10. TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ CỦA PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN[1]
Nguyên tác: Pháp sư Trí Tùy
Diệu Mỹ dịch
I- Tuyển chọn bản nguyện, chỉ cốt ở việc niệm Phật
Tông Tịnh Độ được lưu truyền liên tục suốt đến thời Đại sư Ấn Quang, tuy việc hoằng hóa có sự diễn biến, nhưng muôn biến vẫn không rời tông chỉ, chỉ có điều là khi ẩn khi hiển bất đồng mà thôi. Tông Tịnh Độ phán giáo tổng quát chẳng ngoài hai môn là Thánh đạo môn và Tịnh độ môn; hai giáo là Đốn giáo và Tiệm giáo; và hai môn là Yếu môn và Hoằng nguyện môn; hai hạnh là Chánh hạnh và Tạp hạnh. Hai môn Thánh và Tịnh, hai giáo Tiệm và Đốn đã gồm thâu giáo pháp của một đời Phật thuyết; hai môn Yếu và Hoằng, hai hạnh Chánh và Tạp, đó là cương yếu của tông Tịnh Độ. Phán giáo chi tiết của giáo hạnh này là trí và hành của tông
[1] Nhan đề này do người dịch đặt. Bài này dịch chương thứ 5 ‘Kết thị tông yếu, thùy phạm vĩnh đại’ (Pháp Nhiên thượng nhân) trong sách Tịnh độ tông phán giáo sử lược yếu của Pháp sư Trí Tùy.
Tịnh Độ, là kim chỉ nam dẫn đến Tây phương. Nếu là kẻ thực sự muốn hiện đời này liễu thoát sanh tử, nên khéo biết chọn lựa. Nếu chẳng phải là hàng thượng căn lợi trí, bậc đại lực thánh nhân, thì nên đặc biệt dốc lòng vào môn Tịnh độ, hiểu rõ việc được và mất giữa Chánh hạnh và Tạp hạnh, tập trung vào nhất hướng chuyên xưng. Không thể gộp chung pháp môn Tịnh Độ đặc biệt với pháp môn thông thường khác mà bàn luận lẫn lộn mơ hồ, vì tông chỉ pháp môn khác nhau. Tổ Ấn Quang phân biệt việc này rất tường tận, ngài nói rằng “Li tắc lưỡng ích, hợp tắc lưỡng hại” (tách ra thì hai bên đều có lợi, gộp lại thì hai bên đều có hại), đây là lời dạy khẩn thiết nhất. Nếu không hiểu rõ lợi ích của pháp môn đặc biệt là nương vào Phật lực, lại dựa vào nghĩa tự lực của pháp môn thông thường, mà nghi ngờ rồi không chịu tin nhận, thì quả là mất mát lớn lao! Tự lực làm sao có thể sánh bằng với Phật lực! Đây là cái ải quan trọng nhất của người tu pháp môn Tịnh Độ. Hiểu rõ ý nghĩa ấy, tự mình có thể kiên quyết bỏ hẳn các pháp môn khác, chỉ quý trọng một hạnh niệm Phật, như thế thì mới không phụ dụng ý phán giáo của chư Tổ.
Trên đây phần nhiều căn cứ vào phán giáo và tư tưởng của các vị Tổ ở Tây Vực và Trung Quốc để rút ra những điều cốt yếu, tuy nói không hết mười mươi, nhưng để hiểu rõ tông Tịnh Độ thì cũng chẳng có gì trở ngại. Như biển cả tuy mênh mông, nhưng chỉ cần múc nếm một giọt thì liền biết vị của nó. Tuy vẫn còn một số vị Tổ sư vốn có dấu ấn sâu đậm khó phai trong việc hoằng truyền tông Tịnh Độ chưa được đề cập đến, nhưng vì phán giáo và tư tưởng của các ngài đã gồm trong phán giáo các vị Tổ nói trên, nên không kể ra hết.
Ngoài ra, các trứ tác sớ của các ngài Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo tuy bị tản mát thất lạc ở Trung Quốc, nhưng lại rất thịnh truyền ở Nhật Bản và được phát huy mạnh mẽ. Pháp Nhiên thượng nhân (1133-1212), người được tôn xưng là ‘Trí huệ đệ nhất’, vì muốn tìm cầu pháp môn vắn tắt, mau chứng, nên ngài đã năm lần đọc Đại Tạng kinh. Nhờ tác phẩm Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo, thượng nhân đã thấu rõ con đường xuất ly sanh tử chỉ cốt ở pháp môn Tịnh Độ, nên ngài chọn riêng ra để đọc kỹ càng. Khi đọc lần thứ tám đến đoạn văn ‘Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, đi đứng ngồi nằm, bất kể thời gian dài hay ngắn, niệm niệm không từ bỏ, gọi là Chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Ngài’, tâm trí ngài bỗng chợt sáng ra, các mối nghi ngờ lo lắng như băng tan chảy hết. Ngài ngộ biết:
Phàm phu tán loạn, tội ác sâu nặng, phiền não sôi sục, chỉ cần xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật, nương vào nguyện lực của Đức Phật, thì chắc chắn được vãng sanh vào Báo độ của Phật A-di-đà.
Từ đó, ngài ẩn tướng trí huệ, hiện thân ngu đần, chỉ nhất hướng niệm Phật. Đồng thời nương theo Đại sư Thiện Đạo, ngài khai sáng tông Tịnh Độ ở Nhật Bản. Tôn chỉ căn bản ngài trong việc khai tông lập giáo, được ghi trong tác phẩm Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập:
Hạnh nghiệp vãng sanh, lấy niệm Phật làm gốc.
Để giải thích nghĩa này, trong chương thứ 3 “Chương Bản nguyện”, đặc biệt triển khai rõ ràng Phật A-di-đà ‘Tuyển xả chư hạnh, tuyển thủ niệm Phật’ (chọn bỏ các hạnh,
chọn lấy niệm Phật), đó là điều cốt yếu của bản nguyện Phật A-di-đà, nguồn gốc phán giáo của tông Tịnh Độ được hiển bày thông suốt. Trong chương này có ghi:
Hỏi: Thông thường các nguyện là chọn xả bỏ điều thô ác, mà chọn làm việc thiện diệu, đúng lý là như vậy. Vì sao trong nguyện thứ 18, lại chọn xả bỏ tất cả các hạnh, chỉ nghiêng về một hạnh niệm Phật, đó là bản nguyện vãng sanh hay sao?
Đáp: Ý của bậc Thánh khó lường, không thể hiểu được. Tuy nhiên, nay tôi sẽ dùng hai nghĩa để giải thích, một là nghĩa “thắng liệt” (hơn, kém), hai là “nan dị”(khó, dễ).
Đầu tiên, nghĩa ‘thắng liệt’: Niệm Phật là thắng, những hạnh khác là liệt, vì sao? Vì danh hiệu là nơi qui tụ của muôn vàn công đức. Thế thì tất cả công đức nội chứng của Đức Phật A-di-đà gồm Tứ trí, Tam thân, Thập lực, Tứ vô úy v.v. và tất cả công đức ngoại dụng như tướng, hảo, quang minh, thuyết pháp, lợi sanh v.v., thảy đều thu nhiếp vào trong danh hiệu Phật A-di-đà, cho nên công đức của danh hiệu là thù thắng hơn hết. Các hạnh khác chẳng phải vậy, mỗi hạnh chỉ tốt riêng một khía cạnh nào đó thôi, thế nên gọi là liệt (kém). Thí dụ như trong cái tên gọi ‘ngôi nhà’ thì nó đã bao gồm cột, kèo, đòn dông, đòn tay v.v. và các đồ gia dụng, nội thất. Nhưng trong mỗi cái tên cột, kèo… chẳng thể bao gồm được tất cả, vì vậy biết rằng công đức trong câu danh hiệu Phật A-di-đà vượt hơn tất cả các công đức khác, cho nên, lấy ‘xả liệt thủ thắng’ (bỏ kém chọn hơn) làm bản nguyện.
Kế đến, nghĩa ‘nan dị’: Niệm Phật dễ tu, các hạnh khác khó tu, cho nên trong ‘Vãng sanh lễ tán’có ghi:
Hỏi: Vì sao không dạy quán tưởng, mà chỉ dạy chuyên xưng danh tự, là có ý gì ?
Đáp: Vì chúng sanh chướng nặng, cảnh vi tế mà tâm thì thô tháo, thần thức tán loạn, quán tưởng khó mà thành tựu được, thế nên, Đức Phật thương xót chúng sanh, chỉ khuyên chuyên xưng danh tự, chính vì do xưng danh dễ, nên có thể xưng liên tục thì liền được vãng sanh.
Lại nữa, trong Vãng sanh yếu tập có ghi:
Hỏi: Tất cả các việc làm thiện, mỗi việc đều có lợi ích, mỗi việc đều có thể vãng sanh, vì sao chỉ khuyên duy nhất một môn niệm Phật?
Đáp: Nay khuyên niệm Phật, chẳng phải là ngăn che các hạnh tốt khác, chỉ vì niệm Phật thì dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kể nam nữ sang hèn, không luận đi đứng nằm ngồi, lúc nào chỗ nào, cũng đều tu được chẳng khó khăn gì; cho đến khi lâm chung, nguyện cầu vãng sanh, được như ý nguyện, không hạnh nào bằng hạnh niệm Phật.
Nên biết, vì niệm Phật dễ, phù hợp chung cho tất cả mọi người; còn các hạnh khác thì khó, không thể dùng chung cho tất cả các căn cơ. Nhưng vì muốn cho tất cả chúng sanh vãng sanh một cách bình đẳng, nên lấy “xả nan thủ dị” (bỏ khó chọn dễ) làm bản nguyện!
Nếu lấy ‘Tạo tượng xây tháp’ làm bản nguyện, thì hạng nghèo cùng khốn khó sẽ tuyệt đường vãng sanh; trong khi người giàu sang thì ít, kẻ nghèo hèn thì nhiều.
Nếu lấy ‘Trí huệ tài cao’ làm bản nguyện, thì người ngu
đần hạ trí sẽ tuyệt đường vãng sanh; trong người trí huệ thì ít, kẻ ngu si thì nhiều.
Nếu lấy ‘Đa văn đa kiến’ làm bản nguyện, thì người học ít hiểu cạn sẽ tuyệt đường vãng sanh; trong khi người học nhiều thì ít, kẻ ít học thì nhiều.
Nếu lấy ‘Gìn giữ giới luật’ làm bản nguyện, thì người phá giới, không thọ giới sẽ tuyệt đường vãng sanh; trong khi người giữ giới thì ít, kẻ phá giới thì nhiều.
Và các hạnh khác, cũng giống như thế.
Nên biết, nếu lấy những hạnh ở trên làm bản nguyện, thì người được vãng sanh rất ít, người không được vãng sanh thì nhiều. Thế nên, Phật A-di-đà thưở xưa khi còn là tỳ-kheo Pháp Tạng, do vì tâm từ bi bình đẳng thôi thúc, vì muốn độ khắp tất cả mọi loài, Ngài không lấy các hạnh tạo tượng xây tháp v.v. làm bản nguyện, mà chỉ lấy duy nhất một hạnh xưng danh niệm Phật làm bản nguyện của mình.
Vì thế, trong Ngũ hội pháp sự tán của Thiền sư Pháp Chiếu có ghi:
Đức Phật thưở xưa phát nguyện lớn,
Nghe danh niệm, Ta đều đến rước,
Không kén nghèo khó hay giàu sang,
Không chọn kẻ ngu hay người trí,
Không phân học rộng, hay trì giới,
Không phân phá giới, tội chướng sâu,
Chỉ cần hồi tâm chuyên niệm Phật,
Có thể biến gạch ngói thành vàng.
Đức Phật A-di-đà vì tâm từ bi bình đẳng thôi thúc, nên
chọn một hạnh xưng danh làm bản nguyện của mình, chủ ý ‘Nhiếp vạn cơ ư nhất nguyện, thu thiên phẩm ư thập niệm giả dã’ (nhiếp muôn bậc căn cơ trong một nguyện, độ nghìn loài hữu tình trong mười niệm). Bất luận là người trí, kẻ ngu, trì giới, phá giới, chỉ cần có thể hồi tâm niệm Phật, thì có thể chuyển phàm thành thánh. ‘Ân cần phó chúc chương’ là chương cuối cùng trong Tuyển trạch tập, do sự tuyển chọn của Phật A-di-đà, đến Đức Phật Thích-ca và các Đức Phật cùng tuyển chọn, lấy ý nghĩa ‘Bát tuyển trạch’ (tám điều tuyển chọn) làm rõ tâm yếu ‘Chư Phật đồng tâm, tuyển trạch niệm Phật’ vạch ra điểm cốt lõi của tông Tịnh Độ. Đoạn văn như sau:
Căn cứ ba kinh Tịnh độ, trong tất cả các hạnh, lấy tuyển trạch niệm Phật làm nơi quy hướng.
Trước tiên, trong kinh Song quyển[1] có ba sự tuyển chọn: Một là Tuyển chọn bản nguyện, hai là Tuyển chọn tán thán, ba là Tuyển chọn lưu giáo.
1. Tuyển chọn bản nguyện: Tỳ-kheo Pháp Tạng trong 21 tỉ cõi nước, đã chọn ra hạnh niệm Phật vãng sanh này, chi tiết xem đoạn trên đã nêu, nên gọi là Tuyển chọn bản nguyện.
2. Tuyển chọn tán thán: Trong ba hạng người, thượng, trung, hạ căn nêu trên, tuy có nêu lên những hạnh khác như phát bồ-đề tâm v.v., nhưng Đức Phật Thích-ca không tán thán những hạnh này, mà Ngài chỉ tán thán hạnh niệm Phật rằng: “Nên biết công đức của một niệm là vô thượng”, nên gọi là Tuyển chọn tán thán.
[1] Kinh Song quyển: Tức kinh Vô Lượng Thọ (2 quyển).
3. Tuyển chọn lưu giáo: Lại nữa, ở trên tuy có nêu lên các hạnh thiện, nhưng Đức Phật Thích-ca tuyển chọn chỉ lưu một pháp niệm Phật, nên gọi là Tuyển chọn lưu giáo.
Kế đến, trong Quán kinh lại có ba sự tuyển chọn: Một là Tuyển chọn nhiếp thủ, hai là Tuyển chọn hóa tán, ba là Tuyển chọn phó chúc.
1. Tuyển chọn nhiếp thủ: Trong Quán kinh tuy có nói về các hạnh Định và Tán, nhưng ánh sáng của Đức Phật A-di-đà chỉ chiếu đến chúng sanh niệm Phật, nhiếp thủ không từ bỏ, nên gọi là Tuyển chọn nhiếp thủ.
2. Tuyển chọn hóa tán: Những người hạ phẩm thượng sanh, có hai hạnh là nghe kinh và xưng danh hiệu Phật, trong Di-đà hóa Phật tuyển chọn niệm Phật có ghi: “Vì các ông xưng danh hiệu Phật, các tội được tiêu trừ, Ta đến rước các ông”, nên gọi là Tuyển chọn hóa tán.
3. Tuyển chọn phó chúc: Lại nữa, tuy có nói về các hạnh Định và Tán, nhưng Đức Phật Thích-ca chỉ phó chúc riêng một hạnh niệm Phật, nên gọi là Tuyển chọn phó chúc.
Kế nữa là, trong kinh A-di-đà có một tuyển chọn, đó là ‘Tuyển chọn chứng thành’. Ở trong các kinh khác tuy có nói nhiều về các hạnh vãng sanh, nhưng các hạnh đó không được sự chứng thành của sáu phương chư Phật. Còn trong kinh A-di-đà, khi nói đến niệm Phật vãng sanh, thì sáu phương Hằng hà sa chư Phật dùng tướng lưỡi rộng dài trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới các Ngài đều nói lời thành thật để chứng thành việc này, nên gọi là Tuyển chọn chứng thành.
Hơn nữa, trong kinh Bát-chu tam-muội lại có một tuyển
chọn nữa, đó là ‘Tuyển chọn ngã danh’. Đức Phật A-di-đà tự nói rằng: “Nếu ai muốn sanh vào nước Ta, thường niệm danh hiệu Ta, chớ có ngừng nghỉ”, nên gọi là Tuyển chọn ngã danh.
Bản nguyện, nhiếp thủ, ngã danh, hóa tán, bốn điều này là sự tuyển chọn của Phật A-di-đà.
Tán thán, lưu giáo, phó chúc, ba điều này là sự tuyển chọn của Phật Thích-ca.
Chứng thành là sự tuyển chọn của sáu phương Hằng hà sa các Đức Phật.
Vậy thì, Phật Thích-ca, Phật A-di-đà và Hằng hà sa các Đức Phật trong mười phương đều đồng tâm tuyển chọn một hạnh niệm Phật, các hạnh khác thì không.
Vì thế nên biết, ba kinh đều chọn niệm Phật làm tôn chỉ tột cùng mà thôi.
Tóm tắt ý nghĩa tám sự chọn lựa qua đồ biểu sau:

Xem xét ý nghĩa ‘Tám điều tuyển chọn’ trên đây, thì nhận rõ ngay tông chỉ Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật của tông Tịnh Độ. Trong Tuyển trạch tập ban đầu nêu ra các đoạn văn quan trọng để chỉ bày ‘nan dị nhị đạo, Thánh Tịnh nhị môn, chánh tạp nhị hạnh’, đồng thời tác giả giải thích ý nghĩa đoạn văn đó; sau cùng lấy sự phán giáo cốt lõi của chư Tổ dung hòa làm một thể, đem ý nghĩa cốt lõi của việc ‘Tuyển trạch’ đúc kết thành phương châm bốn chữ ‘Các, phao, bàng, chuyên’(Gác lại, vứt bỏ, phụ, chuyên), chỉ thẳng chỗ cốt lõi, gọi là thấu triệt tâm thánh, thông suốt tấm lòng của Phật. Bài văn như sau:
Dục tốc ly sanh tử,
Nhị chủng thắng pháp trung,
Thả các Thánh đạo môn,
Tuyển nhập Tịnh độ môn.
Dục nhập Tịnh độ môn,
Chánh tạp nhị hạnh trung,
Thả phao chư tạp hạnh,
Tuyển ưng qui chánh hạnh.
Dục tu ư chánh hạnh,
Chánh trợ nhị nghiệp trung,
Du bàng ư trợ nghiệp,
Tuyển ưng chuyên chánh định.
Chánh định chi nghiệp giả,
Tức thị xưng Phật danh,
Xưng danh tất đắc sanh,
Y Phật bản nguyện cố.
Nghĩa là:
Muốn mau lìa sanh tử,
Trong hai pháp môn Phật,
Tạm gác Thánh đạo môn,
Chọn vào Tịnh độ môn.
Muốn vào Tịnh độ môn,
Trong hai hạnh chánh ,tạp,
Tạm bỏ các tạp hạnh,
Chọn quay về chánh hạnh.
Muốn tu nơi chánh hạnh,
Trong hai nghiệp chánh, trợ,
Trợ nghiệp để sang bên,
Chọn chuyên chánh định nghiệp.
Người tu chánh định nghiệp,
Tức là xưng danh Phật,
Xưng danh ắt vãng sanh,
Vì nương bản nguyện Phật.
Trong hai pháp môn tối thắng, tạm gác Thánh đạo môn, chọn Tịnh độ môn;
Trong hai hạnh chánh, tạp, tạm bỏ các tạp hạnh, chọn quay về chánh hạnh;
Trong hai nghiệp chánh, trợ, trợ nghiệp để sang bên, chọn chuyên chánh định nghiệp:
Đoạn văn ba sự tuyển chọn này là cốt lõi tổng kết cả bộ Tuyển trạch tập, làm rõ tâm yếu phán giáo của tông Tịnh Độ một cách trọn vẹn và triệt để.
Vì thế nên biết, ba tầng tuyển chọn, cốt ở việc thuận theo bản nguyện Đức Phật A-di-đà, nhất hướng chuyên xưng. Đây
là nơi tột cùng quay về của tông Tịnh Độ, tâm yếu chuyên lại càng chuyên, xem qua là biết ngay không sót điều gì. Bài văn tuy ngắn, nhưng ẩn ý vô cùng, hiển bày rõ cốt tủy tông Tịnh Độ. Mạch pháp nghĩa của Đại sư Thiện Đạo cũng được trình bày rất cô đọng, súc tích.
Ý nghĩa của ba tầng tuyển chọn được hiển thị qua đồ biểu sau:

Cả một đời giáo hóa của Pháp Nhiên thượng nhân cũng chỉ tuân theo nguyên tắc “Các, phao, bàng, chuyên”, ngài chỉ đề xướng một hạnh xưng danh niệm Phật, chỗ nào cũng dạy người về tâm yếu “Ngoài việc chỉ nghĩ đến ‘bản nguyện không giả dối, xưng danh ắt vãng sanh’, tâm chẳng còn bị việc gì ràng buộc nữa”, các giáo nghĩa hoàn toàn được thể hiện rõ trong hạnh xưng danh, đó là:
Ngoài việc xưng danh, không có chánh nhân nào khác quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có chánh hạnh nào khác quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có chánh nghiệp nào khác quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có quán tưởng nào quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có trí huệ nào quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có tam tâm nào quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có tứ tu nào quyết định vãng sanh;
Ngoài việc xưng danh, không có ngũ niệm nào quyết định vãng sanh;
Hễ những ai nghe qua tâm yếu này, ai nấy đều phát khởi tín tâm, hoan hỉ niệm Phật.
Pháp Nhiên thượng nhân là ứng thân của Bồ-tát Đại Thế Chí, cả đời thông suốt giáo nghĩa, hướng tâm về đất Phật; tự hành hóa tha, chỉ cốt một việc niệm Phật. Những ai đến hỏi về bờ giác ngộ, ngài chỉ bày Tây phương là bờ giác chung; những ai tìm cầu hạnh giải thoát, ngài dạy chỉ riêng hạnh niệm Phật. Người tin thì nhiều, kẻ không tin thì ít. Các đệ tử môn hạ của ngài rất đông, một thời thịnh vượng. Sau khi Thượng nhân nhập diệt, đệ tử của ngài ở khắp nơi, người thì rảnh rang niệm Phật, người thì hoằng hóa một phương, từ đó sen nở chín cánh, các dòng phái khác nhau được hình thành như: Dòng Trấn Tây, dòng Tây Sơn, Chân Tông, Thời Tông v.v., tông Tịnh Độ rất hưng thịnh trong đời, đúng thật là sen nở khắp nơi. Đạo Phật ở Nhật Bản, cùng trời cuối biển, quá nửa số người đều nương về Tịnh độ môn, đó đều nhờ sự khuyến hóa của Pháp Nhiên thượng nhân.
Một câu danh hiệu Phật, nhiếp hóa khắp mười phương, không hề bị chướng ngại. Hành giả bị khổ não, cần nương nguyện đại bi; bị phiền não vô minh, cần ánh sáng trí huệ. Tâm đại bi không kén chọn, bình đẳng độ hữu tình. Vì thế, khiến cho pháp dễ hành được lưu hành khắp trong thế gian. Đúng như thiền sư Pháp Chiếu đã dạy:
Tôn hiệu Di-đà thậm phân minh,
Thập phương thế giới phổ lưu hành.
Đản hữu xưng danh giai đắc vãng,
Quán Âm, Thế Chí tự lai nghinh.
Nghĩa là:
Tôn hiệu Di-đà rất rõ ràng,
Mười phương thế giới khắp lưu hành.
Chỉ có xưng danh được vãng sanh,
Quán Âm, Thế Chí đích thân nghinh.
Lời thệ nguyện của ngài Pháp Tạng:
Ngã nhược thành Chánh giác,
Lập danh Vô Lượng Thọ;
Chúng sanh văn thử hiệu,
Câu lai ngã sát trung.
Như Phật kim sắc thân,
Diệu tướng tất viên mãn;
Diệc dĩ đại bi tâm,
Lợi ích chư quần phẩm.
Nghĩa là:
Nếu Tôi thành Chánh giác,
Lập danh Vô Lượng Thọ;
Chúng sanh nghe danh hiệu,
Đều đến cõi nước Tôi.
Thân sắc vàng như Phật,
Tướng tốt đều viên mãn;
Cũng dùng tâm đại bi,
Làm lợi ích mọi loài.
Nhờ vào sự khai hiển của các Tổ ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, tông Tịnh Độ cuối cùng được tỏa sáng trong thế gian, nhiếp hóa chúng sanh khắp mười phương.
II- Hai đặc tính thắng và dị là nền tảng pháp mạch
Phán giáo tông Tịnh Độ ở Trung Quốc, tuy có một quá trình theo thứ tự tiệm tiến và ngày càng thành thục, ngay cả trong quá trình hoằng truyền giáo nghĩa, cũng có hiện tượng pha trộn với các tông, lại từ sự pha trộn đó dần dần tách ra, thời cơ khiến cho như thế, nhưng pháp mạch căn bản thì trước sau như một, tức là tin vào bản nguyện Phật, niệm Phật được vãng sanh. Đây là con mắt của phán giáo, là cốt lõi của cả một tông Tịnh Độ. Có thể nói như vẽ rồng vốn có một quá trình thứ tự, chi tiết nhất định, nhưng chỗ điểm nhãn mới là nét bút mang lại thần khí, đây chính là mạng mạch của con rồng. Nét bút này khiến con rồng có được sinh mạng, có được sức sống. Phán giáo cũng như thế, sự khai hiển của các giáo tướng, giáo nghĩa nhằm đem lại pháp lực vô úy cho chúng sanh bị khổ não. Đúng là “Tất cả sợ hãi, đều khiến an ổn”. Mục đích thực sự của phán giáo là chỉ ra chốn quay về. Như ngón tay chỉ mặt trăng, nhằm để cho mọi người ngắm trăng, chỉ cần có thể nhìn từ xa, thì
mới có thể tận hưởng nét đẹp của mặt trăng. Hành giả tông Tịnh Độ, chỉ cần tin vào “xưng danh ắt vãng sanh” mà nhất hướng niệm Phật, thì chẳng khác gì đã thừa hưởng toàn bộ gia nghiệp của Tổ sư, hưởng được tinh túy của tông Tịnh Độ rồi. Dẫu cho những mục đích và ý nghĩa của phán giáo khó mà thấu hiểu hết thì cũng không có gì hối tiếc. Huống hồ chúng ta là phàm phu tội chướng ở thời mạt thế, phước huệ cạn mỏng, làm sao có thể thấu triệt ý Phật? Dẫu cho dốc hết tinh thần sức lực cả đời, cũng khó mà hiểu hết được ẩn ý vi tế, khó mà biết được ý nhiệm mầu ấy. Các vị Tổ bằng đại trí huệ, đại biện tài của các ngài, tóm gọn những điều cốt yếu, đơn giản, phán định rõ tông chỉ tu học cho phàm phu chúng ta, để phá nghi trừ chướng, hướng đến chuyên tu. Chỉ cần chân thật niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương, tự nhiên thầm hợp với đạo mầu, ngầm thông với trí Phật. Đây là cốt lõi dễ thực hành, mau đến đích của pháp môn Tịnh Độ, chứ chẳng phải ở việc nhận biết lý luận nhiều hay ít. Dầu cho hạng người dốt đến một chữ cũng không biết, chỉ cần tương tục niệm Phật, cũng chắc chắn được vãng sanh thành Phật. Ngay cả đến khi thời kỳ Tam bảo diệt tận, người nghe danh hiệu cũng có thể được độ, như Đại sư Thiện Đạo đã nói:
Vạn năm Tam bảo diệt, kinh này trụ trăm năm,
Lúc ấy nghe một niệm, đều sẽ được vãng sanh.
Pháp môn Tịnh Độ, có thể trùm khắp cả ba căn thượng, trung và hạ, nhiếp thu toàn bộ kẻ lanh lợi người chậm lụt, mãi mãi là món quà vĩ đại ban cho chúng sanh lợi ích chân thật. Xét kỹ việc này, chúng ta thấy được ân đức của Phật sâu rộng biết dường nào, làm sao có thể nói hết được!
Tông Tịnh Độ thông qua ba vị Tổ sư là Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo khai hiển mà được sáng tỏ trong thế gian. Từ đó phong trào tu Tịnh độ thịnh hành, hương sen tỏa ngát nơi nơi. Về sau lại nhờ vào sự tiếp nối và truyền thừa của các vị Tổ Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích, Ấn Quang cho đến Pháp Nhiên thượng nhân v.v., khiến cho danh hiệu Phật A-di-đà được truyền khắp, tông Tịnh Độ vang khắp mười phương. Các vị Tổ thương xót chúng sanh khổ não, nên các ngài mặc giáp hoằng thệ, nương nguyện đại bi, để báo ân sâu rộng của các Đức Phật đã hiện tướng lưỡi rộng dài, phủ khắp mây từ bi, rưới khắp nước cam lồ. Các ngài ấy đã hoằng dương trong gian khổ, truyền bá trong cảnh khó khăn, không hề sợ sệt “nguyện đem Đông Độ ba nghìn cõi, trồng sen chín phẩm khắp Tây Phương”, vì chúng sanh thời mạt thế ngũ trược mà dựng lên tòa tháp đăng huy hoàng, soi sáng đêm dài tăm tối.
Mặc dù xem xét phán giáo giải thích của các vị Tổ, chúng ta biết được pháp môn Tịnh Độ tuy thực hành đơn giản, dễ dàng, nhưng ý nghĩa lại rất sâu xa huyền diệu, toàn thể là cảnh giới Phật, không xen tạp việc làm hữu vi, vượt ra khỏi kiến giải thường tình. Trên đến chư Phật và Bồ-tát, dưới đến ngũ nghịch thập ác, không ai không qui hướng.
Kinh Bát-chu tam-muội ghi:
-Chư Phật ba thời, niệm Phật A-di-đà tam-muội, đắc thành Chánh giác.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi:
Chư Phật ba thời trong mười phương,
Hiện tại, quá khứ và vị lai,
Đều do nhân niệm Phật,
Chứng thành Vô thượng giác.
Ý kinh ở đây hiển bày rõ nghĩa các Đức Phật niệm Phật thành Phật. Các Đức Phật đều quy về Phật A-di-đà, lấy Phật A-di-đà làm tự tánh, từ Phật trở xuống, không ai không tuân theo. Cho nên phẩm sau cùng trong kinh Hoa nghiêm lấy mười đại hạnh nguyện nhiếp khắp Hoa Tạng hải chúng, cùng quay về Tịnh độ Cực Lạc, để mong ngày viên mãn Phật quả. Ý nghĩa đoạn này nói về Bồ-tát quy hướng Tịnh độ, nghĩa là “Bồ-tát thập địa, trước sau đều không xa rời việc niệm Phật”. Trong Quán kinh thì lấy việc vãng sanh của hạng ngũ nghịch thập ác, đặc biệt hiển bày ra ý chính rằng phàm phu hạ căn cũng được vãng sanh, môn đại bi che chở khắp tất cả, dùng những điều này để làm hiển bày tấm lòng cứu độ chúng sanh của Như Lai.
Rộng lớn thay! Pháp môn Tịnh Độ! Phàm Thánh chung đến, ngũ thừa cùng vào. Đây chính là chỗ mà tông Tịnh Độ vượt hơn hẳn tất cả các pháp môn khác. Vì thế, cả đời giáo hóa của Đức Phật, đều chỉ dạy quay về Tịnh độ; các bậc hiền triết của các tông phái, không ai không hồi hướng phát nguyện vãng sanh. Như các vì sao hướng về sao Bắc đẩu, muôn dòng chảy đổ về biển cả. Các vị Tổ sư qua các thời đại: Có người kiêm tu tông khác, nhưng vẫn quy hướng Tịnh độ, rộng mở yếu môn Tịnh độ; có người chuyên hoằng dương Tịnh tông, chỉ bày thẳng sự chân thật, chủ yếu nói về hoằng nguyện môn. Các bậc Thánh hiền đi trước, đều khen ngợi câu “Nam-mô A-di-đà Phật” là “ánh sáng cao quý nhất trong các loại ánh sáng, là vua trong tất cả các Đức Phật”. Thật đúng như Tổ Ấn Quang đã nói:
Từ khi giáo pháp của Phật truyền vào Trung Quốc, Lô Sơn sáng lập ra Liên xã, nhất hô bá ứng, không ai không tuân theo. Nhưng có công lớn lao và rõ ràng nhất là, thời Bắc Ngụy có ngài Đàm Loan, ngài là người khó đoán biết được, nhân có việc đến Nam triều gặp Lương Võ Đế, sau đó lại trở về phương bắc. Võ Đế thường hướng về phương bắc cúi đầu lạy và tán thán: “Pháp sư Đàm Loan, nhục thân Bồ-tát”. Thời Trần, Tùy thì có ngài Trí Giả. Thời Đường thì có ngài Đạo Xước, người nối gót Tổ Đàm Loan, chuyên tu tịnh nghiệp, cả đời ngài giảng dạy Tịnh độ tam kinh có đến vài trăm lần. Môn hạ của ngài Đạo Xước là ngài Thiện Đạo, cho đến Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Đại Hành, thì gió hương sen tỏa ngát khắp trong ngoài. Do đó, các bậc tri thức của các tông phái không ai không lấy đạo này mật tu hiển hóa, tự lợi lợi tha.
Đồng thời ngài dùng kệ khen rằng:
Rộng lớn thay pháp môn Tịnh Độ,
Là nơi hướng về của các pháp.
Hợp khắp các căn cơ, mọi người đều vào được.
Trên thì nhiếp Đẳng giác, dưới chẳng bỏ ác nghịch.
Như muôn dòng đều chảy vào biển, đó là do sức đại nguyện của Phật A-di-đà.
Pháp môn Tịnh Độ, thực hành rất đơn giản dễ dàng, lợi ích thì thù thắng vô cùng. Tuy độ nhiều loại căn cơ khác nhau, nhưng pháp vị thì chỉ có một, đồng nương nhờ Phật lực (một nhân), đồng sanh Báo độ, đồng chứng pháp thân ánh sáng và thọ mạng (một quả). Việc thực hành rất đơn giản và dễ dàng mà có được sự lợi ích thù thắng. Xưng
danh thì nhập Báo độ, đây là tâm yếu tối thượng “lấy đại bi làm nền tảng, lấy phương tiện làm cứu cánh”, không xen vào những việc làm khác, cho nên gọi là pháp khó tin. Đại Kinh ghi:
Như Lai tại thế, khó gặp khó thấy.
Kinh điển chư Phật, khó được, khó nghe.
Pháp tối thắng của Bồ-tát, các ba-la-mật, được nghe cũng khó.
Gặp thiện tri thức, nghe pháp mà hành theo, đây cũng là khó.
Nếu nghe kinh này, tin ưa thọ trì, khó càng thêm khó, không gì khó hơn.
“Khó càng thêm khó, không gì khó hơn”, vậy nên mười phương chư Phật dùng tướng lưỡi rộng dài để chứng thật hộ niệm, khiến cho chúng sanh dứt hẳn nghi ngờ mà sanh tín tâm, quí trọng hạnh này. Chúng ta từ vô thỉ đến nay, chưa được giải thoát đều do không tin pháp này, đến nỗi luân hồi đau khổ một cách vô ích.
Pháp môn Tịnh Độ vi diệu khó lường, như Tổ Ấn Quang từng nói:
Pháp môn Tịnh Độ, rộng lớn không gì hơn, trùm khắp cả ba căn, lợi căn và độn căn đều tiếp nhận, chúng sanh trong cửu giới nếu bỏ pháp môn này thì trên không thể viên thành Phật quả; mười phương chư Phật nếu rời pháp môn này thì dưới không thể độ khắp chúng sanh. Tất cả pháp môn, đều từ pháp giới này lưu xuất; tất cả hạnh môn, đều quay về pháp giới này. Vì đó là pháp môn Tổng trì thành thủy thành chung, trên thành Phật
đạo, dưới độ chúng sanh của tất cả các Đức Phật trong mười phương ba thời. Vì thế, được chín cõi đồng qui hướng, mười phương cùng khen ngợi, nghìn kinh đều xiển dương, muôn luận đều truyền bá. Dưới từ ngũ nghịch thập ác, trên đến Bồ-tát Đẳng giác, đều phải tu tập, đều có thể hiện đời siêu phàm nhập thánh. Tất cả những pháp cao sâu mầu nhiệm khác phần nhiều là khế lý, nên tuyệt nhiên không thể khế hợp hết thảy ba căn cơ là thượng, trung và hạ. Chúng ta từ vô thỉ cho đến ngày nay, còn lẩn quẩn mãi trong vòng luân hồi, đều do bởi đời trước hoặc vì ngu muội không dám gánh vác, hoặc vì cuồng si không chịu tin nhận pháp môn này mà đến nỗi như thế.
Cả đời Đức Phật thuyết pháp, tuy có nhiều pháp môn, nhưng chỉ một pháp xưng danh này gồm đầy đủ hai đặc tính “thắng” và “dị”, trên dưới đều nhiếp thu. Ấy gọi là ‘chí giản chí dị, chí đốn chí viên’. Đời này gặp được pháp môn Tịnh Độ, đối với pháp hoành siêu này, phải khởi tưởng pháp này hi hữu, khó gặp, phải khởi tâm tri ân, hoan hỉ tin nhận, y giáo phụng hành. Đối với nghĩa lý thắng và dị ấy, phải đặc biệt dụng tâm, khéo phân biệt rõ ràng mới có thể hiểu được ý nghĩa chân thật của nó, để không phải lầm đường lạc lối, tự đánh mất mình và hại người khác. ‘Thắng’ và ‘dị’ được tóm lược như sau:
‘Thắng’, danh hiệu là kết quả giác ngộ của Phật, nhiếp thu muôn vàn công đức, hơn hẳn các hạnh khác. Cho đến một niệm, đầy đủ công đức vô thượng. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo đã nói:
Những hạnh khác, tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với việc
việc niệm Phật, thì hoàn toàn chẳng thể nào so sánh được.
Pháp Nhiên thượng nhân giải thích ngắn gọn ý nghĩa của thắng:
Nghĩa thắng là:
Mang ý nghĩa Đại thừa tột bực, ngoài Thể không có danh, ngoài danh
không có Thể.
Thể vi diệu của vạn thiện, chính là sáu chữ danh hiệu;
Hằng sa công đức, đầy đủ trong một hạnh xưng danh.
Đại nguyện, đại nghiệp, đại lực đã gầy dựng nên,
Nhằm ban cho hành giả muôn vàn công đức;
Tha lực khó nghĩ bàn, phương tiện khéo léo, khiến cho một câu xưng danh vượt hơn các thiện.
Bậc tri thức rộng khen, lửa lớn thành mát mẻ;
Bậc bạn hiền dạy xưng danh, sen vàng như mặt trời sáng rực.
Danh hiệu đại lợi, là công đức vô thượng.
Những ai khinh thường pháp môn này, nghe lời khai thị vi diệu về lợi ích của pháp tối thắng như vậy, mong rằng có thể vui mừng phát tâm cầu vãng sanh.
‘Dị’ là hạnh xưng danh không kén chọn căn cơ, dễ thực hành nhất. Đây là điều chí yếu của tông Tịnh Độ. ‘Dị’ này bao gồm nghĩa ‘giản dị, bình dị, dung dị’.
‘Giản dị’: Là không phức tạp, không quanh co. Chỉ tin vào bản nguyện của Phật A-di-đà, chỉ xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Không cần xen tạp nhiều hạnh khác như quán
tưởng, tham cứu v.v., vì pháp này rất giản dị, rất thẳng tắt.
‘Bình dị’: Là không hư huyễn, không rỗng không. Bình thật tự nhiên, pháp nhĩ như thế; chỉ trì danh hiệu, đường tắt bước lên bậc bất thoái. Có nghĩa là “tự nhiên được kéo về, vãng sanh về cõi nước An Lạc”.
‘Dung dị’: Là dễ thực hành, dễ vãng sanh, dễ chứng. Giàu sang nghèo hèn, đều có thể thực hành; bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào, đều có thể xưng niệm, đây là dễ thực hành. Chỉ cần tương tục niệm Phật không dứt, suốt đời không thay đổi, nương vào nguyện lực của Phật, không ai không vãng sanh, đây là dễ vãng sanh. Một khi được vãng sanh, thì nhập vào cảnh giới Phật, đồng Phật thọ dụng; như các dòng nước chảy vào biển cả, đồng một vị mặn, đồng một mức sâu rộng; mất đi tên gọi vốn có, mà được tên gọi là biển, đây là dễ chứng.
Một chữ “dị” ẩn chứa ý vị vô cùng, bao hàm nhiều đặc tính. Sự vượt trội của bản nguyện được hiển hiện rõ ở nơi đây, nên khéo lãnh hội để tránh hại mình hại người.
Đại sư Thiện Đạo dạy:
Chỉ cần trên suốt một đời, dưới đến mười niệm, nhờ nguyện lực Phật, không ai không vãng sanh, nên gọi là dễ.
Pháp Nhiên thượng nhân dạy:
Nghĩa ‘dị’ là:
Bất luận đi đứng nằm ngồi, xưng danh được Phật đến rước;
Bất kể mọi lúc mọi nơi, xưng danh được vãng sanh.
Việc này không dựa vào thân tâm trược loạn, mà chỉ nương tha lực dẫn nhiếp.
Giải thích của hai vị Tổ sư đã hiển bày sâu sắc tha lực dễ thực hành tột bực, triệt để làm rõ tâm yếu “tùy theo ý nguyện, đều được hóa độ”.
Xem xét hai đặc tính thắng và dị, chúng ta biết được giáo pháp của một đời Phật thuyết, chỉ một pháp môn niệm Phật này mới thích nghi khắp các căn cơ. Đây chính là con đường cùng tu của cửu giới chúng sinh trên đến bậc thánh dưới đến phàm phu, là pháp thực hành chung cho kẻ ngu, người trí. Thực hành dễ mà thành công cao, dùng sức ít mà hiệu quả mau. Vì chuyên nương theo Phật lực, nên lợi ích ấy thù thắng vô cùng, vượt hơn các giáo pháp thông thường. Thế nên, từ xưa đến nay, các bậc hiểu sâu về tông môn và giáo môn, không ai không hướng tâm về Tịnh độ, nhất tâm niệm Phật. Như Đại sư Đàm Loan trong Xả tứ luận giảng nói nhất hướng qui về Tịnh độ; Đại sư Đạo Xước gác lại hạnh nghiệp Niết-bàn rộng lớn chuyên hoằng hóa hạnh về Tây Phương; Đại sư Thiện Đạo bỏ con đường chật hẹp quanh co, chuyên một hạnh xưng danh; Đại sư Liên Trì đem tám muôn pháp môn giao phó cho người khác, chỉ làm duy nhất một việc niệm Phật; Đại sư Ngẫu Ích không tham thiền, không học giáo, không đàm huyền, không thuyết diệu, mà chỉ quý trọng một hạnh niệm Phật này; Đại sư Ấn Quang thông suốt tông môn và giáo môn, nhưng đối với hai con đường này, đều không nương tựa vào đó, chỉ theo một pháp nương sức từ bi của Phật để vãng sanh Tây Phương, kiên định giữ vững ý chí không dời đổi, trước sau chân thật niệm Phật.
Các vị Tổ sư đem giáo nghĩa và hành nghiệp của tông Tịnh Độ hoàn toàn dung hòa vào trong hành vi của chính bản thân các ngài, chỉ nương theo Đức Phật A-di-đà, chỉ hành theo pháp môn niệm Phật. Các ngài tuy thông suốt giáo nghĩa của cả đời của Phật thuyết, nhưng bề ngoài thể hiện giống như hạng người dốt, một chữ cũng không biết, hiển bày ra thân ngu độn mà an tâm niệm Phật, dừng tâm lại để niệm Phật, tùy duyên niệm Phật. Các ngài ẩn đức mình vào trong đức của Phật, dấu ánh sáng bản thân vào trong ánh sáng của Phật, có thể nói là bên trong đức lớn mà bề ngoài như ngu si. Con đường tắt như thế, làm rõ ý nghĩa cốt yếu của Đại Kinh:
Tất cả ánh sáng của Thanh văn và Bồ-tát, thảy đều bị che khuất; chỉ thấy ánh sáng của Phật sáng chói rực rỡ.
Từ trong oai nghi của các vị Tổ, có thể thấy được ánh sáng của Phật A-di-đà; từ trong pháp ngữ cam lồ của các ngài, có thể lĩnh ngộ được tâm quang của Phật A-di-đà. Tâm từ bi và nguyện lực vô tận của Phật A-di-đà hiển bày rõ ràng trước mặt chúng ta, để bọn phàm phu tầm thường chúng ta hiểu được tấm lòng của Phật. Giúp chúng sinh có gương để noi theo, có pháp để nương tựa. Các ngài thật sự là sứ giả của Phật A-di-đà, là phước điền của chúng sanh, là mẫu mực của “lời nói là khuôn phép cho thế gian, hành vi là gương mẫu cho thế gian noi theo”, là pháp mạch “từ nghìn xưa không dứt, truyền mãi muôn đời sau”.
Mong rằng những hành giả ở chốn Ta-bà có thể từ ngôn hạnh các vị Tổ, thấy được niềm hy vọng và ánh sáng, bước ra khỏi con đường nguy hiểm quanh co khúc khuỷu, quay về với cõi Tịnh độ rộng lớn không trắc trở, dùng công
đức thệ nguyện của Phật để trang nghiêm tự thân, nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Được như vậy thì như hoa sen mọc giữa bùn nhơ, như ngọn lửa bùng cháy từ đống tro tàn, tuy rằng “Chưa ra khỏi chốn Ta-bà, mà đã chẳng phải khách Ta-bà dài lâu; chưa vãng sanh về miền Cực Lạc, mà đã là khách quý ở chốn Lạc Bang”.
Nam-mô A-di-đà Phật !
Nhớ Phật
Vâng lời Phật Thích-ca
Chuyên niệm Phật Di-đà
Nguyện vãng sanh Cực Lạc
Ắt Phật nhiếp thọ ta.
Ba cõi như nhà lửa
Sao chẳng sớm thoát ra
Đức từ phụ vẫy gọi
Cực Lạc là nhà ta.
Giống như người lái buôn
Chờ trời sáng lên đường
Người niệm Phật khi bệnh
Mừng sớm về cố hương.
Bao nhiêu kiếp phiêu bạt
Mong được sớm quay về
Hôm nay mừng biết mấy
Theo gót Phật về quê.
Lúc bệnh khổ bủa vây
Nhớ Phật, viết kệ này
Tự nhắc mình tỉnh ngộ
Vững chí quyết về Tây.
Ngu Phu