Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) Quyển 1&2 Và Quyển 3&4

Tác giả: Chuyển Ngữ: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa - Giảo Chánh: Minh Tiến & Huệ Trang. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 848.

Chương 279: 3. Lời Bạt Cho Bản Thạch Ấn Bài Tâm Kinh Chép Bằng Lối Chữ Thảo Của Vị Tăng Lạ Lùng Là Thủ Tùng (Trang 604 - 604)

pháp môn, chết làm chủ nhân cõi Nê Lê (địa ngục). So với những người đới nghiệp vãng sanh thì lấy trời và đất để sánh ví vẫn chẳng thể đủ để diễn tả sự sướng và khổ được; huống gì so sánh với những bậc cao hơn! Những ai muốn được lợi ích thật sự ngay trong đời này, lâm chung quyết định vãng sanh, xin hãy thật sự thực hành bằng việc trì giới niệm Phật, sẽ chẳng uổng công đâu!

3. Lời bạt cho bản Thạch Ấn bài Tâm Kinh chép bằng lối chữ thảo của vị Tăng lạ lùng là Thủ Tùng (do chữ viết liên tiếp nhau, không tách ra được nên chưa in)

        Kinh văn này tuy giản lược nhưng nghĩa lý cực rộng sâu, Tánh - Tướng dung thông, Chân - Tục cùng mất! Vạn pháp sâm la nhưng nhất đạo thanh tịnh. Do vậy hễ khởi Quán Chiếu thì xóm làng Ngũ Uẩn nhanh chóng trống rỗng, Thật Tướng phô bày trọn vẹn, sanh lên bờ kia Tứ Đức. Nói đến sự rộng lớn của kinh thì dù cạn hết biển mực cũng chẳng thể thuật hết nghĩa đó. Nói đến sự tinh vi thì tìm lấy một chữ cũng trọn chẳng thể được! Chí viên, chí đốn, tối diệu, tối huyền. Đúng là thầy của chư Phật, là mẹ của Bồ Tát, là cốt lõi của sáu trăm quyển Bát Nhã755, là cương tông của toàn bộ Đại Tạng thánh giáo. Ấy là vì đức
_____________________________________
207 Kinh Đại Bát Nhã (Mahā-prajñāpāramitā-sūtra) gồm 600 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường. Trong Đại Tạng Kinh, kinh này chiếm hết ba phần tư hệ thống Bát Nhã. Có thể nói, kinh này là một bộ đại tập thành của toàn bộ những kinh văn thuộc hệ thống Bát Nhã. Trước thời ngài Huyền Trang, đã có những bản dịch một phần kinh Bát Nhã như Kim Cang Bát Nhã, Phóng Quang Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát Nhã, Đạo Hành Bát Nhã, Đại Phẩm Bát Nhã v.v… Do vậy, ngài Huyền Trang bèn tập hợp các bản dịch, so sánh với ba thứ bản gốc tiếng Phạn, sai các vị Gia Thượng, Đại Thừa Khâm, Đại Thừa Quang, Huệ Lãng, Khuy Cơ làm Bút Thọ (ghi chép bản dịch), Huyền Trắc, Thần Phưởng làm Xuyết Văn (nhuận sắc sửa đổi câu văn cho hoàn chỉnh, đẹp đẽ), Huệ Quý, Thần Thái, Huệ Cảnh làm nhiệm vụ Chứng Nghĩa để cùng với Ngài dịch lại kinh này tại chùa trong cung Ngọc Hoa, từ tháng Giêng năm Hiển Khánh thứ năm (660) đời Đường Cao Tông đến tháng Mười năm Long Sóc thứ ba (663) mới dịch xong. Tháng Hai năm sau, tuân theo lời thỉnh cầu của Tăng chúng, Ngài cầm bút dịch được mấy trang kinh Bảo Tích bèn ngừng vì biết lúc thị tịch đã đến. Toàn kinh Đại Bát Nhã chia thành mười sáu hội được giảng tại bốn chỗ (núi Linh Thứu ở thành Vương Xá, vườn Cấp Cô Độc, cung trời Tha Hóa Tự Tại và Trúc Lâm tinh xá thuộc thành Vương Xá). Các hội thứ 1, 3, 5, 11, 12, 13, 14, 15, 16, tổng cộng bảy hội là do ngài Huyền Trang dịch mới, gồm 481 quyển. Bảy hội kia là bản dịch lại những bản cựu dịch.
Hội thứ nhất tương ứng với Phạn Bản là bộ Thập Vạn Tụng Bát Nhã (Śatasāhasrikā-prajñāpāramitā). Hội thứ hai tương ứng với bộ Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhã (Pañcavijśatisāhasrikā-prajñāpāramitā) của Phạn Bản. Các bản Hán dịch biệt xuất từ hội này là kinh Quang Tán Bát Nhã, Phóng Quang Bát Nhã, và Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh (27 quyển). Hội thứ tư tương ứng với Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasāhasrikā-prajñāpāramitā), các kinh biệt xuất là Đạo Hành Bát Nhã của ngài Chi Lâu Ca Sấm, Đại Minh Độ Kinh của ngài Chi Khiêm đời Ngô, Tiểu Phẩm Bát Nhã Kinh của ngài Cưu Ma La Thập, Phật Mẫu Xuất Sanh Tam Pháp Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa của ngài Thi Hộ. Hội thứ sáu giống với kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật do ngài Nguyệt Bà Thủ Na dịch vào đời Trần. Hội thứ bảy tương ứng với Thất Bách Tụng Bát Nhã (Saptaśatikā-prajñāpāramitā) của Phạn Bản. Hội này chính là bản dịch khác của kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa do ngài Tăng Già Ba La dịch và kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa của ngài Mạn Đà La Tiên dịch vào đời Lương (chép trong kinh Đại Bảo Tích). Hội thứ tám chính là bản dịch khác của kinh Nhu Đạo Bồ Tát Vô Thượng Thanh Tịnh Phần Vệ Kinh do ngài Tường Công dịch vào đời Tống. Hội thứ chín là kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Hội này chính là bản dịch khác các kinh cùng mang tên Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa do các ngài Cưu Ma La Thập, Bồ Đề Lưu Chi, Chân Đế cũng như Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa do ngài Cấp Đa dịch, kinh Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào thời Đường. Hội thứ 10 tương ứng với kinh Lý Thú Bát Nhã (Prajñāpāramitā-naya-śatapañcāśatikā), 
/395
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »