8. QUÁN KINH TỨ THIẾP SỚ CƯƠNG YẾU
Nguyên tác: Pháp sư Huệ Tịnh
Nhuận Hà dịch
I. Năm bộ chín quyển, bổn sớ cụ sớ, giáo môn hạnh môn, an tâm khởi hạnh
Những trứ tác của Đại sư Thiện Đạo được Đức Phật A-di-đà thị hiện chỉ dạy, hiện còn lại ‘năm bộ chín quyển’, trong đó một bộ 4 quyển của Quán kinh sớ được đưa vào Đại chánh tạng quyển 37, còn bốn bộ năm quyển khác được đưa vào Đại chánh tạng quyển 47.
Quán kinh sớ thường được gọi là Quán kinh tứ thiếp sớ, tên đầy đủ là Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh sớ hoặc Quán Vô Lượng Thọ kinh sớ, nhưng nhìn từ nội dung và ý nghĩa thì cũng gọi là Khải định sớ hoặc Chứng định sớ. Ngoài ra, lại có những tên khác gọi là Quán kinh nghĩa, Quán kinh yếu nghĩa, Quán kinh nghĩa sớ. Do bộ Sớ này có nhiều tên gọi, nên có thể thấy nó được trích dẫn rất rộng rãi và được đánh giá cao.
Trong năm bộ chín quyển thì Quán kinh sớ được gọi là Bổn sớ hoặc Kinh sớ, cũng gọi là Giáo tướng phần, Giải nghĩa phần, An tâm phần đều thuộc về ‘Giáo môn’. Ngược lại trong bốn bộ năm quyển thì Quán niệm pháp môn được
gọi là Cụ sớ, cũng gọi là Hành nghi phần, Khởi hạnh phần đều thuộc về ‘Hạnh môn’.

II. Di-đà chỉ dạy, chư Phật chứng thành, khải định xưa nay, kính tin như kinh
Chủ đề trong Quán kinh rất kỳ lạ đặc biệt, khiến cho những vị Sư trong các tông của Thánh đạo môn thường rất khó lý giải. Phu nhân Vi-đề-hi là một người nữ bình thường, thuần chất phàm phu, đã bị khổ não làm bức bách, nhưng ở trong sát-na một phen thấy được tướng Phật A-di-đà hiện đứng giữa hư không, ngay tức khắc quyết định vãng sanh,
ngộ được Vô sanh pháp nhẫn[1].
Lại nữa, ‘phần Lưu thông’[2] ở cuối kinh có ghi: “Chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà thì chắc chắn vãng sanh về Tịnh độ Di-đà” (ý dịch). Nhưng người ác tội chướng rất nặng ở Hạ hạ phẩm, khi lâm chung đau khổ bức bách, lửa địa ngục hiện ra, chỉ cần mười niệm cũng được vãng sanh.
Mấy điểm này rất khó khiến cho hành giả thuộc căn tính tự lực của Thánh đạo môn hiểu được. Nói theo phương diện chứng ngộ thì chỉ có phá được kiến hoặc[3], nhưng nếu chẳng phải đời trước tích lũy công đức, thực hành các hạnh khó làm, thì không thể nào đạt đến được. Nhưng phu nhân Vi-đề-hi[4] sanh ra và lớn lên trong hoàng cung, tự do hưởng thụ ngũ dục, không hề có một ngày tu hành? Nhưng trong
[1] Vô sanh pháp nhẫn 無生法忍 Cg: Vô sanh nhẫn, Vô sanh nhẫn pháp, Tu tập vô sanh nhẫn. Pháp nhẫn vô sanh, 1 trong 3 nhẫn, nhẫn thứ 4 trong 5 nhẫn nói trong kinh Nhân vương. Tức quán lí không sanh không diệt của các pháp, nhận kĩ lý ấy, an trụ tâm bất định.
[2] Phần lưu thông 流通分: Phần kết của mỗi bộ kinh có ghi lời Đức Phật phó chúc cho đệ tử, truyền bá lưu thông rộng rãi kinh ấy cho đời sau.
[3] Kiến hoặc見惑 Gđ: Kiến đạo sở đoạn hoặc. Cg: Kiến phiền não, Kiến chướng, Kiến nhất xứ trụ địa. Những phiền não được đoạn diệt khi đạt đến giai vị Kiến đạo.
[4] Vi-đề-hi韋提希: Phu nhân của vua Tần-bà-sa-la, nước Ma-kiệt-đà ở Trung Ấn Độ, mẹ ruột của vua A-xà-thế. Theo Quán kinh, vua A-xà-thế giam Phụ vương Tần-bà-sa-la vào trong căn phòng có 7 lớp cửa cho chết đói, phu nhân trộn tô mật và bôi vào mình, đổ nước trái nho vào các hạt chuỗi anh lạc, đến thăm vua Tần-bà-sa-la, làm cho A-xà-thế nổi giận, nên bà cũng bị giam luôn. Vua và Phu nhân ở trong ngục niệm Phật, cầu Phật đến nói pháp cho nghe, Phật liền hiện thần thông đến giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ. Vì thế nên biết, pháp môn Tịnh Độ là do Phật nói cho Vi-đề-hi nghe.
một sát-na[1], tâm tánh một phen xoay chuyển thì bước lên ngôi vị Vô sanh pháp nhẫn (thể ngộ được sự cứu độ của Phật A-di-đà, được tín tâm bất thoái).
Lại nữa, xa lìa sự luân hồi trong ba đường sáu nẻo đâu phải là chuyện dễ? Nhưng mà người ác tội chướng sâu nặng, không lương thiện cũng chẳng có công hạnh nào, chỉ cần niệm danh hiệu Phật cũng được người ở cõi Ta-bà chắp tay vái lạy, chóng được vãng sanh Cực Lạc. Những việc như vậy hoàn toàn thoát khỏi tri kiến phàm phu.
Vì thế, các Sư thuộc Thánh đạo môn đua nhau chú giải Quán kinh, nhưng họ xác định sai lầm phu nhân Vi-đề-hi là bậc đại Bồ-tát, đời trước đã từng tích lũy công đức tu tập nay mới có thể ở trong hội này liền đắc Vô sanh pháp nhẫn. Đồng thời họ cho rằng mười niệm vãng sanh là ‘chỉ có nguyện mà không có hạnh’, chỉ gieo duyên xa ở đời sau chứ chưa thể đời nay liền được vãng sanh. Hiểu lầm như vậy, thì chánh cơ trong Quán kinh nói chẳng phải là phàm phu mà là thánh nhân, sẽ làm cho ý chính trong Quán kinh ẩn mà không hiện, chúng ta ở đời trược ác muốn cầu ra khỏi luân hồi mà không có môn này.
Loại hiểu sai lầm này, nói tóm lại: Không biết mục đích của Quán kinh đã nói rõ về ‘bản nguyện của Phật A-di-đà, lấy phàm phu làm gốc’, cũng chính là không biết pháp môn tha lực dễ thực hành của Tịnh độ môn, và chấp trước về tự lực rất khó hành trì của Thánh đạo môn.
Bởi vì, Thánh đạo môn phải dùng sức tu hành tự lực để
[1] Sát-na 剎那 Hd: Tu du, niệm khoảnh. Từ ngữ chỉ thời gian rất ngắn như phút chốc, giây lát.
cứu độ việc sanh tử luân hồi của chính mình, nhưng đây là môn tự lực rất khó làm, cho nên kinh Đại tập ghi: “Ức ức chúng sanh tu hành không có một người đắc đạo”. Nếu có ai hoàn toàn nương vào sức cứu độ của đức Phật A-di-đà, thì bất luận tất cả hàng phàm phu thiện hay ác đều có thể vãng sanh Cực Lạc, không còn trở lại luân hồi trong sáu đường, cho nên Quán kinh sớ nói: “Tất cả hàng phàm phu thiện hay ác đều được vãng sanh, đều nương vào đại nguyện, đại hạnh và đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên”. Lại nói: “Nhờ bản nguyện của Phật để làm duyên mạnh mẽ, khiến cho năm thừa đều vào được”, cho nên tự lực và tha lực hoàn toàn khác nhau. Nhưng trong Quán kinh đúng là kinh nói về sự vãng sanh Tịnh độ tha lực, và pháp cứu độ nhờ vào sức Phật A-di-đà. Kinh này Đức Phật chẳng phải nói cho bậc thánh mà Ngài nói cho hàng phàm phu. Vì nhờ sức Phật, nên phàm phu Vi-đề-hi ngộ được Vô sanh, người ác tội chướng sâu nặng cũng được vãng sanh Cực Lạc. Đây hoàn toàn nương vào sức cứu độ của Phật A-di-đà không một chút nào dựa vào tự lực của hàng phàm phu mà tự mình thành tựu. Phật pháp có năm loại bất khả tư nghị[1], trong đó đứng đầu là Phật lực. Phật lực không thể nghĩ bàn chính là chỉ cho sức đại bi cứu độ của Phật A-di-đà.
Như hiện nay sở dĩ Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo được gọi là Khải định sớ, chính là do Đại sư hoàn toàn đứng trên lập trường sức cứu độ của Phật A-di-đà, chấn chỉnh lại
[1] Tức là Ngũ chủng bất khả tư nghị 五種不可思議: Trí độ luận nói: Kinh nói có năm loại bất khả tư nghị: 1. Chúng sanh nhiều ít, 2. Nghiệp quả báo, 3. Tọa thiền nhân lực, 4. Long lực, 5. Phật lực. Trong năm loại bất khả tư nghị thì Phật lực là bất khả tư nghị nhất.
sự hiểu lầm của các Sư thuộc Thánh đạo môn xưa nay, xác định lại việc đúng sai. Lời bạt của Đại sư có nói:
Nay tôi nói về yếu nghĩa của Quán kinh này là để xác định lại việc đúng sai xưa nay.
