kết lại, khó tránh khỏi ôn dịch hoành hành. Bất Huệ thương xót đồng luân gặp phải thảm kiếp này, nghĩ muốn dứt trừ hậu hoạn, cho nên chẳng nề hà tầm thường, ngu độn, tuân theo sự từ bi cứu tế chúng sanh, đạo “coi đồng nhân như một” của đức Như Lai, trình bày phương pháp dự phòng để tiêu thiên tai dứt nhân họa.
Nếu có thể mở rộng tầm mắt, thấu hiểu việc xương minh tâm “thương dân yêu vật” của thánh hiền xưa nay và đạo “xem hết thảy chúng sanh như con một” của đức Như Lai, đều cùng kiêng giết, bảo vệ sanh vật, ăn chay, niệm Phật, tận lực giữ vẹn luân thường, ai nấy tận hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, tự hành, dạy người để cầu khắp mọi giới cùng theo phong thái này. Nhân tâm đã xoay lại, ắt trời sẽ tự hòa, sẽ thấy mưa thuận gió hòa, dân giàu, của cải dư dật, từ thiện thạnh hành, can qua vĩnh viễn dứt bặt, lễ nghĩa hưng khởi, cường bạo chẳng dấy. Như vậy thì tuy là người trong đời về sau mà chẳng khác thuở Hy - Hoàng, còn gì vui bằng? Nếu ai nấy đều nương theo tâm lực này để vãn hồi lòng trời thì cũng chưa hẳn là không thể làm được. Vả nữa, chốn chiến trường tử thi phân hủy, đa phần vùi lấp khe ngòi, những xác chết đó bị tôm cá ăn vào, tích chứa oán hận và những chất từ tử thi rữa nát, ắt mang chất độc nặng nề. Nếu con người ăn phải những thứ tôm cá ấy ắt mắc phải tai ương tật dịch. Vì thế, sau mỗi trận đại chiến thường có đại dịch, đều là vì bụng miệng tham cầu mà nên nỗi! Huống chi, những con vật đó đã từng ăn thây người chết, nay con người sao lại nỡ ăn những thứ đó. Nếu ăn thì có khác gì ăn thịt người cho mấy? Bất Huệ đã không có đạo lực, lại chẳng có tài lực, chỉ cậy vào lời nói xuông để giãi bày tấm lòng ngu thành, cầu xin những vị rủ lòng đọc đến ai nấy đều đem lòng thương mình để thương loài vật, khiến cho loài vật cùng ta đều được an lạc sanh sống trong chốn trời cao đất dầy thì may mắn lắm thay!
9. Bàn về nhân quả là căn bản của thánh giáo Nho và Thích
Nhân quả báo ứng là phương tiện lớn lao để bình trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh của thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian, nhưng thế nhân chẳng suy xét, đối với lời dạy của nhà Phật phần nhiều bài xích đủ cách, hoặc cho là nghĩa lý thiển cận rồi gạt phăng qua một bên, cậy vào Thế Trí Biện Thông của chính mình, chìm đắm dài lâu trong chốn tà kiến nhơ bẩn. Phàm những nghị luận đều chẳng phải là đạo căn bản để sửa mình trị người của thánh hiền, khiến cho điều thiện không được khuyến khích, điều ác không bị trừng phạt, dẫn đến mối tệ tranh giành danh lợi, quyền thế, địa vị, đến nỗi giết người ngập thành, ngập đồng chẳng ngưng. Ôi! Đáng buồn thay! Ngôn luận, sự thực nhân quả báo ứng được thấy rất nhiều trong kinh sử. Trong kinh Thư thì ghi “thuận lý đưa
đến điều lành, trái nghịch dẫn đến điều xấu chỉ vì ảnh hưởng, làm thiện trăm điều lành giáng xuống, làm điều bất thiện trăm tai ương giáng xuống”. Nói như vậy chỉ là luận trên đời này và con cháu mà thôi.
Còn như ngũ phước, lục cực được nói trong sách Hồng Phạm nếu chẳng suy từ nhân đời trước, cứ quy hết vào sự cai trị của vua thì hóa ra là chuyện bàn luận vô căn cứ; há nào phải là nguồn cội của cái tâm dạy dỗ muôn đời của vua Vũ và Cơ Tử92 ư? Ngũ Phước gồm Thọ (sống lâu), Khang (mạnh khỏe), Ninh (bình yên), Du Hiếu Đức (yêu chuộng đức), Khảo Mạng Chung (chết tốt lành); và Lục Cực gồm Hung (xui xẻo), Đoản (chết sớm), Chiết (gian nan trắc trở), Tật (bệnh hoạn), Ưu (lo buồn), Ác (xấu xí), Nhược (yếu ớt), há có phải là do vua dùng quyền hành tạo ra được như thế hay chăng? Trong ấy, chỉ có giàu và nghèo là còn có thể do con người tạo ra, chứ những thứ khác đa phần là do túc nhân chiêu cảm. “Ác” chính là diện mạo xấu ác, chứ không có nghĩa là bạo ác. Nếu giải thích ác là bạo ác thì có nghĩa là vua có thể dùng oai quyền ép người ta phải trở thành bạo ác ư? Khổng Tử khen ngợi kinh Dịch, trong phần Văn Ngôn, viết rằng: “Nhà tích thiện ắt điều tốt lành có thừa, nhà làm điều bất thiện ắt tai ương có thừa!” Trong phần Hệ Từ Truyện93 có câu: “Xét từ cội nguồn đến chung cục cho nên biết: Nói đến sanh tử thì tinh khí là vật, du hồn là biến chuyển. Do vậy, biết được tình trạng của quỷ thần94”. Đấy chẳng phải là nói về nhân quả báo ứng sanh tử luân hồi hay sao?
Còn như những chuyện thiện - ác báo ứng, sanh tử luân hồi trong Xuân Thu Tả Truyện95 và hai mươi hai bộ sử nhiều không thể ghi hết, bộ Nhị Thập Nhị
_______________________________________
92 Cơ Tử: Tác giả sách Hồng Phạm. Ông này sống vào đời Thương, là chú của vua Trụ, được phong làm quan Thái Sử ở đất Cơ (nay thuộc Thái Cốc, tỉnh Sơn Tây). Từng dâng sớ can gián Trụ Vương, nhưng vua không nghe, lại bắt ông bỏ tù, mãi đến khi Châu Võ Vương diệt Trụ mới được thả khỏi tù. Theo truyền thuyết, về già, ông bỏ sang Triều Tiên sống.
93 Hệ Từ là phần giải thích ý nghĩa của Quái Từ (Quái Từ là phần luận về ý nghĩa của mỗi quẻ trong kinh Dịch). Hệ Từ Truyện là phần giải thích ý nghĩa của Hệ Từ do Khổng Tử soạn.
94 Nguyên văn: “Nguyên thủy yếu chung, cố tri sanh tử nhi thuyết, tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng”. Theo bài viết Đạo Giáo Nghiên Cứu của Cái Kiến Dân, giáo sư thuộc khoa Triết Học viện Văn Học Hạ Môn, thì câu “nguyên thủy yếu chung” đúng ra phải viết là “nguyên thủy phản chung”, Phản là suy ngược lại, tìm đến tận cội nguồn. Như vậy, “nguyên thủy yếu chung” là truy cầu sự vật từ ban đầu cho đến kết thúc. Nói cách khác, “nguyên thủy yếu chung” là cách suy luận dựa trên tình trạng nguyên sơ của sự vật và tình trạng lúc chung cục của chúng để quy nạp lại mà phán đoán, nhận định. Theo chương Nội Nghiệp sách Quản Tử thì “tinh khí” phải hiểu là “hồn thần”. Trịnh Huyền giảng câu “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến” như sau: “Tinh khí là thần, du hồn là quỷ”. Tức là: Quỷ thần là hình thái do tinh khí biến hóa ra. Sách Lễ Ký cũng giảng: Thể phách tụ xuống đất thành quỷ, bốc lên không thành thần. Những thứ này có tri giác, hưởng thụ nhân gian cúng tế. Hàn Khang Bạch đời Tấn còn đi xa hơn, chú giải rằng: “Khí tụ lại hiển hiện thành vật chất là Thần, phân tán, ẩn kín thì gọi là Hồn”. Trang Tử, Liệt Tử cho rằng Tinh Khí phải hiểu là hình hài thể chất, còn du hồn (linh hồn lãng đãng vô định) chính là tinh thần. Tổng hợp những cách giải thích này, ta có thể tạm hiểu như sau: “Xét từ cội nguồn lẫn chung cục, cho nên biết: Nói đến sanh tử thì tinh khí là thể chất, du hồn biến chuyển. Do vậy, biết được tình trạng của quỷ thần”. Nói cách khác, Khổng Tử thừa nhận con người gồm hai phần: vật chất và linh hồn (nhà Phật gọi là Thức) tồn tại sau khi xác thân đã hư hoại.
95 Xuân Thu Tả Truyện còn gọi là Tả Thị Xuân Thu, hoặc chỉ gọi gọn là Tả Truyện. Gọi như vậy để phân biệt với kinh Xuân Thu (cũng là sử biên niên nước Lỗ) do Khổng Tử san định. Đây là bộ biên niên sử cổ nhất Trung
Sử Cảm Ứng Lục hai quyển chỉ ghi được một phần, hay mười phần trong trăm ngàn mà thôi! Do vậy biết rằng nếu nhà Nho không tin vào sự lý nhân quả báo ứng sanh tử luân hồi thì chẳng những trái nghịch kinh Phật mà thật ra còn trái nghịch thiên mạng, khinh rẻ lời thánh nhân nữa! Nếu không, sáu kinh sẽ chẳng phải là sách vở của Nho gia; Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Châu, Khổng và những vị chép sử các đời đều là tội nhân dối đời lừa dân, có lẽ ấy chăng? Nếu không có nhân quả ba đời thì hóa ra trời ban phát cho con người không công bình, làm thiện uổng công, làm ác được lợi! Chỉ là do đời trước có công hay gây lỗi sai khác nên đời này hưởng thụ khác biệt. Do đó nói: “Vĩnh viễn hợp với lòng trời, tự cầu nhiều phước96, họa phước vô môn, chỉ do con người tự chuốc lấy”. Do vậy, kinh Phật mới dạy: “Muốn biết cái nhân đời trước thì [hãy nhìn] vào những gì được hưởng trong đời này; muốn biết cái quả của đời sau [hãy nhìn vào] những việc làm trong đời này”.
Hiểu rõ điều này thì khổ, sướng, hên, xui đều do tội phước của chính mình chiêu cảm, chứ không phải do trời giáng xuống, cũng chẳng phải do ai khác tạo ra. Do vậy, người quân tử chăm tu đức mình, hành xử thuận theo địa vị, trên chẳng oán trời, dưới chẳng trách người. Vì thế, kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Do sợ nhân nên dùng Giới - Định - Huệ để chế phục cái tâm; khiến cho ý niệm tham - sân - si không do đâu khởi lên được! Khởi tâm động niệm, lời lẽ, hành vi, không gì chẳng phải là lục độ vạn hạnh, là đạo lợi người giúp vật, khi tích chứa đến cùng cực, công thuần thục thì phước huệ vẹn cả đôi bề, triệt chứng tự tâm, dùng đó để viên thành Phật đạo. Chúng sanh chẳng biết quả do nhân chiêu cảm, niệm niệm cứ chăm chú phát khởi tham - sân - si, cho nên hành vi không gì chẳng phải là giết - trộm - dâm. Nhưng hai nghiệp dâm - trộm thì bậc thượng trí bị nghĩa ràng buộc, kẻ hạ ngu do tình thế ngăn cản nên không đến nỗi quá đáng, chứ sát sanh ăn thịt có thể nói là chuyện đương nhiên. Do vậy, hoặc dùng trí để đánh bắt, hoặc dùng tiền của mong cầu, bắt hết thảy chúng sanh sống trên cạn, dưới nước, trên không, rồi giết chóc, cắt xẻ, nấu nướng cho sướng bụng miệng, nuôi thân thể ta, cũng như dùng để dâng lên cha mẹ, cúng kiếng tổ tông, tế lễ quỷ thần, đãi đằng khách khứa, chỉ cốt sướng mình, chẳng nghĩ đến nỗi khổ của chúng nó. Người khắp cõi đời thảy đều như thế! Sát nghiệp tích tụ lâu ngày sẽ phát sanh tai nạn đao binh, lụt lội, hạn hán, tật dịch v.v… Nghiệp quả đã chín muồi thì không cách nào trốn tránh được, dẫu có sanh lòng sợ hãi cũng chẳng ích gì! Do vậy, đức Như Lai thương
____________________________________________
Hoa do sử quan Tả Khâu Minh (556 trước Công Nguyên – 451 trước Công Nguyên) biên soạn thời Xuân Thu (770-476 trước Công Nguyên), chủ yếu chép về lịch sử nước Lỗ và những sự kiện của các vua nhà Châu và chư hầu.
96 Đây là một câu trích từ kinh Thi: “Vĩnh ngôn phối mạng, tự cầu đa phước”. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn Giảng Ký, hòa thượng Tịnh Không giảng như sau: “Vĩnh là vĩnh hằng, “phối mạng” là hợp với lòng trời”