vậy. Phổ Đà chính là đạo tràng của Quán Âm Đại Sĩ; Phổ Tế, Pháp Vũ là tùng lâm thập phương cộng trụ, Tăng chúng đến - đi quả thật rất đông. Phàm những vị mất đi đều dùng lửa thiêu hóa, nhưng lò thiêu rất thô sơ, chẳng những tốn nhiều củi đốt, lại còn khiến cho xương bị trộn lẫn với tro đất. Các cư sĩ đương thời túc căn sâu dầy dốc lòng tin tưởng Phật pháp, phát tâm Bồ Đề làm chuyện lợi lạc, bèn phỏng theo cách thức của ngoại quốc, nghiên cứu châm chước sao cho thích hợp, chuẩn bị nhân công, vật liệu, tạo cho hai chùa trước và chùa sau mỗi chùa một lò. Do lò ấy hình như cái tháp, nên gọi là Tháp. Mỗi tháp tốn hơn cả ngàn bạc, có thể nói là công đức chân thật vậy. Tháp vừa dựng xong, gặp đúng lúc có người vãng sanh, chưa đầy ba tiếng đồng hồ đã thiêu sạch sẽ, tro xương đều đựng trong hộp sắt, không bị lẫn lộn với tro đất nữa. Do vậy, đại chúng hoan hỷ, mong khắc vào đá để ghi lại. Minh47 rằng:
Ban đầu thọ thân là do vô minh, mê cái gốc Chân Như, lầm sanh ái tình, ái tình đã khởi, huyễn chất gá vào, nhận lầm là Ngã, vĩnh viễn chẳng giác. Như Lai thương xót, riêng lập phương tiện, khiến cho kẻ còn, người mất đều lìa Ngã Kiến. Thân còn chẳng được, Ngã từ đâu có? Diệt trọn bốn tướng, Ngũ Uẩn đốn không. Sanh - diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền. Chân Như Pháp Tánh trở về sẵn có. Lìa tướng huyễn vọng, phát tâm Bồ Đề, hồi hướng Tịnh Độ, gần đấng Quang Thọ, nghe pháp, thọ ký, chứng Vô Sanh Nhẫn, nương đại nguyện luân độ cho những kẻ thật đáng thương xót, khiến cho hết thảy cùng sanh Tây Phương, đều trong vị lai làm đấng Pháp Vương.
17. Bài ký nơi tháp hóa thân chùa Pháp Vũ, Phổ Đà
Ngã Chấp của chúng sanh kiên cố khó phá lắm thay! Cái sắc thân này vốn do đất, nước, gió, lửa Tứ Đại hợp thành, nhưng lầm chấp là Ngã, như dầu lẫn vào miến, vĩnh viễn chẳng thoát, đâm ra mê trái toàn thể [chân lý] “Chân Ngã chẳng thuộc Ấm - Giới, chẳng thuộc thánh - phàm”, như gương bị bụi lấp, chẳng thể chiếu soi. Vì thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đủ trí huệ của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước, chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Vô Sư Trí đều được hiện tiền”. Do vậy biết tâm tánh của chúng sanh ngang bằng chư Phật, nhưng do chấp trước mà chẳng thể thọ dụng, chẳng đáng buồn ư?
_________________________________________
47 Minh: Theo từ điển Từ Hải, Minh là một thể văn thường dùng để khắc trên những đồ vật như chuông, khánh, đá; nhằm biểu thị ý vĩnh viễn ghi nhớ không quên. Minh còn có nghĩa là một thể văn dùng để biểu thị công đức, hoặc răn nhắc chính mình (chẳng hạn Tín Tâm Minh). Thông thường, những bi ký (bài văn viết trên bia), gồm có hai phần: Phần đầu của bi ký, thuật duyên do vì sao lập bia, và phần thứ hai là Minh, nhằm ca ngợi, tán dương một nhân vật hoặc một hành vi nào đó; hoặc thuần túy là cảnh tỉnh. Ở đây, Tổ Ấn Quang dùng chữ Minh theo nghĩa thứ hai.