Chữ ‘cổ’ trong chữ ‘cổ kim’ có nghĩa là ‘xưa nói’, chỉ cho luận thuyết của các ngài Huệ Viễn ở chùa Tịnh Ảnh, ngài Cát Tạng ở chùa Gia Tường, ngài Trí Khải thuộc tông Thiên Thai trước thời Đại sư Thiện Đạo trứ tác Quán kinh sớ. Chữ ‘kim’ có nghĩa là ‘nay nói’, chỉ cho người kế thừa luận thuyết của ngài Tịnh Ảnh, Gia Tường nhằm vào thời đại của Đại sư, và luận thuyết của các nhà Nhiếp Luận. Trong Quán kinh sớ gọi Đại sư hiệu là Thị Tôn (người chỉ dạy pháp môn Tịnh Độ thuần chánh), và gọi chung các vị trên đây gọi là ‘các sư’. ‘Khải’ là nghiêm chỉnh, quy phạm, ‘định’ là quyết định nghĩa lý đúng sai, cũng tức là quyết định nghĩa lý đúng sai, để trở thành khuôn mẫu cho người đời sau gọi đó là Khải định.
Do các Sư xưa nay ở chùa Tịnh Ảnh lấy quan điểm giáo pháp tự lực của Thánh đạo môn để giải thích về Quán kinh trong giáo pháp tha lực của tông Tịnh Độ, mà không thể nắm bắt được nghĩa lý chân thật của Quán kinh. Bởi thế, nghĩa lý chân thật ẩn chứa trong Quán kinh không làm rõ được, bản hoài của đức Thích Tôn không hiện ra, Phật lực của Đức Phật A-di-đà không hiển hiện, nên sự hoằng truyền Tịnh độ bị trở ngại, con đường vãng sanh của hàng phàm phu bị bít lấp. Đại sư Thiện Đạo thấy tình hình như vậy rất đau lòng, ngài nói: “Tự họ sai lầm, làm hại người sau”, ngài mới hướng đến Phật A-di-đà và chư Phật cầu xin thầm gia bị để ngài biên soạn bộ Sớ này, nhằm xác định việc lí giải đúng sai xưa nay đối với Quán kinh, và nêu ra ý nghĩa chân
thật của Quán kinh. Quả nhiên ngay lúc bắt đầu viết bộ Sớ này, mỗi đêm trong mộng đều có một vị thánh tăng đến trước ngài để chỉ dạy quy tắc giải thích về ý nghĩa huyền diệu. Vì thế, bộ Sớ này đưa ra nghĩa lý chân thật của Quán kinh, tựa như mặt trời trên cao chiếu sáng khắp mặt đất. Đức Thích Tôn hy vọng nguyện lực của Phật A-di-đà xưa kia thâu nhiếp khắp tất cả chúng sanh không bỏ sót một ai. Người niệm Phật giống như măng mọc sau cơn mưa, đầy khắp Trường An. Vì thế, bậc cổ đức nói: “Chỉ có một mình Đại sư Thiện Đạo làm sáng tỏ ý chính của Đức Phật”. Cũng chính là trong giới Phật giáo đương thời, chỉ có Đại sư Thiện Đạo kế thừa chánh phái của Đại sư Đàm Loan và Đại sư Đạo Xước, nói rõ về mục đích chính và ý nghĩa xác thực của ‘Quán kinh’ mà Đức Thế Tôn nói trong kinh này. Vì thế, bộ Sớ của Đại sư được gọi là Khải định sớ.
Lại nữa, bộ Sớ này được chư Phật chứng minh thẩm định, cho nên cũng gọi là Chứng định sớ, lời bạt của bộ Sớ này nói:
Một câu một chữ cũng không thêm không bớt, điều muốn viết ở đây nhất nhất phải đúng với kinh pháp.
Pháp Nhiên thượng nhân khen rằng:
Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo là kim chỉ nam về Tây phương, là mắt và chân của hành giả.
Lại nói: “Trong mộng có một vị tăng chỉ dạy nghĩa lý huyền diệu, vị tăng có lẽ là Phật A-di-đà ứng hiện, như thế có thể cho rằng bộ Sớ này là do Đức Phật A-di-đà chỉ dạy”. Lại nói: “Cả thế gian gọi là Chứng định sớ, mọi người ca ngợi bộ Sớ này giống như kinh pháp”.
Bộ Quán kinh sớ này là nghĩa lý huyền diệu do Đức Phật A-di-đà chỉ dạy, và là sự giải thích vi diệu được chư Phật chứng thành, không thể không trân trọng và kính tin.
III. Chín phẩm chỉ có phàm, Quán kinh có một bộ, Phật nói cho hàng phàm phu nghe, chứ chẳng phải cho hàng thánh nhân
Sự giải thích của các Sư đối với Quán kinh có ảnh hưởng rất lớn, vả lại sự hiểu lầm cũng rất dễ thấy, có bốn điểm sau:
1. Luận về thánh nhân Vi-đề-hi: Cho rằng phu nhân Vi-đề-hi là vị đại Bồ-tát.
2. Luận về chín phẩm chỉ có bậc thánh: Cho rằng căn cơ chín phẩm vãng sanh đều là bậc thánh.
3. Luận về Hóa thân Hóa độ: Cho rằng Đức Phật A-di-đà là Hóa thân, Cực Lạc là Hóa độ.
4. Luận về Biệt thời ý thú[1]: Cho rằng mười niệm vãng sanh về Hạ hạ phẩm là chỉ có nguyện chứ không có hạnh.
Trong phần ‘Hòa hội môn’ thứ sáu thuộc bảy môn phân khoa quyển thứ nhất ‘phần Huyền nghĩa’[2] của Quán kinh sớ, Đại sư có bàn về bốn luận điểm này, chỉnh sửa lại tất
[1] Biệt thời ý thú 别时意趣 Cg: Biệt thời ý, Thời tiết ý thú. Như Lai dùng ý thú biệt thời để thuyết pháp, 1 trong 4 ý thú, tức ý nghĩa lợi ích ở thời gian khác. Người nào tụng trì danh hiệu Phật Đa Bảo thì quyết định đối với Vô thượng bồ-đề không còn lui sụt hoặc người chỉ cần phát nguyện thì liền được vãng sanh cõi Phật An Lạc. Đây là Như Lai vì khuyên nhắc kẻ giải đãi không thích tu hành, nên nói lợi ích lúc khác mà chẳng nói lợi ích ngay lúc này.
[2] Phần Huyền nghĩa 玄義分: Phần nói về yếu chỉ sâu xa của một bộ kinh.
cả, đồng thời nêu ra bảy luận điểm sau đây, làm chính luận để cải chính quan điểm xưa nay. Trên thực tế thì bảy luận điểm này là điểm quan trọng của Quán kinh sớ để cải chính về quan điểm xưa nay:
1. Luận về hàng phàm phu trong Quán kinh: Phật nói Quán kinh, chỉ dành cho hàng phàm phu, chứ không phải dành cho hàng thánh nhân.
2. Luận về phàm phu Vi-đề-hi: Phu nhân Vi-đề-hi là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân.
3. Luận về chín phẩm chỉ là hàng phàm phu: Hành giả trong chín phẩm đều là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân.
4. Luận về Báo thân Báo độ: Di-đà là Báo Phật, Cực Lạc là Báo độ.
5. Luận về nguyện hạnh đầy đủ: Sáu chữ danh hiệu có đầy đủ nguyện hạnh, tín tâm xưng danh chắc chắn được vãng sanh.
6. Luận về phàm phu nhập vào Báo độ: Dù cho tất cả hàng phàm phu thiện hay ác đều vãng sanh về Báo độ bình đẳng không sai khác, chứng được ánh sáng và thọ mạng vô lượng bằng với Đức Phật A-di-đà là bản ý của Tịnh độ môn.
7. Luận về nương vào nguyện lực của Phật: Tất cả phàm phu thiện hay ác đều vãng sanh về Báo độ, thảy đều nương vào đại nguyện, đại hạnh và đại lực của Phật A-di-đà.
Phần Hạ hạ phẩm trong Quán kinh nói đến hàng phàm phu suốt đời tạo ác, khi lâm chung bị khổ não làm bức bách, lúc đó gặp vị thiện tri thức chỉ dạy mười tiếng niệm Phật, ngay lập tức có đài hoa đến tiếp dẫn vãng sanh về Cực Lạc
rất trang nghiêm. Đức Phật nói như vậy, cảnh giới như vậy, chẳng phải người có sự hiểu biết thông thường mà có thể hiểu được.
Đại sư Đàm Loan nói: “Lời nói của bậc phi thường, không rót vào lỗ tai người thường được”, cho nên Đức Phật nói thế nào thì phải tin thế đó, tâm ngay thẳng là đạo tràng. Nếu dùng lỗ tai người thường mà suy lường lời nói phi thường, thậm chí giải thích hợp lý theo cách nghĩ của hàng phàm phu, mà hiểu sai lời Phật nói, thì đây là tự mình hiểu sai, làm hại người khác, gây nên tội không nhỏ. Quán kinh dễ bị hiểu lệch, cho rằng đã là hàng phàm phu, lại còn tội cực ác thì làm sao có thể vãng sanh? Nếu có thể vãng sanh thì nhất định chẳng phải là người ác phàm phu. Vì thế, lấy bậc thánh để quyết định căn cơ vãng sanh chín phẩm, như biểu đồ dưới đây:

Xác định căn cơ vãng sanh chín phẩm là bậc thánh, hàng phàm phu không có phần, hoàn toàn làm mất đi yếu chỉ quan trọng ‘phàm phu là gốc’ của Tịnh độ môn, loại bỏ đi ý nghĩa chân thật mà Đức Phật đã nói trong Quán kinh. Vì việc này mà Đại sư cảm thấy bức xúc bèn chỉnh sửa lại cho đúng. Ở
phần ‘Hòa hội môn’ trong ‘phần Huyền nghĩa’, trước tiên Đại sư dùng lí lẽ lập luận để chỉ ra sự sai trái, kế đến dựa vào văn kinh ‘hàng phàm phu làm đối tượng chính’ trong ‘Quán kinh’, Đại sư chứng minh và đưa kết luận rằng:
“Xem ý nghĩa mạch văn Định thiện và ba bậc chín phẩm của Quán kinh, nói chung sau khi Phật diệt độ, hàng phàm phu trong đời ngũ trược[1], gặp duyên có sai khác, nên chín phẩm có khác nhau. Tại sao?
Ba hạng người Thượng phẩm là phàm phu gặp duyên Đại thừa.
Ba hạng người Trung phẩm là phàm phu gặp duyên Tiểu thừa.
Ba hạng người Hạ phẩm là phàm phu gặp duyên ác, do vì nghiệp ác, khi lâm chung gặp duyên lành, nương vào nguyện lực của Phật, mới được vãng sanh”.
Như biểu đồ dưới đây:

[1] Ngũ trược五濁: Năm thứ cặn đục khởi lên trong kiếp giảm. 1. Kiếp trược, 2. Kiến trược, 3. Phiền não trược, 4. Chúng sanh trược, 5. Mạng trược.
Lại nữa, ở trong phần ‘Tán thiện’, Đại sư đều phân định căn cơ và giai vị của chín phẩm, như biểu đồ sau:

Căn cứ theo sự phân định của Đại sư, chín phẩm đều là phàm phu, chẳng phải là bậc thánh, vả lại bộ “Quán kinh” là Đức Phật nói cho hàng phàm phu trong đời ngũ trược ở thời vị lai, chẳng phải nói cho bậc thánh. Đại sư nói bậc thánh là người đã:
Vĩnh viễn đoạn tuyệt ba đường, không còn sanh vào bốn nẻo.
Thân tuy ở trong sanh tử nhưng không bị đắm nhiễm trong sanh tử, như ngỗng và vịt bơi trong nước, mà không bị ướt.
Thần thông tự tại, biến hiện không ngại nơi nào.
Đã là như vậy thì còn lo buồn việc gì nữa, mà nhờ Vi-đề-hi thỉnh Phật, để cầu vãng sanh về cõi nước An Lạc?
Bậc thánh ấy, có thể nói đã lìa hẳn ba đường sáu nẻo, an lạc không còn lo âu, không cần Phật phải nghĩ ra phương pháp thoát khổ cho họ, không cần Phật A-di-đà phát nguyện cứu độ họ. Nhưng, hàng phàm phu ở đời ngũ trược sau khi Đức Phật diệt độ, bị giặc phiền não làm tổn hại, độc ác bất thiện, bị năm thứ khổ[1] bức bách. Nỗi khổ đó tợ như người bị đuối nước, thường bị chìm đắm trôi lăn trong sanh tử, đây chính là đối tượng cần phải gấp được cứu độ, Đức Phật A-di-đà từ bi thương xót vì họ mà Ngài phát nguyện thành tựu cõi Tịnh độ, đó gọi là ‘Di-đà cứu độ, phàm phu chánh cơ’. Thệ nguyện bi tâm của Phật A-di-đà lấy sự cứu độ hàng phàm phu tội nhân chúng ta bị giặc phiền não bức hại, khổ sở không chịu nổi trong đời mạt pháp năm trược về sau làm mục đích, nếu không lấy sự cứu độ căn cơ tội khổ như thế làm việc cấp bách, thì thệ nguyện bi tâm của Đức Phật không được viên mãn, mà chúng sanh bị chìm đắm vĩnh viễn không được siêu thoát. Song, nguyện hạnh đại bi tu hành trong nhiều kiếp lâu xa của Phật A-di-đà, mười kiếp đến nay không ngừng kêu gọi, đây chính là Ngài lấy việc cứu độ căn cơ đau khổ như thế làm việc cấp bách. Vì thế, Đại sư nói:
“Đại bi của chư Phật đối với người đau khổ, tâm luôn thương xót nghĩ đến chúng sanh bị chìm đắm trong sinh
[1] Năm thứ khổ tức là Ngũ khổ 五苦: Năm thứ khổ não. Ngũ khổ này, kinh luận nói khác nhau. Đại minh tam tạng pháp số 24 ghi 5 thứ khổ: 1. Sanh lão bệnh tử khổ, 2. Ái biệt ly khổ, 3. Oán tắng hội khổ, 4. Cầu bất đắc khổ, 5. Ngũ ấm xí thạnh khổ.
tử, cho nên khuyên qui hướng về Tịnh độ. Cũng như người chìm dưới nước, phải mau chóng cứu họ, còn người trên bờ thì cần gì phải cứu nữa?”.
Lại nói: “Nhưng Quán kinh này, Phật nói cho hàng phàm phu nghe, không có liên quan gì đến bậc thánh.
Đức Thế Tôn xác định là hàng phàm phu, chẳng phải vì thánh nhân. Chứng tỏ Đức Như Lai nói Thập lục Quán kinh[1] này, chỉ vì chúng sanh bị chìm đắm, mà không có liên quan gì đến bậc thánh của Đại thừa hay Tiểu thừa”.
Do đây có thể biết: Mười ba pháp quán về Định thiện[2] và chín phẩm về Tán thiện[3] nằm trong bộ Quán kinh, đều là điều mà Đức Thích Tôn nói cho hàng phàm phu chìm đắm ở đời ác ngũ trược nghe, hoàn toàn không có liên quan gì đối với bậc thánh cả, cho nên không chỉ có chín phẩm cũng chẳng phải là bậc thánh, mà căn cơ Định thiện cũng không phải bậc thánh. Dù cho phu nhân Vi-đề-hi, tuy được các Sư nhận định bà là vị đại Bồ-tát, nhưng ở ‘Tự phần nghĩa’ Đại sư trước hết y cứ theo lời Phật nói ‘Bà là phàm phu, tâm tưởng yếu đuối’,
[1] Thập lục quán kinh 十六觀經: Tức là kinh Quán Vô Lượng Thọ nói 16 pháp quán: 1. Quán mặt trời, 2. Quán tưởng nước, 3. Quán tưởng đất, 4. Quán cây báu, 5. Quán ao báu, 6. Quán lầu báu, 7. Quán tòa hoa sen, 8. Quán tượng, 9. Quán chân thân Phật, 10. Quán Bồ-tát Quán Thế Âm, 11. Quán Bồ-tát Đại Thế Chí, 12. Phổ quán, 13. Tạp quán, 14. Thượng bối quán, 15. Trung bối quán, 16. Hạ bối quán.
[2] Định thiện 定善: Định tâm tu thiện, là pháp tu quán Phật tam-muội. Ngài Huệ Viễn, Trí Khải, Cát Tạng đều cho 16 pháp quán trong Quán kinh là Định thiện, nhưng Đại sư Thiện Đạo thì cho 13 pháp quán trước là Định thiện, 3 pháp quán sau là Tán thiện.
[3] Tán thiện 散善: Thiện nghiệp được tu tạo từ tâm tán loạn. Đại sư Thiện Đạo thì cho rằng hạnh tam phước, cửu phẩm đều thuộc Tán thiện.
xác định Vi-đề-hi chẳng phải là bậc thánh nhân của Đại thừa, mà chính là người bình thường, ngài nói:
“Nói chính xác Vi-đề-hi là hàng phàm phu chẳng phải bậc thánh, vì chẳng phải thánh, nên ngưỡng mong nhờ Phật lực gia hộ, mà cõi nước Cực Lạc tuy xa nhưng có thể được thấy”.
Kế đến ‘quán Tòa hoa’ của phần ‘Định thiện nghĩa’ nói:
Vi-đề-hi thật là nữ phàm phu cấu bẩn không đáng nói, nhưng nhờ sức Phật gia hộ nên lúc Phật A-di-đà hiện ra, bà mong được đảnh lễ.
Lại ở trong Bát-chu tán[1], có nói:
Vi-đề-hi tức là hình tướng người nữ, hàng phàm phu đầy đủ tham, sân.
Nói tóm lại, cả bộ Quán kinh là kinh được nói ra để cứu độ hàng phàm phu trong đời ngũ trược; là kinh điển nói cho hàng phàm phu, chỉ ra căn cơ được giáo hóa chính của tông Tịnh Độ lấy hàng phàm phu làm gốc; là kinh điển nói rõ tất cả về hàng phàm phu, tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà thì chắc chắn sanh về Tịnh độ Di-đà; là kinh thuộc về cơ giáo tương ưng trong đời mạt pháp sau này, do Đức Thích Tôn quán thấy
[1] Bát-chu tán 般舟讚 Gđ: Y Quán kinh đẳng minh Bát-chu tam-muội hành đạo vãng sanh tán. Cg: Bát-chu tam-muội vãng sanh tán. Kệ tán, 1 quyển, do Đại sư Thiện đạo soạn vào dời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng tập 47. Quyển này là y vào kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Di-đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Bát-chu tam-muội mà làm ra những bài kệ tán thán Tịnh độ, nói rõ pháp Bát-chu tam-muội hành đạo vãng sanh.
căn cơ chúng sanh và giáo pháp đã thành tựu mà Ngài nói ra; kinh này là pháp cứu độ của Phật A-di-đà, là phương pháp để hàng phàm phu được cứu.
IV. Báo thân Di-đà, Báo độ Cực Lạc, phàm phu nhập Báo, toàn nhờ nguyện Phật
Vấn đề có liên quan đến Tịnh độ của Phật A-di-đà là Báo độ, Hóa độ. Các Sư gọi đó là Ứng hóa độ, cho rằng đã là Tịnh độ thì phàm phu cũng có thể vãng sanh, là Ứng hóa độ thuộc hạng thấp kém; hoặc gọi đó là Phàm thánh đồng cư độ, cho rằng đã là Tịnh độ mà hàng phàm phu và thánh nhân đều có thể vãng sanh, thì phải là Tịnh độ thấp nhất trong đó hàng phàm phu và thánh nhân cư trú lẫn lộn.
Về vấn đề này, Đại sư Đạo Xước đã chỉnh sửa trong ‘chương Tam thân tam độ’ thuộc đại môn thứ nhất của tác phẩm An lạc tập, nói rõ về Tịnh độ của Phật A-di-đà là Báo độ chẳng phải là Hóa độ. Nay trong tiết ‘Hội thông nhị thừa chủng bất sanh’ của ‘phần Huyền nghĩa’, Đại sư nhận định Tịnh độ của Phật A-di-đà chẳng phải là Ứng hóa độ, cũng chẳng phải là Phàm thánh đồng cư độ, mà là Báo độ vô cùng tuyệt diệu, đó gọi là ‘Báo độ chẳng phải Hóa độ’, đồng thời nêu ra ý nghĩa về 3 bộ kinh như kinh Đại thừa đồng tính, kinh Vô Lượng Thọ và Quán kinh để chứng minh là Báo độ chẳng phải Hóa độ.
Nhưng mà Báo độ vô cùng tuyệt diệu như vậy thì hàng phàm phu làm sao được vãng sanh? Để nói rõ về nghĩa này, Đại sư đặc biệt lập ra phương thức hỏi đáp, nói:
Hỏi: Đức Phật A-di-đà và cõi nước Cực Lạc đã nói Báo, Báo là tuyệt diệu, bậc tiên thánh khó đạt đến, phàm phu cấu chướng thì làm sao đến được?
Đáp: Nếu luận về chúng sanh cấu chướng thì quả thật khó mà đến được, chính là nương vào bản nguyện của Phật làm duyên mạnh mẽ, khiến cho năm thừa đều nhập vào Tịnh độ.
Đây là luận về ‘Phàm phu nhập vào Báo độ’ rất thù thắng: Tịnh độ của Phật A-di-đà là Báo độ tuyệt diệu, mà tất cả hàng phàm phu thiện hay ác đều có thể vãng sanh, sở dĩ được vãng sanh là hoàn toàn nhờ vào bản nguyện tha lực của Phật, chứ chẳng phải tự lực của hàng phàm phu.
Báo độ của chư Phật tuy cũng là Tịnh độ thù thắng vi diệu, không cần phải nói đến bản thân hàng phàm phu hay Nhị thừa, mà đến cả hàng Bồ-tát cao cấp cũng không cách nào vào được. Như trong ‘phẩm Giáo hóa’ trong kinh Nhân vương[1] có nói: “Tam hiền Thập thánh[2] trụ ở quả báo, chỉ có một mình Phật ở Tịnh độ”. Nhưng Báo độ của Phật A-di-đà là nguyên nhân để thành tựu Tịnh độ, nguyện báo đáp thứ mười tám nói: “Chúng sanh trong mười phương, nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”. Đã là Báo độ tuyệt diệu và đồng thời cũng là Báo độ của chúng
[1] Kinh nhân vương 仁王經: Có 2 bản. Bản xưa La thập dịch Phật thuyết Nhân vương Bát-nhã ba-la-mật kinh, 2 quyển. Bản mới Bất Không dịch. Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật-đa kinh, có 2 quyển. Nhân vương chỉ cho Quốc vương của 16 nước lớn đương thời. Nếu thọ trì giảng nói kinh này thì 7 nạn không phát khởi, tai hại không sanh, muôn dân an lạc no đủ.
[2] Tam hiền Thập thánh 三賢十聖: Tam hiền là Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng; từ Sơ địa cho đến Thập địa là Thập thánh.
sanh trong mười phương, mỗi một chúng sanh trên đến hàng Bồ-tát Đẳng giác, dưới đến kẻ mắc tội ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp và Nhất-xiển-đề[1], thảy đều có thể vãng sanh về Báo độ mà không độ nào sánh bằng, là Báo độ siêu việt hơn Báo độ của chư Phật. Đây chính là nói rõ sự đặc biệt thù thắng về nguyện lực của Phật A-di-đà.
Trong đoạn vấn đáp này, ‘Báo độ tuyệt diệu’… đều là hỏi Báo độ được thành tựu do nguyện lực của Phật A-di-đà, là pháp tánh thân độ, là cảnh giới bản thân của Phật A-di-đà, bậc thánh Đại thừa và bậc thánh Tiểu thừa dùng sức mình còn không thể tiến vào được, thì hàng phàm phu phiền não dữ dội, nghiệp chướng sâu nặng làm sao có thể vãng sanh? Đối với việc này Đại sư trả lời là vì phàm phu cấu chướng, dùng sức mình thì dĩ nhiên không thể vãng sanh (tin căn cơ), nhưng do hoàn toàn nương vào sức của Phật A-di-đà cứu độ (tin pháp), khiến cho năm thừa như người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, đều vãng sanh về Báo độ.
Ở đây, Đại sư nói về Đức Phật A-di-đà cứu độ căn cơ rất thấp, là hàng phàm phu nghiệp ác, vãng sanh về cõi nước Cực Lạc rất cao, là Báo độ tuyệt diệu. Sự lợi ích thù thắng như vậy đều nương vào nguyện lực của Phật, cho thấy giáo pháp cứu độ của Phật A-di-đà là hàng năm thừa đều vào được, tất cả căn cơ đều được lợi ích.
Chữ ‘tề’ trong ‘ngũ thừa tề nhập’ có nghĩa là ‘đồng nhất’, ở đây nêu ra nghĩa ‘một nhân một quả’. Nếu luận về năm
[1] Nhất xiển-đề一闡提 Cg: Nhất xiển-đề-ca, Nhất điên-ca, Nhất xiển-đề-ca, Xiển-đề. Hâ: A-điên-để-ca, A-xiển-đề, A-điển-đề-ca. Hd: Đoạn thiện căn, Tín bất cụ túc, Cực dục, Đại tham, Vô chủng tính, Thiêu chủng. Người mất hết căn lành, không có điều kiện thành Phật.
thừa thì phàm thánh, thiện ác đều không giống nhau, do nhân có nhiều sự khác biệt nên quả cũng muôn lần khác biệt (nhiều nhân nhiều quả). Nhưng mà năm thừa đều bỏ tự lực, cùng nương vào tha lực (một nhân), đồng sanh về Báo độ, cùng chứng pháp thân (một quả).
Chúng sanh trong mười phương có chúng sanh là Bồ-tát Đẳng giác, cũng có chúng sanh phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp, nếu dựa vào tự lực thì quả báo của mỗi người đều có nhiều sự khác biệt và muôn lần khác biệt; nếu nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì hàng thượng căn hay hạ căn cũng như nhau, cùng vãng sanh về Báo độ tuyệt diệu, cùng chứng ngộ quả vị cứu cánh quang minh và thọ mạng.
Có thể biết rằng vãng sanh Tây Phương chẳng phải nương vào tự lực, mà hoàn toàn nhờ vào sức Phật, cho nên không cần luận về tư cách thân phận của chúng sanh: Bất luận người nam hay nữ, già hay trẻ, bất luận là xuất gia hay tại gia, người hiền đức hay kẻ ngu, bất kể tội nặng hay nhẹ, bất kể thực hành Hữu vi[1] hay Vô vi[2], bất kể tâm tịnh hay bất tịnh, bất kể niệm nhất tâm hay không nhất tâm, bất kể tất cả, chỉ cần tin Đức Phật A-di-đà cứu độ, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà; cũng tức là chỉ cần nương vào Phật lực không thể nghĩ bàn của Phật A-di-đà thì dù cho tội thập ác hay ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp hay xiển-
[1] Hữu vi 有爲 Cg: Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Tức chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi.
[2] Vô vi 無爲 Cg: Vô vi pháp. Pháp không có tạo tác, lìa sanh diệt biến hóa và tuyệt đối thường trụ. Vốn là tên khác của Niết-bàn.
đề đều được vãng sanh. Vì thế, vãng sanh Cực Lạc không nói tới tự lực mà chỉ nói đến tha lực.
Người muốn sanh về Tịnh độ thì trước hết phải biết bản nguyện của Phật A-di-đà, Phật A-di-đà đã sẵn sàng vì chúng ta mà Ngài thành tựu thế giới Cực Lạc, sẵn sàng vì chúng ta mà thành tựu công đức tư lương để vãng sanh, cũng sẵn sàng vì chúng ta mà thành tựu sức danh hiệu công đức để tiêu trừ tất cả tội nghiệp đã tạo từ nhiều kiếp đến nay. Do chúng ta không biết cũng chẳng tin cho nên chưa có thể nhận lấy công đức của Phật A-di-đà, vì thế tiếp tục bị lún sâu trong luân hồi sanh tử. Ngày nay tin và biết được việc này rồi nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà, niệm danh hiệu Ngài thì chắc chắn được vãng sanh; tin như vậy một phen tin thì vĩnh viễn tin, suốt cả cuộc đời không còn hoài nghi nữa.
Nếu không nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà thì hàng Bồ-tát Đẳng giác cũng không thể vãng sanh, huống gì là hàng phàm phu? Nếu luận về phàm phu thì còn không có sức để thoát ly sáu nẻo luân hồi, huống gì vãng sanh về Báo độ tuyệt diệu? Nếu năm thừa mà tu tự lực thì chẳng phải là cái nhân để nhập vào Báo độ, chỉ nhờ vào nguyện lực của Phật A-di-đà mới là chánh nhân, đó gọi là:
Báo độ của Di-đà thành tựu, chúng sanh tự lực không thể đến;
Thánh phàm thiện ác đều như nhau, chỉ nương bản nguyện lực Di-đà.
Bất luận căn cơ nào, bất kể thiện hay ác đều vãng sanh về Báo độ, chỉ nương theo nguyện lực của Phật A-di-đà chứ không nương vào sức tự thân của hành giả.
Tâm của chúng sanh đều loạn tưởng phiền não rất nhiều, hạnh không chân thật, chỉ có Phật A-di-đà là tâm thanh tịnh, hạnh chân thật. Vì thế, không cần luận về sức tu hành của chúng sanh, mà chỉ bàn về sức cứu độ của Phật A-di-đà.
Không thể dựa vào tính cách của chúng sanh mà nói vãng sanh hay không vãng sanh, phải nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà mà hỏi tin hay không tin. Người tin thì được vãng sanh còn người nghi thì không được vãng sanh.
Pháp môn Tịnh Độ lấy hàng phàm phu làm chánh cơ, bản nguyện xưng danh thì vãng sanh về Báo độ. Cũng tức là người cực ngu thấp nhất, nương vào pháp cực thiện cao nhất thì vãng sanh về cõi nước cực cao vi diệu nhất.
Chín phẩm đều là phàm phu, Cực Lạc là Báo độ, phàm phu nhập Báo độ đều nương vào bản nguyện của Phật A-di-đà.
V. Sáu chữ danh hiệu, căn cơ và giáo pháp đồng một thể, đầy đủ tín nguyện hạnh gọi là chánh định nghiệp[1]
Trong ‘phần Huyền nghĩa’ của Đại sư có nói:
“Nay ở trong Quán kinh này, mười tiếng xưng danh hiệu Phật, thì có đầy đủ mười hạnh mười nguyện. Thế nào là đầy đủ?
Nói Nam-mô[2] tức là quy mạng, cũng là nghĩa Phát
[1] Chánh định nghiệp 正定業 Cg: Chánh nghiệp, Định nghiệp. Sự chọn lựa chính xác hoặc quyết định pháp môn để tu hành.
[2] Nam-mô 南無 Cg: Nam-mâu, Na-mô, Na-ma, Nẵng-mạc, Nạp-mạc… Hd: Kính lễ, qui kính, qui y, qui mạng, tín tùng. Vốn có nghĩa là lễ bái, thường được sử dụng với đối tượng lễ kính.
nguyện hồi hướng. Nói A-di-đà Phật tức là hạnh của Phật. Vì nghĩa này nên chắc chắn được vãng sanh”.

Đây gọi là ‘giải thích sáu chữ’, Đại sư dùng ‘ba nghĩa sáu chữ này’ để giải thích đầy đủ về đức nghĩa của danh hiệu sáu chữ ‘Nam-mô A-di-đà Phật’. Đây là một trong những lời giải thích về ý nghĩa quan trọng nhất trong Quán kinh
sớ, văn này rất có thể phát huy tinh thần cải chính xưa nay.
Để nói rõ nguyên nhân mười tiếng xưng danh đầy đủ nguyện hạnh của Đức Phật, nên nói ‘thế nào là đầy đủ’?… nương theo pháp thể để nêu ra nghĩa đầy đủ.
Ý nghĩa mà ‘ba nghĩa sáu chữ’ này bao gồm là ‘môn Cơ pháp’ và ‘môn Nguyện hạnh’, sáu chữ có nghĩa của tín, nguyện và hạnh, tín và hạnh tương đối thì trở thành nghĩa của môn Cơ pháp, Nam-mô có nghĩa năng tín, A-di-đà Phật tức là pháp cứu độ, đây gọi là Tín hạnh, hoặc gọi là Cơ pháp. Nhưng trong tín có nghĩa là nguyện, nguyện và hạnh tương đối thành môn Nguyện hạnh, cho nên trong sáu chữ của pháp thể thì căn cơ và giáo pháp đồng một thể, đầy đủ nguyện hạnh. Sáu chữ pháp thể vốn đầy đủ nguyện hạnh, cho nên không đợi chúng sanh phải tu hành để hồi hướng, đúng như thật thì trong từng tiếng từng tiếng đều đầy đủ nguyện và hạnh, nên nhất định được vãng sanh.
Giải thích nguồn gốc của sáu chữ này là do môn đồ Nhiếp Luận tông đương thời vào thời đại nhà Tùy, Đường, lấy người ác ngũ nghịch của phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh, khi lâm chung gặp vị thiện tri thức dạy cho mười tiếng xưng danh hiệu Phật, việc được vãng sanh Cực Lạc, gọi đó là phương tiện thuyết của ‘Biệt thời ý thú’, cũng cho rằng một đời tạo ác chưa từng tu hành, mãi đến lúc lâm chung tuy có ‘nguyện vãng sanh’, chỉ cần mười tiếng xưng danh hiệu Phật, không thành ‘hạnh vãng sanh’, đây là ‘chỉ có nguyện mà không có hạnh’ thì không thể tức thời được vãng sanh. Phật nói vãng sanh là phương tiện thuyết, vãng sanh chân chính là ‘khi khác’ xa ở đời vị lai, không ở ngay đời này. Phần trên là môn đồ tông Nhiếp Luận dùng ‘Biệt
thời ý thú’ được trình bày trong Nhiếp Đại thừa luận[1], giải thích sai sự vãng sanh của Hạ hạ phẩm trong Quán kinh. Họ coi mười tiếng xưng danh trong phần Hạ hạ phẩm và sự xưng niệm thông thường ‘Nam-mô Đại Nhật Như Lai’, ‘Nam-mô Đa Bảo Như Lai’… là như nhau. Đây là do họ không biết được giới hạn của giáo lý tông Tịnh Độ và giáo lý Thánh đạo môn, mà dùng quan niệm tự lực của Thánh đạo môn để xem Quán kinh, nên mới giải thích sai lầm như thế. Chủ trương này làm trở ngại việc hoằng dương giáo pháp tông Tịnh Độ, rất nhiều người nghe liền không tu Tịnh độ. Thích Tịnh độ quần nghi luận[2] nói: “Nhiếp luận có mặt ở đây hơn trăm năm, các vị cao đức xem luận văn này mà không tu tịnh nghiệp Tây phương”.
Việc nhận thức sai lầm của Biệt thời ý này đã được Đại sư Đạo Xước chỉnh sửa ở chương thứ hai, đại môn thứ hai, quyển An lạc tập. Nay Đại sư phấn khích trứ tác chú sớ về Quán kinh. Quyển thứ nhất lập ra một tiết ‘Hội thông biệt thời ý thú’, để phá bỏ sự biện luận cho rằng ‘chỉ có nguyện mà không có hạnh’ của môn đồ tông Nhiếp Luận.
Đoạn văn giải thích sáu chữ này có hai mặt trong và
[1] Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論 Cg: Nhiếp luận, Quảng bao đại nghĩa luận. Luận, do ngài Vô Trước, người Ấn Độ soạn. Luận này giải thích phẩm Nhiếp Đại thừa trong kinh Đại thừa A-tì-đạt-ma của Ấn Độ cổ đại, nói rõ giáo nghĩa Đại thừa và quan điểm của phái Du-già.
[2] Thích Tịnh độ quần nghi luận 釋淨土 群疑論 Cg: Quần nghi luận, Quyết nghi luận, 7 quyển, 116 chương, do ngài Hoài Cảm ở chùa Thiên Phước soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Đây là bộ sách được soạn ra để giải quyết điều nghi về việc vãng sanh Tịnh độ của Nhiếp luận, Tam giai giáo, Duy thức học, từ đời Trần, Tùy về sau, là bộ Bách khoa toàn thư của tông Tịnh Độ đương thời.
ngoài. Bên ngoài là giải thích mười tiếng xưng danh đầy đủ nguyện hạnh đối với vấn nạn của môn đồ tông Nhiếp Luận trong Thánh đạo môn. Bên trong, làm sáng tỏ sự cứu độ của hoằng nguyện Di-đà, đồng thời phát huy nghĩa lý sâu xa của việc niệm Phật vãng sanh.
Hai mươi sáu chữ như ‘nói Nam-mô tức là quy mạng’… là nói rõ hạnh nguyện đầy đủ trong sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật, trong đó hai chữ ‘Nam-mô’ là nói theo lập trường căn cơ chúng sanh, bốn chữ ‘A-di-đà Phật’ là nói theo lập trường của Di-đà.
‘Nam-mô tức là quy mạng’: Nam-mô có nghĩa là quy mạng. Quy mạng là trở về với sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà, cũng có nghĩa tin theo ‘nhị tôn’ (Phật Thích-ca-mâu-ni và Phật A-di-đà) được nói trong ‘thí dụ hai con sông’, cho nên quy mạng tức là ‘tín tâm’.
‘Cũng là nghĩa phát nguyện hồi hướng’: Phát thệ nguyện vãng sanh gọi là ‘phát nguyện’, chuyển tự lực hướng về tha lực (sự cứu độ của Phật A-di-đà) gọi là ‘hồi hướng’, ‘nghĩa’ là đức nghĩa. Tâm quy mạng có nội hàm nguyện vãng sanh, vì lẽ đó cho nên quy mạng chính là để vãng sanh.
Ở đây quy mạng gọi là ‘tức thị’ (tức là), phát nguyện hồi hướng gọi là ‘diệc thị’ (cũng là). Bởi lẽ bản thân của từ ‘Nam-mô’ là ‘quy mạng’, cho nên nói ‘tức thị’, ‘tức’ ý nghĩa ‘đương thể đầy đủ’, ‘trực tiếp ngay bây giờ’, cũng tức là ‘đẳng ư’ (bằng với). Nhưng ‘phát nguyện hồi hướng’ là đức nghĩa đầy đủ của Nam-mô, có hàm nghĩa khác (biệt nghĩa), cho nên nói ‘diệc thị’, chứ không nói ‘tức thị’.
‘A-di-đà Phật tức là hạnh của Phật’: ‘Tức’ là đẳng ư, có
nghĩa đương thể đầy đủ, bản thân pháp thể của sở quy (chỗ quay về - Phật A-di-đà) là ‘hạnh’, cho nên nói ‘tức thị’. Chữ ‘kỳ’ trong ‘kỳ hạnh’ là chỉ cho Nam-mô quy mạng phần trên, danh hiệu A-di-đà Phật là hồng danh có đầy đủ muôn công đức: Nếu có chúng sanh nào không vãng sanh thì Phật không thành Chánh giác, lấy hồng danh này làm hạnh nghiệp vãng sanh của chúng sanh. Một khi chúng sanh quy mạng niệm Phật thì lập tức có hạnh này, cho nên cũng gọi là tín hạnh không hai, căn cơ và giáo pháp đồng một thể.
‘Vì nghĩa này nên chắc chắn được vãng sanh’: Do sáu chữ hồng danh Nam-mô A-di-đà Phật đầy đủ nguyện và hạnh, cho nên nhất định ngay đời này vãng sanh về Tịnh độ Cực Lạc, Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘Sự nghiệp thành tựu’.
‘Đầy đủ nguyện hạnh’ có ba nghĩa quan trọng:
1. Danh hiệu A-di-đà Phật thì đầy đủ nguyện hạnh: Nguyện là đại nguyện cứu độ chúng sanh, cũng tức là đại nguyện của Phật A-di-đà lúc ở nhân vị trong năm kiếp tư duy phát khởi. Hạnh là hạnh nghiệp đã thành tựu nguyện này, cũng tức là đại hạnh trong thời gian lâu dài vô tận của Đức Phật A-di-đà khổ công tu tập mới thành tựu. Nguyện hạnh viên mãn rồi thành tựu Nam-mô A-di-đà Phật, công đức đại hạnh và đại nguyện trong nhân vị đều đầy đủ ở trong danh hiệu, cho nên sáu chữ danh hiệu đầy đủ nguyện và hạnh không thiếu một mảy may. Ở đây, cái năng cụ là danh hiệu, cái sở cụ là hạnh nguyện của năm kiếp, nhiều kiếp ở nhân vị.
2. Tín tâm quy mạng đầy đủ nguyện hạnh: Khi chúng sanh nghe uy đức danh hiệu Phật, danh hiệu trở thành tín
tâm của chúng sanh, đây gọi là Tha lực tín tâm. Tín tâm này tự nhiên đầy đủ nguyện hạnh bao hàm trong danh hiệu, cho nên nói tín tâm đầy đủ nguyện hạnh. Ở đây cái năng cụ là tín tâm, cái sở cụ chính là hạnh nguyện trong danh hiệu.
