Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Tác giả: Chuyển Ngữ: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa - Giảo Chánh: Minh Tiến & Huệ Trang. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 848.

Chương 308: 20. Bi Ký Công Đức Xây Lại Ngũ Phật Trấn Mãng Tháp Tại Tiểu Bạch Lãnh (Trang 656 - 658)

20. Bi ký công đức xây lại Ngũ Phật Trấn Mãng Tháp tại Tiểu Bạch Lãnh(Viết giùm)

       Đức Đại Giác Thế Tôn xem hết thảy chúng sanh như con một, bởi một niệm tâm tánh của họ vốn không hai, không khác với tam thế chư Phật. Do mê trái nên chẳng những không thể đích thân thọ dụng, mà còn đâm ra dùng sức Phật tánh thường trụ bất sanh bất diệt này để khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi sáu đường trải trần kiếp lâu xa, không thể thoát lìa. Do vậy, đức Phật bèn thị hiện sanh trong thế gian thành Đẳng Chánh Giác, tùy cơ thuyết pháp khiến cho [chúng sanh] được độ thoát. Ngài cũng tạo nhân duyên đắc độ cho những căn cơ chưa chín muồi cũng như hết thảy chúng sanh trong vị lai. Ấy gọi là “lưu thông kinh giáo, dạy khắp vị lai”. Khi hết thảy sự việc đã xong, Phật liền nhập Niết Bàn, do lòng đại từ bi, hóa lửa tự thiêu, nát Pháp Thân vạn đức trang nghiêm thành tám hộc bốn đấu xá-lợi để chúng sanh lễ bái, cúng dường, tăng trưởng phước điền, gây nhân thành Phật. Do vậy, trên trời trong cõi người, long cung, hải tạng, nơi nào cũng đều được chia xá-lợi, dựng tháp cúng dường.
        Phần xá-lợi chia cho nhân gian được chia đều cho tám nước, riêng vua A Xà Thế được tám vạn bốn ngàn hạt, thờ nơi sông Hằng, lập vành đai gươm [vây quanh] để thủ hộ. Một trăm năm sau, chắt của vua tên là A Dục làm vua cõi Diêm Phù, oai đức tự tại, vâng theo lời Phật phó chúc, chấn hưng Phật pháp, đem xá-lợi ấy sai khiến quỷ thần dùng bảy báu, các loại hương làm vữa (chất hồ), trong vòng một ngày tạo ra tám vạn bốn ngàn cái tháp báu. Muốn cho những tháp ấy được phân bố khắp Nam châu, nên tôn giả Da Xá (Yaśa) dùng tay che mặt trời, năm ngón tay phóng quang tỏa ra tám vạn bốn ngàn đạo ánh sáng, sai các quỷ thần mỗi người bưng một tháp đi theo ánh sáng. Ánh sáng chiếu đến đâu là hết thì đặt ở đấy. Phàm chỗ nào Phật pháp chưa truyền đến đều đặt tháp trong đất nơi ấy. Đến sau này khi pháp hóa được lưu truyền đến đó, các tháp sẽ đều theo thứ tự xuất hiện, như những tháp ở chùa Dục Vương, Ngũ Đài v.v…
        Ấy là vì chúng sanh đang mê chẳng hiểu rõ lục trần về bản thể chính là Thật Tướng Chân Như, do vậy, bèn khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi nhiều kiếp. Chư Phật lập giáo, chẳng qua chỉ là ngay trong những cảnh giới lục trần bị mê ấy, mỗi mỗi chỉ ra bản thể của những cảnh giới ấy chính là Giả, chính là Không, chính là Trung, khiến họ chuyển mê thành ngộ, hiểu tâm rõ gốc. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới đều là Như Lai Tạng Diệu Chân Như tánh”. Tam Tổ nói: “Sáu trần chẳng ác, trở về giống với Chánh Giác”. Ông Tô Đông Pha nói: “Tiếng suối chảy chính là tướng lưỡi rộng dài, sắc núi không gì chẳng phải là thân thanh tịnh”. Như vậy, thấy sắc, nghe tiếng đều có thể dùng để hiểu tâm rõ gốc, huống chi kinh do
chính kim khẩu của đức Như Lai đã nói và chân thân xá-lợi cũng như hình tượng Phật ư?
          Tuy giáo thể của phương này vốn thuộc về nghe tiếng, nhưng nghe pháp được lợi ích cố nhiên chẳng phổ biến thường hằng bằng thấy tướng được lợi ích. Do vậy, tam thế chư Phật không vị nào chẳng dạy con người xây dựng tháp miếu, tạo hình tượng Phật. Bởi lẽ một phen chạm vào mắt thì trong tám thức điền đã gieo được hạt giống thành Phật. Từ đấy, dần dần tăng trưởng, rốt ráo được thành giác đạo. Do vậy, vua thánh tôi hiền các triều đại, những bậc triết nhân thông suốt, đa phần đều xây dựng tháp miếu ở những nơi danh sơn, hoặc cuộc đất tốt đẹp, để người thấy nghe cùng gieo thiện căn. Đấy chính là cội nguồn của tháp miếu ở Chấn Đán vậy.
           Tháp Trấn Mãng thuộc Tiểu Bạch Lãnh ở phía Đông huyện Cận, Tứ Minh. Huyện chí và Thiên Đồng Tự Chí đều nói tháp được dựng vào đầu niên hiệu Hội Xương (841-846) đời Đường. Rặng núi ấy có con mãng xà lớn hung hăng mặc sức phun độc, người đi đường bị mắc nạn. Khi ấy, Trụ Trì chùa Thiên Đồng là ngài Tạng Hoán52, sau khi diệt độ được sắc phong thụy hiệu là Tâm Kính thiền sư, ngài chính là con (đệ tử) của [ngài Linh Mặc ở] núi Ngũ Tiết, là cháu (đồ tôn) của ngài Mã Tổ, vốn là bậc đại sĩ thừa nguyện giáng sanh, những chuyện lạ suốt cả đời Ngài khiến người ta phải kính ngưỡng, Ngài thật sự là thủy tổ chùa Thiên Đồng vậy. Nghe chuyện quái lạ ấy, bèn đến độ thoát. Trước hết, Ngài thí cho rắn ăn để thân nó được an lạc, rồi mới thuyết pháp, cho nó thọ giới, khiến tâm nó khai ngộ cũng như có chỗ nương tựa. Thức ăn Ngài dùng để thí vốn chỉ là thứ bánh mạn đầu có nhân, do sức pháp lực nên hóa thành vô lượng. Những cái bánh rắn ăn không hết đều biến thành đá, đầy khắp trong núi và trên mặt đất, nay gọi di tích ấy là “mạn đầu thạch”, ngoài trắng trong đen, hình dáng rất giống [bánh mạn đầu]. Rắn đã nhận pháp thực, lại được nghe pháp yếu, liền được tiêu trừ nghiệp chướng, thoát lìa thân rắn, Sư bèn theo đúng pháp hỏa thiêu, nhặt lấy xương thừa, vùi bên vách núi, lập tháp lên trên. Tháp có sáu cạnh, bảy  tầng, cao hơn mười trượng, bên trong để tượng Phật và các kinh chú, để mong cho mãng xà nương Phật từ lực, mau chứng Pháp Thân. Phàm những loài thuộc dòng giống nó đều chẳng dấy lên khuấy phá nữa. Do vậy, đặt tên tháp là Trấn Mãng Tháp, cũng như mong cho nhân, thiên, quỷ thần
________________________________________
52 Ngài Tạng Hoán (790-866), họ ngoài đời là Châu, người huyện Hoa Đình, Tô Châu, xuất gia từ nhỏ, thoạt đầu theo học với ngài Đạo Khoáng, sau qua Tung Sơn thọ Cụ Túc, tham học khắp các chùa thuộc Hồ Sơn. Sau đến Tam Học Thiền Viện tại núi Ngũ Tiết, tỉnh Chiết Giang, gặp Linh Mặc thiền sư, được truyền pháp. Sau khi ngài Linh Mặc viên tịch vào năm 818, Phật giáo Trung Hoa gặp đại nạn Tam Võ, nhiều tự viện bị phá hủy, nhưng Tam Học Thiền Viện vẫn duy trì nhờ nỗ lực không mệt mỏi của ngài Tạng Hoán. Đến thời Hội Xương, Tam Học Thiền Viện lại được trùng hưng mạnh mẽ. Về sau, ngài đến trụ tích chùa Thiên Đồng thuộc thành phố Ninh Ba, đồng thời khai sáng Đông Luật Thiền Viện tại bờ Đông Dũng Giang. Do đức hạnh của Sư, nơi này trở thành một già-lam lớn, sau đổi tên là Thất Tháp Tự. Ngày mồng ba tháng Tám năm Hàm Thông thứ bảy (866), thời Đường, Sư viên tịch, hưởng 77 tuổi, Tăng lạp 57 năm.

 
chiêm lễ cúng dường gieo nhân Bồ Đề thù thắng, kết thành viễn duyên thành Phật.
        Từ đời Đường đến nay đã hơn một ngàn năm, mưa gió vùi dập, sương tuyết xói mòn, nghiêng sụp mất nửa, thế sắp bị sụp đổ hoàn toàn. Phàm những ai trông thấy đều than thở: “Sao hoàn toàn vắng lặng chẳng có ai bảo tồn dấu cổ, khai khẩn ruộng phước vậy!” Cuối đời Thanh, trụ trì chùa  Thiên Đồng là ngài Ký Thiền, muốn trùng tu lại, chưa kịp khởi công, đã nhụt chí, quy Tây. Người kế vị là thầy Tịnh Tâm, chí lại càng tha thiết, nhưng do trong chùa quá nhiều công trình [xây dựng] nên chẳng đủ sức lo tới. Trụ trì hiện thời là sư Văn Chất muốn hoàn thành công trình này cho chóng, bèn cùng với thầy Tịnh Tâm dốc sức đồng tâm, ai nấy bỏ ra tiền của và quyên mộ đàn tín giúp cho việc thù thắng này được hoàn thành. Do vậy, Tăng - tục hoan hỷ, tùy sức tán trợ, khởi đầu từ mùa Đông năm Kỷ Mùi tức năm Dân Quốc thứ tám (1919), hoàn thành vào mùa Hạ năm Quý Hợi tức năm Dân Quốc 12 (1923). Qua năm phen nóng lạnh đắp đổi mới lại được thấy bảo tháp từ đất vọt lên, chỉ có điều tháp cũ sáu cạnh, đặc ruột, nay tháp mới tám cạnh, rỗng ruột. Đó là phỏng theo ý nghĩa tướng bạch hào giữa chặn mày của đức Như Lai “có tám cạnh, nhưng rỗng ruột, có đầy đủ quang minh,
chúng sanh được quang minh ấy chiếu đến bèn ngay lập tức lìa khổ được vui, gần là sanh vào nhân thiên, xa là dự vào dòng thánh”.
         Trên tầng cao nhất thờ tượng Ngũ Phương Ngũ Phật, hàm nghĩa: “Tỳ Lô Pháp Thân thuộc địa vị cao tột trong mười pháp giới, đầy đủ Tứ Trí Bồ Đề”. Lại còn chỉ rõ từ địa vị phàm phu muốn chứng Phật Quả thì phải giẫm đạp trên Thật Địa, tuân tu đạo phẩm, tăng tấn dần dần, đoạn Hoặc chứng chân cho đến khi Trí Đoạn rốt ráo mới có thể triệt chứng thật nghĩa tứ đức Thường - Lạc - Ngã - Tịnh sẵn có của Pháp Thân. Chót tháp đúc bằng đồng theo hình dạng hồ lô, phần dưới cùng để trống chính giữa, bên trong đặt tượng Phật, Bồ Tát và tên các kinh trong Đại Tạng và kinh chú Đại Thừa nhằm biểu thị Nhất Thể Tam Bảo, Tam Đức bí tạng chẳng lìa đương xứ, rốt ráo hiển bày trọn vẹn. Lại nữa, kinh chính là Pháp Thân xá-lợi của Như Lai, tượng là hai thân Báo - Hóa của đức Như Lai, ngõ hầu người chiêm lễ, đi nhiễu quanh, cúng dường, tán thán, trong đời vị lai cùng chứng được công đức Như Lai đã chứng. Hai phần trên cùng và phần giữa của tháp, bên trong đổ đầy cát sạch để trấn đỉnh tháp, tạo thành bảy tầng cấp, cao hơn mười trượng, để làm biểu hiệu lớn lao vòi vọi của giác đạo, làm hướng dẫn tốt lành rạng ngời cho kẻ mê đường. Chung quanh tháp dựng tường cao vây quanh, ngõ hầu những thứ tệ hại, dơ bẩn không xen lẫn vào được, dễ gìn giữ. Đằng trước tháp dựng mấy gian nhà, cử một vị tịnh hạnh đầu-đà, hầu hạ hương đèn mãi mãi. Tổng cộng dùng đến hơn năm vạn bạc, phương danh công đức đều khắc riêng trên đá.
/395
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »