - Thích đều xuất hiện trong đời làm bậc hướng dẫn, ngõ hầu hết thảy chúng sanh bỏ mê theo ngộ, thấu dòng tột nguồn, khôi phục lại bản tánh sẵn có mà thôi! Sự phát huy tuy có Quyền - Thật, sâu - cạn, phương tiện - cứu cánh bất đồng, nhưng xét về đại thể thì lý thể được đề cao và công phu tu tập không hai.
        Phật lấy Giác làm Thể, Giác có Bổn Giác, Thỉ Giác, Bất Giác. Bổn Giác chính là thiên chân Phật Tánh chúng sanh và Phật đều sẵn có, tức là Tánh Đức vậy. Còn Thỉ Giác là diệu trí do dựa theo lý Bổn Giác, phát khởi tu tập chân thật, đối trị phiền não tập khí khiến cho chúng bị tiêu diệt không còn sót. Đó chính là Tu Đức. Bất Giác là mê trái Bổn Giác, sanh khởi chấp trước vào cảnh, khởi tham - sân - si, tạo giết - trộm - dâm, coi khổ là vui, lấy mê làm đức, dùng sức Phật tánh để tạo nghiệp sanh tử. Hết thảy chúng sanh đang mê không nương theo Chánh Giác, lầm lạc tu tập đều là Bất Giác vậy. Bổn Giác thì phàm
________________________________________
180 Tam tâm (theo giáo nghĩa Thiên Thai) là:
1. Giả danh tâm: Tâm chấp trước Ngã thật có, chính là kiến giải của ngoại đạo.
2. Pháp tâm: Tâm chấp trước pháp thật có, chính là tâm của hàng Tiểu Thừa thuộc phái Nhất Thiết Hữu Bộ.
3. Không tâm: Chấp trước Ngã lẫn Pháp, không biết tâm vốn chẳng phải có, chẳng phải không, bất sanh, bất diệt.

 
- thánh bình đẳng, không có cao - thấp. Thỉ Giác thì do công phu sâu hay cạn khác biệt mà địa vị ngộ chứng sai khác, từ Danh Tự cho đến Phần Chứng, từ địa vị Ngoại Phàm181 cho đến Đẳng Giác đều thuộc trong phạm vi Thỉ Giác. Từ Đẳng Giác lại phá một phần vô minh thì công Tu Đức đã đến cùng cực, Tánh Đức hiển lộ trọn vẹn, phước huệ trọn đủ, phiền hoặc hết sạch, viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không thể đắc, mới thành bậc Đại Giác Thế Tôn, mới chứng Thỉ - Bổn hợp nhất tối thượng thừa tối cực, mới hoàn thành sự nghiệp tu nhân chứng quả của bậc đại trượng phu. Vì thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng chứng đắc. Nếu lìa hết thảy vọng tưởng, chấp trước thì Nhất Thiết Trí, Vô Ngại Trí đều được hiện tiền”. Nói “hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ của Như Lai” là nói về lý tánh Bổn Giác vậy. “Do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng chứng đắc” chính là trái nghịch Bổn Giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi trong sáu đường. “Lìa vọng tưởng thì trí huệ bèn hiện tiền” chính là  thuận theo Bổn Giác để tu dần dần cho đến khi viên thành Phật quả. Hiểu rõ chỗ đạt đến của lý “Tánh - Tu” này ắt chẳng cam chịu phận phàm ngu, cũng chẳng dám đem phàm lạm thánh, ắt sẽ thật tu, thật ngộ, mong sao thật chứng mới thôi!
          Nho thì lấy Thành - Minh làm gốc, Thành là Minh Đức, Minh nghĩa là “minh” (làm sáng tỏ) trong “minh Minh Đức”. Thật ra là Thành - Minh, tức “minh Minh Đức”. Minh Đức chính là chân tri (sự hiểu biết chân thật) sẵn có trong tâm chúng ta. Do có “vật” là nhân dục (lòng ham muốn của con người), nên [Minh Đức] bị ngăn lấp chẳng thể hiển hiện được; như mây che mặt trời, trọn chẳng thấy được tướng sáng. Muốn làm sáng tỏ Minh Đức ấy thì phải trọng lòng kính, giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ thì cái vật “nhân dục” tự chẳng có đất dung thân, chân tri sẵn có sẽ hiển lộ toàn thể, như phù vân (mây nổi) trôi đi, vầng mặt trời sáng rỡ. Chân tri đã hiển lộ thì đạt được quyền làm chủ, kẻ hầu hạ phải nghe theo. Vì thế những gì ý nghĩ đến, tâm suy nghĩ đến đều quy về chân thành, không vọng, trung chánh, chẳng thiên lệch vậy. Đấy chính là đại pháp “tu thân, trị người” của Khổng Tử thừa kế từ nhị đế tam vương182 được
________________________________________
181 Ngoại Phàm là địa vị phàm phu, do đối ứng với Nội Phàm nên gọi là Ngoại Phàm. Đây chính là địa vị trước khi đạt đến địa vị Kiến Đạo. Thanh Văn thừa coi Ngũ Đình Tâm, Biệt Tướng Niệm Trụ, Tổng Tướng Niệm Trụ đều là Ngoại Phàm, nhưng Bồ Tát Thừa lại coi Thập Tín Phục Nhẫn là Ngoại Phàm. Cuối quyển 17, sách Đại Thừa Nghĩa Chương có ghi: “Nói Ngoại phàm chính là chỉ những người hướng đến điều lành nhưng hướng ra ngoài cầu lý, chưa thể dứt được tướng để duyên theo Chân Tánh bên trong, nên gọi là Ngoại. Do thân phàm phu Phần Đoạn trong sáu đường chưa thể bỏ được nên gọi là Phàm”. Theo Thiên Thai Tông thì có nhiều cách giải thích:
1. Trong Tạng Giáo, Hiền Vị thuộc về Ngũ Đình Tâm Quán là Ngoại Phàm.
2. Thông Giáo coi Càn Huệ Địa trong mười Địa là Ngoại Phàm.
3. Biệt Giáo coi mười địa vị thuộc Thập Tín là Ngoại Phàm.
4. Viên Giáo coi địa vị Ngũ Phẩm trong Quán Hạnh của Lục Tức Thành Phật là Ngoại Phàm.
182 Nhị đế tam vương: Nhị Đế là Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Tam Vương là vua Đại Vũ nhà Hạ, vua Thành Thang nhà Thương và Văn Vương nhà Châu, những vị này đều được coi là Thánh Quân của cổ Trung Hoa.

 
trình bày tóm lược như vậy, để làm khuôn phép lớn lao cho thiên hạ hậu thế mong thành thánh thành hiền vậy.
          Nếu đem so với Phật pháp để giải thích thì Thành và Minh Đức chính là  Tánh Đức của Bổn Giác, còn Minh và Minh Minh Đức (làm sáng tỏ Minh Đức) chính là Tu Đức của Thỉ Giác vậy. “Vật” là vọng tưởng, chấp trước. “Cách vật” là lìa vọng tưởng, chấp trước. Lìa vọng tưởng, chấp trước liền đắc trí huệ của Như Lai. Trừ khử vật dục của con người thì lương tri và Chân Tri cố hữu trong tâm chúng ta sẽ tự hiển hiện triệt để. Do vậy, nói:
“Phát huy sâu - cạn tuy khác nhau, nhưng công phu nơi lý thể cố nhiên chẳng hai”. Vì thế, những bậc thông minh duệ trí xưa nay đa số đều học Phật. Do đạt được tâm pháp của Phật nên mới hiểu thấu đáo tâm pháp của thánh nhân tiên hiền bên Nho; bởi lẽ nhà Nho đa phần coi trọng sự tướng, chẳng dốc sức ngộ hiểu tâm tánh. Nếu chẳng được Phật pháp hướng dẫn thì chính tâm mình còn chưa thể hiểu biết được, huống gì tâm pháp của thánh nhân ư? Do vậy, các nhà Nho câu nệ vào hình tích, đa số chê trách Phật giáo là do chẳng biết Phật pháp tuy là pháp xuất thế nhưng vẫn đầy đủ hết thảy những thiện pháp thế gian. Phàm là đạo luân thường, tu thân, tề gia cố nhiên cực lực hoằng dương, chẳng sót mảy may điều thiện nào, gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ theo, tùy theo chức phận ai nấy đều tận nghĩa, chẳng khác với những gì thánh nhân thế gian đã nói. Nhưng thánh nhân thế gian chỉ dạy con người tận nghĩa, tận phận, chứ đức Phật còn chỉ dạy cặn kẽ quả báo thiện ác của việc tận và không tận. Tận nghĩa, tận phận chỉ có thể dạy bậc thượng trí, chứ chẳng thể thâu nhiếp hết kẻ hạ ngu. Nếu biết quả báo thiện ác của việc tận và chẳng tận thì dù là phàm ngu cũng vẫn hâm mộ thiện báo, sợ ác quả; tuy chẳng muốn tận nghĩa, tận phận cũng phải gắng sức tận nghĩa, tận phận! Đấy là pháp để Như Lai phổ độ thượng trung hạ căn.
          Đời thường có kẻ cậy vào sự hiểu biết, chẳng chuộng thật tu, bảo xằng nhân quả là pháp Tiểu Thừa, chẳng biết: Như Lai viên thành Phật đạo, chúng sanh thường đắm chìm trong sanh tử đều chẳng ra ngoài nhân quả! Chỉ có mỗi một niệm tâm tánh của đương nhân tuy chẳng thuộc nhân quả, nhưng vẫn chẳng lìa nhân quả. Muốn vượt ra ngoài nhân quả nhưng chưa viên thành Phật đạo sẽ trọn chẳng thể được. Chưa thành Phật mà đã vội vàng bác bỏ nhân quả sẽ vĩnh viễn đánh mất thiện nhân thiện quả, thường tạo nhân ác, thường bị quả ác đến tột cùng vị lai chẳng thể ngưng dứt. Chẳng đáng buồn ư? Đời thường có kẻ chẳng biết Phật pháp, cứ xằng bậy chê bai Phật giáo, cũng có kẻ hơi biết Phật pháp tuy ngấm ngầm tuân theo, nhưng bề ngoài chê trách. Những thứ hành vi ấy đều do tri kiến môn đình quá nặng, chẳng thể thực sự cách vật trí tri, đến nỗi ý có chỗ chẳng thành, tâm có chỗ chẳng chánh vậy. Những lời lẽ ấy đều đủ sức làm mù lòa con mắt trí của chúng sanh, đoạn huệ mạng của Như Lai. Bậc đại
/395
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »