Pháp môn Tịnh Độ lý vốn cực rộng sâu chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu hiểu cùng tột, đừng nói chi hạng phàm phu sát đất chẳng thể suy lường được, ngay cả hàng Bồ Tát đã chứng Pháp Thân từ lâu cũng chẳng thể biết trọn. Do vậy, khi đức Thế Tôn nói pháp môn này, mười phương hằng hà sa số chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài đồng thanh tán thán khiến cho khắp mọi chúng sanh đều sanh tín tâm, lại còn khen ngợi nồng hậu đức Thích Ca Thế Tôn có thể làm chuyện hy hữu rất khó. Đức Thế Tôn cũng tự nói: “Ta ở trong đời ác ngũ trược, làm chuyện khó như thế này: Đắc Vô Thượng Bồ Đề, vì hết thảy thế gian nói ra pháp khó tin này, thật là rất khó!” Phổ Hiền Bồ Tát dạy Hoa Tạng hải chúng đều cùng dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh, nếu chẳng phải là đạo trọng yếu thành thủy thành chung há có thể được như vậy ư? Vì vậy, ngàn kinh muôn luận chỗ nào cũng chỉ quy, vãng thánh tiền hiền ai nấy đều hướng về, như mọi ngôi sao chầu về Bắc Đẩu, như các dòng nước đổ vào biển Đông. Người niệm Phật tin được như thế mà nếu chẳng vãng sanh thì mặt trời, mặt trăng sẽ xoay ngược chiều, trời đất sẽ bị đổi chỗ, há có lẽ ấy chăng? Xin những ai thấy nghe hãy cùng gắng sức lên!
24. Bài ký về chuyện thếp vàng tượng Phật Tiếp Dẫn trong hang đá của Trung Am thuộc Bí Ma Nham núi Ngũ Đài
Ngũ Đài chính là chốn thánh đạo tràng thường trụ bao kiếp của Văn Thù Bồ Tát và một vạn Bồ Tát, kinh Hoa Nghiêm gọi là núi Thanh Lương; ấy chính là Phàm Thánh Đồng Cư ở cõi này; nếu luận trên phương diện Bồ Tát thì nó chính là Thường Tịch Quang Tịnh Độ, hoàn toàn tách lìa hết thảy phiền hoặc, nhiệt não, rốt ráo thanh lương. Chùa Bí Mật ở Bí Ma Nham chính là do Mộc Xoa hòa thượng dùng chĩa ba bằng gỗ56 để thể hiện ý chỉ “từ trời Tây qua Đông” của Tổ Sư. Phàm những ai được nghe tên không ai chẳng sanh tâm kính ngưỡng, mong mỏi, hâm mộ, huống chi những ai đã đích thân đến được nơi ấy? Cách chùa không xa có nơi gọi là Trung Am được tạo dựng bên vách núi, vách núi ấy cao mấy mươi trượng. Hang núi ấy khá cao sâu rộng rãi, bên trong đắp một tượng Phật Tiếp Dẫn cao hơn hai trượng, hết sức viên mãn trang nghiêm. Đó là vì muốn cho những người đến đây đều lễ bái từ dung, đều cùng niệm thánh hiệu, lâm chung cùng được tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Đại sư Tư Thái trước khi xuất gia có đến nơi đây lễ Phật, phát nguyện thếp vàng tượng Phật. Sau khi xuất gia thọ Cụ Túc Giới, bèn quyên mộ các thiện tín để thỏa nguyện này, tổng cộng dùng hơn hai trăm đồng, xin tôi phát huy đại lược ý nghĩa về sự khác biệt
________________________________________
56 Theo Hoành Xuyên Hòa Thượng Ngữ Lục, sách số 1.411 trong Vạn Tục Tạng Kinh, tập 71, hòa thượng Bí Ma Nham mỗi khi trông thấy có vị Tăng nào đi đến liền giơ chĩa ba bằng gỗ lên bảo: “Ma mị nào dạy ông xuất gia? Ma mị nào dạy ông hành? Nói được cũng bị đâm chết! Nói không được cũng bị đâm chết! Nói mau! Nói mau! Bí Ma giơ chĩa ba, trắc nghiệm xem ông vốn là ai, nói được bị đâm chết, chẳng phụ tấm thân này!”
và giống nhau giữa chúng sanh và Phật, cũng như lòng từ phổ độ của đức Di Đà để chỉ dạy cho những người đến đây.
Trộm nghĩ: Một niệm tâm thể của chúng ta và Phật không khác, do mê chưa ngộ nên tâm tướng khác biệt một trời một vực. Dù Tướng rất khác biệt nhưng Thể vẫn chẳng khác, như thái hư không trống rỗng, sáng sủa, thông suốt, hoàn toàn không trệ ngại. Do mây, sương, bụi bặm nên biến thành tướng tối tăm, bế tắc, nhơ bẩn. Phải biết: Chính ngay trong lúc đang tối tăm, bế tắc, nhơ bẩn ấy, Thể của nó vẫn trống không, sáng sủa, thông suốt y như cũ. Do vậy, chư Phật thương xót chúng sanh sẵn có Chân Như Phật Tánh, chỉ vì mê trái mà [cái tánh ấy] đâm ra trở thành cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp, chịu khổ. Do vậy, chỉ dẫn nhiều cách khiến cho chúng sanh trở về gốc, quay về nguồn. Cầu lấy một pháp hạ thủ dễ thành công cao thì không gì bằng tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương; bởi lẽ chúng sanh tín nguyện trì danh sẽ cảm được Phật Di Đà từ bi nhiếp thọ. Vì thế, bất luận thượng trung hạ căn đều được cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. So với việc cậy vào tự lực để đoạn sạch phiền hoặc rồi mới liễu sanh tử thì dù có hết năm cũng chẳng thể nói trọn được! Do vậy, Phật vì chúng sanh hiện đủ mọi thân để tạo nhân duyên đắc độ.
Phải biết: Tượng này chính là chân thân của Phật, do chúng sanh căn cơ kém hèn nên thấy là tượng, chứ luận theo phía Phật thì thân và cõi chẳng hai, Lý - Trí như một, có pháp nào chẳng phải là chân thân của Phật, huống hồ bức tượng đẹp đẽ vạn đức trang nghiêm này! Bồ Y Đồng Tử57nói: “Một ngọn cỏ,
______________________________________
57 Bồ Y đồng tử là đứa trẻ mặc áo kết bằng cỏ Bồ. Theo sách Ngũ Đài Sơn Linh Tích, thời Tống Thần Tông, Thái Úy Lã Huệ Khanh thông hiểu Phật pháp, từng chú giải bộ Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán, nhân lúc nhàn hạ, du ngoạn Ngũ Đài Sơn, cùng thuộc hạ ngắm cảnh chỉ trỏ bàn bạc xôn xao rất cao hứng. Đoàn người vừa lên trên cao, chợt quang cảnh biến đổi đột ngột, trời đang quang đãng bỗng sương phủ mịt mù, cuồng phong ào ạt, chớp xẹt loang loáng, mưa như trút nước, sấm nổ inh tai. Đang trong lúc chớp xẹt sáng lòa, mọi người thấy trong mây như có hình rồng rắn bay vút lên, nhiều hình trạng dị thường khiến bọn họ kinh hoảng ngã lăn ra đất. Một lúc sau, trời lại tạnh ráo, quang đãng. Bọn người Lã Thái Úy chưa hết kinh sợ, chợt thấy có một đồng tử tóc xõa dài, mặc áo kết bằng cỏ Bồ, để hở vai phải, đi tới hỏi: “Quan nhân thấy gì mà kinh hãi đến thế?” Họ Lã đáp: “Ta nghĩ chắc đời trước tạo ác nghiệp, sắp bị cơn mưa to giết chết!” Đồng tử cười: “Mưa to có gì mà đáng sợ? Không phải hết mưa rồi sao? Quan nhân đến Ngũ Đài cầu khẩn điều gì?” Họ Lã đáp: “Muốn thấy thắng tích của Bồ Tát Văn Thù”. Đồng tử bảo: “Vì sao ông muốn thấy Văn Thù Bồ Tát? Đáp: “Tôi từng đọc Hoa Nghiêm, nhưng ý chỉ kinh rộng sâu, có những chỗ không hiểu được, nên nghĩ tưởng Văn Thù Đại Sĩ, hy vọng Ngài chỉ điểm một đôi điều. Nếu được như vậy, tôi sẽ chú giải kinh Hoa Nghiêm để kinh ấy được lưu truyền hậu thế, khải phát hậu nhân”. Đồng tử bảo: “Diệu ý của chư Phật khéo thuận
sự lý, giản dị, minh bạch, xem chú giải của người đời trước liền hiểu rõ, như Thập Địa Phẩm chỉ giải thích dưới mỗi câu mấy dòng. Hiện thời dài dòng lan man, chú giải cả mấy trăm quyển, càng muốn giải thích ý Phật, càng xa cách ý Phật! Quả thật, càng giải cặn kẽ, càng khiến cho Phật giáo bị chi ly, vụn vặt!”. Họ Lã hỏi: “Xem dáng vẻ, ngươi bất quá chỉ là một đứa trẻ, sao lại dám lớn mật chê trách cao tăng đến thế?”. Đồng tử cười xòa: “Quan nhân hiểu lầm rồi! Núi này, mỗi một ngọn cỏ, một cái cây không gì chẳng phải là cảnh thù thắng của Văn Thù Bồ Tát. Nhắn với những ai đến đây, chỉ cần trong sanh hoạt thường nhật gặp chuyện chẳng mê thì đấy chính là Văn Thù Đại Sĩ thật sự. Cần gì phải dùng phàm tình để suy nghĩ loạn cả lên, thật xa cách cảnh giới Phật quá sức!” Lã Thái Úy nghe vậy, trong tâm giải ngộ, biết mình sai lầm, cúi đầu lạy tạ. Ngẩng đầu lên, liền thấy đồng tử đã biến thành Bồ Tát Văn Thù, cưỡi sư tử xanh, bay lên không trung. Thái Úy gặp Bồ Tát mà không biết, hối hận khôn cùng, trở về nhà, tận lực thờ kính, mong gặp lại Bồ Tát. Không lâu sau lại thấy đồng tử mặc áo bằng cỏ Bồ, hiện trong khói