3. Xưng danh niệm Phật có đủ nguyện hạnh: Chúng sanh đã đầy đủ tín tâm thì có thể liên tục xưng danh. Sự xưng danh này chính là sự xưng danh hoàn toàn do tín tâm hiện khởi, cũng tức là ngay danh hiệu đó là thể của tín tâm, hiển hiện ra khẩu nghiệp, cho nên xưng danh từng tiếng từng tiếng đều đầy đủ nguyện hạnh. Ở đây cái năng cụ là xưng danh, cái sở cụ là hạnh nguyện trong tín tâm, cũng tức là nguyện hạnh vốn đầy đủ trong danh hiệu.
Danh hiệu pháp thể vốn đầy đủ nguyện và hạnh, có thứ lớp như vậy. Đại sư nói rõ trong danh hiệu thì đầy đủ nguyện hạnh. Danh hiệu Phật A-di-đà đã đầy đủ nguyện hạnh thì tin nhận như vậy mà xưng danh, từng tiếng từng tiếng đều đầy đủ nguyện hạnh, chứ chẳng phải chúng sanh tự lực tích lũy công đức rồi sau mới đầy đủ.
Như trước trình bày toàn bộ nguyện hạnh đầy đủ trong sáu chữ danh hiệu. Nói theo phương diện nguyện thì toàn bộ sáu chữ là nguyện; nói theo phương diện hạnh thì toàn bộ sáu chữ là hạnh. Chẳng qua Đại sư chia ra để giải thích, coi Nam-mô là nguyện, A-di-đà Phật là hạnh, đây thuận theo ý nghĩa mà nói một cách gần gũi.
Lại nữa, nói ‘xưng danh hiệu Phật mười tiếng tức là có đầy đủ mười nguyện mười hạnh’, hoàn toàn chẳng phải xưng danh một tiếng đầy đủ một nguyện một hạnh, xưng
danh hai tiếng thì đầy đủ hai nguyện và hai hạnh, xưng danh mười tiếng thì đầy đủ mười nguyện mười hạnh, mà chỉ ra danh hiệu pháp thể vốn đầy đủ nguyện hạnh, cho nên xưng danh mỗi tiếng thì mỗi tiếng đầy đủ nguyện hạnh, không có một tiếng nào mà không đầy đủ nguyện hạnh cả. Vì thế, nguyện hạnh của một tiếng và nguyện hạnh của nhiều tiếng đều không lìa nguyện hạnh của Phật A-di-đà ban cho chúng sanh. Nguyện hạnh của Ngài ban cho chúng sanh tức là nghiệp nhân của sự vãng sanh, nghiệp nhân đã viên mãn rồi thì mỗi tiếng đều hiển hiện danh hiệu pháp thể A-di-đà Phật.
Nói tóm lại, nói xưng danh mười tiếng thì đầy đủ nguyện hạnh, hoàn toàn không phải lúc xưng niệm mới đầy đủ, mà danh hiệu sở xưng vốn đầy đủ nguyện hạnh, nay tin mà xưng danh hiệu Phật, cho nên xưng danh mười tiếng thì đương nhiên cũng đầy đủ nguyện hạnh. Thí như, sóng thấm nhuần vật, hoàn toàn không phải thành sóng mới thấm nhuần được vật, mà xưa nay nước có tác dụng thấm nhuần vật, tác dụng này sóng cũng đầy đủ, cho nên sóng có thể thấm nhuần vật.
VI. Hai môn hoằng và yếu, hai tông niệm và quán, ẩn hiện phế lập, từ giả vào chân
Trong Quán kinh sớ, bắt đầu từ ‘Tự đề môn’ thứ nhất trong ‘bảy môn bàn luận’ của ‘phần Huyền nghĩa’, Đại sư Thiện Đạo quy nạp nội dung của Quán kinh viết về ‘sự xác định giữa yếu môn và hoằng nguyện’ rất nổi tiếng là:
Giáo chủ cõi Ta-bà, vì nhân duyên phu nhân Vi-đề-hi thỉnh cầu nên Đức Phật rộng mở ra ‘yếu môn’ của Tịnh
độ. Đấng Năng nhân ở cõi An Lạc hiện rõ ý đặc biệt của ‘hoằng nguyện’.
‘Yếu môn’ của Tịnh độ: Tức là hai môn Định, Tán trong Quán kinh. Định tức là dừng tất cả phiền muộn lo âu để được nhất tâm, Tán tức là bỏ ác để tu thiện, quay về hai hạnh này mà cầu nguyện vãng sanh.
Nói về ‘hoằng nguyện’: Như trong Đại kinh ghi:‘Tất cả phàm phu thiện hay ác đều được vãng sanh, không ai không nương vào đại nguyện, đại hạnh và đại lực của Phật A-di-đà để làm tăng thượng duyên’.
Hai môn này được nói trong Quán kinh.
‘Yếu môn’ tức là ‘Định thiện’ của mười ba pháp quán, và ‘Tán thiện’ của tam phước, chín phẩm.
‘Hoằng nguyện’ tức là nguyện thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ, cũng tức là ‘bản nguyện lực’ của Phật A-di-đà.
‘Yếu môn’ là tự mình tu hành Định thiện và Tán thiện, hồi hướng để cầu vãng sanh. Bồ-tát Long Thọ gọi là ‘Nan hành đạo’, Đại sư Đàm Loan gọi là ‘Tự lực’.
‘Hoằng nguyện’ là hoàn toàn nương vào sức bản nguyện của Phật A-di-đà. Bản nguyện Di-đà đã hoàn thành sẵn sức cứu độ không thể nghĩ bàn cho chúng sanh trong mười phương, cũng tức là đại nguyện, đại hạnh và đại lực, muôn nghìn căn cơ chúng sanh trong mười phương không bỏ sót một ai, thiện hay ác đều thâu nhiếp cả, đại nguyện rộng lớn cho nên gọi là Hoằng nguyện. Bồ-tát Long Thọ gọi đó là ‘Dị hành đạo’, Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘Tha lực’.
Tiếp theo ‘Tông chỉ môn’ thứ ba xác định tông chỉ của Quán kinh nói:
“Nay Quán kinh này: Tức là lấy ‘Quán Phật tam-muội[1]’ làm tông, cũng lấy ‘Niệm Phật tam-muội’ làm tông”.
Bởi vì, nội dung của Quán kinh đã nói ở môn ‘yếu môn và hoằng nguyện’, vì lẽ đó nên có ‘hai tông niệm và quán’ là quán Phật của ‘yếu môn’ và niệm Phật của ‘hoằng nguyện’, nên gọi là ‘một kinh có hai tông’. Nhưng mà ‘quán Phật’ là con đường tự lực khó hành trì, đã không phải bản nguyện Di-đà, cũng chẳng phải bản hoài của Đức Thế Tôn, lại chẳng phải chúng sanh trong mười phương có thể thực hành được, mà ‘niệm Phật’ là con đường tha lực dễ hành trì, là bản nguyện của Phật A-di-đà, bản hoài của đức Thích Tôn, chúng sanh trong mười phương có thể thực hành được. Vì thế, ‘phần Lưu thông’ trong Quán kinh, Đức Thích Tôn không phó chúc pháp yếu môn, mà phó chúc pháp môn niệm Phật, tự Đức Thích Tôn ‘bỏ quán Phật mà lập nên niệm Phật’ (bỏ yếu môn để lập môn hoằng nguyện) nói:
Phật bảo A-nan: Ông khéo thọ trì lời này, thọ trì lời này tức là thọ trì danh hiệu Đức Phật Vô Lượng Thọ.
Đại sư Thiện Đạo thể ngộ được ý nhất trí của Phật A-di-đà và Đức Thích Tôn mà giải thích: “Ở trên, tôi tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này
[1] Quán Phật tam-muội 觀佛三昧 Gt: Quán Phật. Nhất tâm quán tướng tốt và công đức của thân Phật. Tam-muội này thành tựu thì thấy Phật hiện ra trước mặt.
nằm ở chỗ chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng[1] danh hiệu Phật A-di-đà”.
‘Phần Chánh tông’[2] trong Quán kinh[3] nói cặn kẽ về mười ba pháp quán của Định thiện và tam phước, chín phẩm của Tán thiện, y theo đó mà tu tuy có lợi ích hồi hướng đều được vãng sanh, nhưng điều lợi ích lớn hơn không nằm ở hai môn Định, Tán này, mà là nằm ở một môn hoằng nguyện, cũng tức là nguyện niệm Phật vãng sanh thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ (phần Lưu thông của Đại kinh gọi đó là công đức lợi ích rộng lớn vô thượng). Nguyện thứ mười tám là thệ ước, bảo chứng của Đức Phật A-di-đà đối với chúng sanh là niệm Phật nhất định vãng sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà, tin nhận sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà (chí tâm tin ưa), nguyện sanh về Tịnh độ Di-đà (muốn sanh về nước Tôi), chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà (cho đến mười niệm), thì chắc chắn vãng sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà (nếu
[1] Nhất hướng chuyên xưng: Nghĩa là một lòng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà đến suốt đời, không bao giờ thay đổi gọi là Nhất hướng chuyên xưng.
[2] Phần chánh tông 正宗分Cg: Chính thuyết phần. Phần trình bày tông chỉ chính yếu chứa đựng trong mỗi bộ kinh do ngài Đạo An thời Đông Tấn phân lập, 1 trong ba phần (phần Tựa, phần Chính tông, phần Lưu thông).
[3] Quán kinh 觀經 Cg: Quán Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh, Vô Lượng Thọ Phật Quán kinh, Vô Lượng Thọ Quán kinh, Thập lục quán kinh, Quán kinh, 1quyển, do ngài Cương-lương-da-xá dịch vào đời Lưu Tống, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 12. Đây là 1 bộ kinh nói về y báo, chánh báo cõi Tịnh độ. Nội dung thuật lại việc Đức Phật nhận lời thỉnh cầu của phu nhân Vi-đề-hi, thị hiện Tịnh độ Tây phương Cực Lạc, đồng thời nói về tu tam phước, Thập lục quán là pháp để được vãng sanh.
không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác), cho nên ở ‘phần Lưu thông’ trong Quán kinh Đức Thích Tôn phó chúc và tán thán ngài A-nan, muốn ngài ‘hãy thọ trì danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật’, cũng tức là nhất hướng chuyên xưng danh hiệu A-di-đà Phật được Đại sư Thiện Đạo giải thích. Ở đây có nghĩa là một lòng nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, bởi vì sáu chữ hồng danh Nam-mô A-di-đà Phật có đầy đủ các công đức, có thể cứu độ tất cả chúng sanh trong mười phương, bất luận chúng sanh nào chỉ cần một lòng nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu A-di-đà Phật thì đã lãnh thọ toàn bộ công đức của Phật A-di-đà, chứ không phải là tự lực quán Phật hoặc tự lực xưng danh để hồi hướng cầu sanh Tây Phương như là tu tập ở yếu môn.
Từ ‘hai tông niệm và quán’ của ‘yếu môn và hoằng nguyện’ đến ‘một tông niệm Phật’ của ‘yếu hoằng phế lập’ (bỏ yếu môn mà lập môn hoằng nguyện), ‘niệm quán phế lập’ (bỏ quán lập niệm), có ý ẩn hiện ‘từ giả vào chân’ (từ phương tiện nhập vào chân thật). Đây tức là các loại căn cơ được Đức Thích Tôn hướng dẫn từ Thánh đạo môn tiến vào Tịnh độ môn, lại từ yếu môn trong Tịnh độ môn quay về xây dựng hoằng nguyện niệm Phật thuộc bản nguyện A-di-đà. Vì thế, mục đích của Quán kinh không nằm ở mười ba pháp quán thuộc về Định thiện và tam phước, chín phẩm thuộc về Tán thiện, mà nằm ở chỗ nhất hướng chuyên xưng danh hiệu A-di-đà Phật. Biểu đồ như sau:


VII. Phật đứng trong hư không, hiện rõ hoằng nguyện, Vi-đề-hi vừa thấy, đắc Vô sanh nhẫn
Phần đầu có nêu ra Đại sư Thiện Đạo nói: “Đấng Năng nhân cõi An Lạc (Di-đà) hiện rõ ý đặc biệt của hoằng nguyện” trong ‘phần Huyền nghĩa’, nhưng rốt cuộc Đức Phật A-di-đà ‘hiện rõ hoằng nguyện’ ở đoạn nào trong Quán kinh? Là phần đầu ở pháp ‘quán Hoa tòa’ thứ bảy trong mười ba pháp quán của ‘phần Chánh tông’. Đây chính là chỗ ‘hiện rõ hoằng nguyện, Vi-đề-hi nhập tín’. Cũng trong phần đầu ở pháp ‘quán Hoa tòa’, khi Đức Thích Tôn biểu đạt cần nói ‘pháp để diệt trừ khổ não’ thì Đức Phật A-di-đà ứng theo tiếng của Đức Thích Tôn, lập tức hiện ra ở trong hư không để cho phu nhân Vi-đề-hi thấy. Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn này là ‘theo tiếng liền hiện, chứng đắc vãng sanh’. Ý cho rằng ‘pháp
diệt trừ khổ não’ ở ngay nơi bản thân Di-đà, hễ là chúng sanh khổ não nghiệp chướng sâu nặng nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì nỗi khổ ấy lập tức tiêu trừ, quyết định vãng sanh, không đoạn trừ phiền não mà đắc Niết-bàn, từ đây về sau chỉ cần nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Cũng tức là phu nhân Vi-đề-hi thấy Phật, không chỉ đơn thuần là mắt thấy thân Phật, mà còn hiểu rõ, tin sâu đây là Phật cứu độ mình. Nói cách khác, tức là thấy rõ nguyện lực của Phật A-di-đà. Theo ý này thì ‘quán Chân thân’ thứ chín, nói:
“Vì quán thân Phật nên thấy được tâm Phật, tâm Phật chính là đại từ đại bi, dùng vô duyên từ mà thâu nhiếp các chúng sanh”.
Thấy thân Phật tức là thấy tâm Phật, thấy tâm Phật tức là ngộ được vô duyên đại từ, đồng thể đại bi[1] của Phật nằm ở chỗ cứu độ bản thân mình là bọn hèn mọn, xấu xa, sợ sệt yếu ớt, đây tức là nhập tín, cũng tức là đạt đến Vô sanh pháp nhẫn (tín tâm bất thoái) của ‘tín ngộ hạnh’. Điều này giống với đoạn văn ‘nghe danh hiệu Ngài, tín tâm hoan hỷ cho đến một niệm, chí tâm hồi hướng nguyện sanh về cõi nước kia, liền được vãng sanh trụ bậc bất thoái chuyển’ được nói trong văn Thành tựu nguyện mười tám của Đại kinh. Đại sư Đàm Loan nói ‘danh tức là pháp’, ‘danh và thể không hai’, ‘danh và thể là một’, thấy thân Phật mà phát khởi niềm tin (thấy Phật đắc Vô sanh pháp nhẫn) và nghe danh hiệu Ngài mà phát khởi niềm tin (nghe danh hiệu Ngài mà được bất thoái), cửa vào thì khác nhau nhưng kết cuộc giống nhau.
[1] Đồng thể đại bi同體大悲 Cg: Đồng thể từ bi. Quán chúng sanh với mình đồng một thể mà khởi bi tâm bình đẳng để cứu khổ, ban vui.
Bởi thế, nghe và thấy cuối cùng giống nhau đều là thấu rõ sự từ bi cứu độ thuộc đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà, đây gọi là ‘nghe thấy như nhau’. Để nói cụ thể ý nghĩa này, Đại sư nêu ra ‘ví dụ con đường tốt giữa hai dòng sông’ trong phần Giải thích ba tâm, nói rõ hành giả đi trên con đường tốt, do tự mình tham dục, tâm sân mãnh liệt, không thể dừng được, tới lui đều chết, ngay lúc đọa vào địa ngục, bỗng nhiên nghe được tiếng cứu độ của Phật A-di-đà, nói:
“Ông nhất tâm chánh niệm đi thẳng đến đây, Ta sẽ bảo vệ ông, đừng sợ rơi vào trong nước và lửa”.
Bỗng nhiên nghe lời này giống như tiếng sấm qua tâm, hoát nhiên tỉnh ngộ, niềm tin phát khởi, không thể nghĩ bàn, khen ngợi chưa từng có, lập tức ở trong cảnh giới tâm vô cùng an lạc và rất mãn nguyện (bất thoái chuyển). Việc thấy Phật hoặc nghe Phật được nói trong pháp môn Tịnh Độ, tức là thể ngộ được cảnh giới này vậy. Ví dụ ‘hai dòng sông’ có thể nói là miêu tả cụ thể lịch trình nơi tâm của hành giả, mà tiếng kêu gọi của Đức Phật A-di-đà là nội hàm cụ thể của lời nguyện thứ mười tám. Như biểu đồ dưới đây.
Tiếng gọi Đức Phật A-di-đà: “Ông nhất tâm chánh niệm đi thẳng đến đây, Ta sẽ bảo vệ ông, đừng sợ rơi vào trong nước và lửa”.
Nguyện thứ mười tám: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương, chí tâm tin ưa muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác (chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp)”.

Hành giả được ánh sáng (trí huệ) của Đức Phật A-di-đà chiếu soi, biết rõ mình là căn cơ tham, sân, tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp, tam định tử[1], không thể nào cứu được, nhưng cùng lúc này, âm thanh từ bi cứu độ ‘Ta có thể cứu ông, đừng sợ hãi’ của Đức Phật A-di-đà chảy vào thân tâm, trở thành người niệm Phật tin sâu vào căn cơ và giáo pháp, không sợ lửa (sân) và nước (tham), an tâm đi trên con đường tốt. Điều này được nói trong ‘quán Chân thân’ là:
Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ.
Gọi là ‘trực lai’ (thẳng đến) tức là không cần đi đường vòng xa xôi, không do dự, cũng tức là nếu không thể thay đổi nguyên trạng, thì cứ giữ tâm trạng hiện tại mà nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Đây tức là không cần để ý đến sự tham, sân của mình, mà chỉ ngẩng đầu bước trên
[1] Tam định tử 三定死 Ba điều sợ hãi: 1. Quay đầu lại cũng chết, 2. Ở cũng chết, 3. Đi cũng chết. Tử là chịu khổ luân hồi trong sáu nẻo.
con đường tốt của nguyện lực Phật A-di-đà, chỉ nương vào sự từ bi cứu độ của A-di-đà, đó gọi là ‘tin thuận theo ý của Đức Phật A-di-đà và Đức Thích Tôn, không quan tâm đến hai dòng sông lửa và nước, mỗi niệm không bỏ sót, nương vào con đường nguyện lực của Phật’.
Kẻ nam, người nữ, xuất gia hay tại gia, kẻ ngu, người trí tùy theo căn cơ của họ, chỉ cần niệm Phật không hề hạn chế, nếu có hạn chế thì chúng sanh trong mười phương tuyệt đối không thể vãng sanh.
Vì thế, tiếng gọi ‘trực lai’ là đỉnh điểm bi tâm của Phật A-di-đà, là đỉnh cao của nguyện lực. Đây chính là chỉ ra bản nguyện ‘chúng sanh trong mười phương cho đến mười niệm, nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’ của Phật A-di-đà’ là ‘lời nguyện siêu việt’.
Gọi là ‘lời nguyện siêu việt’ tức là bi nguyện vượt hẳn chư Phật trong mười phương, ba thời, dùng bản nguyện không thể nghĩ bàn của Phật A-di-đà để cứu độ những chúng sanh không thể được cứu độ, để cứu độ những người không thể vãng sanh, cho nên bản nguyện của Phật A-di-đà gọi là ‘Siêu thế bi nguyện’, con đường này được mệnh danh là ‘Siêu thế trực đạo’.
Bởi lẽ, Đức Phật A-di-đà lúc ở nhân địa phát ra bản nguyện siêu việt ‘chúng sanh trong mười phương, cho đến mười niệm, nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’, cũng chính là vì thành tựu được bản nguyện siêu việt độc nhất vô nhị này, cho nên Đức Phật này gọi là ‘Nam-mô A-di-đà Phật’. Vì lẽ đó, Đức Phật A-di-đà khác xa với các Đức Phật khác, hàng phàm phu tham sân, người
ác cực nặng ở trong đời ác ngũ trược, chư Phật trong mười phương đều không có nguyện lực để cứu độ những chúng sanh này, và cũng không có Tịnh độ nào có thể dung chứa họ. Chư Phật trong mười phương chỉ có một mình Đức Phật A-di-đà có nguyện lực này để cứu vớt chúng sanh, có Báo độ này để dung chứa chúng sanh. Vì thế, bản nguyện siêu việt này gọi là ‘hoằng nguyện’ vượt hơn chư Phật trong mười phương, ba thời, cho nên trong kinh Đại A-di-đà, Đức Thích Tôn hết sức ca ngợi Nam-mô A-di-đà Phật là:
Vua trong các Đức Phật, tôn quý trong quang minh.
Nếu như mười phương chúng sanh chúng ta đọa vào địa ngục thì lập trường của Đức Phật A-di-đà đứng không vững, lý do Nam-mô A-di-đà Phật liền mất đi, đây là vì thân phận Phật A-di-đà.
Trong khi ta chìm đắm trong biển lớn, không đủ sức để ngoi lên, sắp bị chìm chết, thì đích thân Đức Phật A-di-đà nhảy vào biển lớn cứu ta lên bờ, không những làm cho ta sống lại mà còn được bất thoái chuyển.
Đương lúc ta sắp đọa địa ngục mới phát hiện Đức Phật A-di-đà đã ở đây chờ đợi đã mười kiếp.
Khi chúng ta không thể thực hành giới định huệ, tham sân si cũng chẳng đoạn trừ mà nghe đến tiếng gọi bi thương của Phật A-di-đà là hãy thẳng đến đây, vì thế rất an lòng bước trên con đường tốt, sống tức là tín tâm, tín tâm là tức hằng ngày niệm Phật.
Lại nữa, hành giả đi vào con đường tốt, cuối cùng nghe được tiếng gọi của Phật A-di-đà mà được cứu độ, xét về nhân này cũng do công chỉ lối của Đức Thích Tôn, ‘thí dụ
về hai dòng sông’ có ghi:
“Trên bờ phía Đông bỗng nhiên nghe tiếng người kêu: Này nhân giả! Ông cứ quyết định đi theo con đường này thì nhất định thoát chết, còn nếu đứng lại thì sẽ chết”.
Và phần sau ‘Tự đề môn’ thứ nhất của ‘phần Huyền nghĩa’ cũng đã nói rõ về lòng đại bi của ‘Nhị tôn khiển hoán’, ‘Nhị tôn nhất trí’ của Đức Thích Tôn thúc giục và Phật A-di-đà đến tiếp dẫn, nói:
“Ngưỡng mong Đức Thích Tôn ở cõi Ta-bà thúc giục, Phật Di-đà ở cõi nước kia đến tiếp dẫn. Phật ở cõi nước kia gọi, Phật ở cõi này thúc giục, sao dễ như vậy mà không đi?”.
Trong ‘Nhị tôn khiển hoán’, kinh xác nhận Đức Phật A-di-đà ‘đứng trong hư không’ kêu gọi, có thể được tìm thấy ở phần đầu của pháp quán Hoa tòa. Đây tức là bản thân Đức Phật A-di-đà thể hiện rõ hoằng nguyện (đại nguyện). Và kinh xác nhận Đức Thích Tôn thúc giục, nằm ở chỗ nào trong Quán kinh? Đây là văn ‘Phó chúc A-nan’ trong phần Lưu thông phía sau:
Phật bảo A-nan: “Ông hãy khéo thọ trì lời này, thọ trì lời này, tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ”.
Ý của hai Đức Phật này đều nhất trí và không khác, bên này thúc giục, bên kia vẫy gọi, là tác dụng tự nhiên của hoằng nguyện Phật A-di-đà, mục đích nằm ngay chỗ cứu độ chúng sanh chìm trong nước sâu, lửa dữ một cách chủ động, một cách bình đẳng và không có điều kiện nào cả.
Ân của hai Đức Phật, dù tan thân mất mạng cũng không thể báo đáp được, dù nghiền nát xương cốt cũng không thể báo đền.
Bát-chu tán nói:
Không nhờ sức hoằng thệ Di-đà
Lúc nào, kiếp nào thoát Ta-bà
Được thoát Ta-bà nhiều kiếp khổ
Ngày nay nhờ ân Phật Thích-ca.
Nếu chẳng phải Thích-ca chỉ dạy.
Tịnh độ Di-đà làm sao đến.
Lại nữa, phần trước đã nói ‘thấy Phật nhập vào tín thành tựu’ hoặc ‘thấy Phật đắc Vô sanh nhẫn’ là chỉ dành riêng cho căn cơ niệm Phật, thấu tỏ bi tâm của Phật A-di-đà, tức là nói tin sâu vào bi nguyện của Đức Phật A-di-đà rằng xưng danh nhất định vãng sanh. Người học Phật hoặc có người trong lúc mộng thấy Phật, trong khi tĩnh tọa thấy Phật, trong khi niệm Phật cũng thấy Phật, thậm chí trong lúc hiểm nguy khó khăn được Phật và Bồ-tát hiện thân cứu thoát. Đây là sự cảm ứng bình thường, không thể sánh bằng sự tin sâu về căn cơ và giáo pháp.
VIII. Chánh nhân vãng sanh ở chỗ tâm tin sâu, nương hạnh lập tín, tín và hạnh một thể
Lời mở đầu ‘đoạn văn chín phẩm’ trong Quán kinh nói:
“Người nguyện sanh về cõi nước kia, phát ba loại tâm thì liền được vãng sanh. Những gì là ba?
1. Chí thành tâm. 2. Thâm tâm. 3. Hồi hướng phát nguyện tâm. Nếu đầy đủ ba tâm này thì chắc chắn sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà”.
Ba tâm này là cốt tủy của pháp môn Tịnh Độ, là tâm can của hành giả, là con mắt của Quán kinh để giúp hành giả thoát
khỏi đường sanh tử. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo đặc biệt đặt hai chữ ‘kinh vân’ phía trước câu này, nêu ra lời Đức Phật dạy để làm sáng tỏ tầm quan trọng nhằm khuyên mọi người tin nhận.
Phần đầu đoạn giải thích ba tâm, Đại sư nêu ra ‘xác định ba tâm cho là chánh nhân’, có nghĩa là ba tâm là chánh nhân của sự vãng sanh. Và phần cuối đoạn Giải thích ba tâm, nói ‘Lại ba tâm này cũng tóm thâu Định thiện và Tán thiện’, có nghĩa là mười ba pháp quán thuộc Định thiện cũng phải có ba tâm này. Nếu không đủ ba tâm này thì không thể nào vãng sanh. Do đây có thể biết: Bất luận là Định thiện hay Tán thiện, vãng sanh nằm ở ngay ba tâm này, có ba tâm này thì được vãng sanh, nếu không có ba tâm này thì không được vãng sanh. Vì thế, ba tâm này không chỉ là nằm ở trong Quán kinh, mà có thể nói là cốt lõi của tông Tịnh Độ, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của nó, cho nên ‘Chương người niệm Phật nhất định phải đầy đủ ba tâm’ trong tác phẩm Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của Pháp Nhiên thượng nhân nói: “Ba tâm cực kỳ quan trọng đối với hành giả”.
Theo ý văn này thì ba tâm có nghĩa ‘ba tâm của yếu môn’ và ‘ba tâm của hoằng nguyện’.
Ba tâm của Định thiện và ba tâm về Tán thiện của yếu môn là ‘ba tâm của tự lực’ trong việc ‘trở về với hai hạnh này để cầu nguyện vãng sanh’.
Ba tâm của hoằng nguyện là ‘ba tâm của tha lực’ ‘nương vào đại nguyện, đại hạnh và đại lực của Phật A-di-đà’.
Ba tâm có khác nhau: ‘Ba tâm của tự lực yếu môn’ và ‘ba tâm của tha lực hoằng nguyện’.
‘Ba tâm của tự lực’, vì bản thân hành giả phát khởi ba tâm,
nên căn cơ có nhiều sự khác biệt, bởi thế mức độ mà mỗi cá nhân phát khởi ba tâm cũng rất khác nhau, hơn nữa ba tâm của tự lực chẳng phải là tâm hư giả, dối trá không chân thật, mà nó do hàng phàm phu sanh tử tội ác, tâm đầy dẫy nhiễm ô bất tịnh phát khởi, cho nên gọi là ‘Nan hành đạo’.
‘Ba tâm của tha lực’ bất luận là Định thiện hay Tán thiện, bất luận kẻ trí hay người ngu, người thiện hay kẻ ác, bất luận kẻ Hữu lậu[1] hay người Vô lậu[2] đều tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, cho nên ba tâm đều thâu nhiếp chung ở ‘Thâm tâm’. Đại sư nói ‘Thâm tâm tức là tâm tin sâu’, và giải thích mở rộng ra thành ‘bảy tâm tin sâu và sáu tâm quyết định’, quy nạp thành ba nghĩa chính như ‘hai loại tin sâu đó là Tựu nhân lập tín và Tựu hạnh lập tín’. ‘Hai loại tin sâu’, tức là ‘tin sâu căn cơ và giáo pháp’. ‘Cơ’ chỉ cho chính mình, ‘pháp’ chỉ cho Đức Phật A-di-đà. Tin căn cơ của mình không đủ sức, vì tội ác ở trong sanh tử nên không có nhân duyên để thoát khỏi. Tin pháp có sức mạnh, chỉ cần nương vào nguyện lực chân thật của Phật A-di-đà (xưng danh niệm Phật cho đến mười niệm) thì nhất định được vãng sanh. Lòng tin này ở nơi kẻ phàm hay bậc thánh đều bình đẳng, ai ai cũng như nhau, sự cứu độ đều do sức của Phật A-di-đà, đều nhờ lòng tin chuyên nhất, cho nên gọi là ‘Dị hành đạo’.
Tin sâu vào căn cơ và giáo pháp chính là nội dung bản nguyện thứ mười tám, cũng là ý chính của thí dụ con đường tốt giữa hai dòng sông nước và lửa. Văn nói về việc tin sâu
[1] Hữu lậu 有漏: Phiền não sanh ra làm cho người trôi lăn không dừng trong thế giới mê vọng, khó có thể ra khỏi biển khổ sanh tử.
[2] Vô lậu 無漏: Pháp thanh tịnh, xa lìa phiền não.
vào căn cơ và giáo pháp, ghi:
Một là Quyết định tin sâu: Bản thân hiện tại là hàng phàm phu tội ác sanh tử, từ nhiều kiếp đến nay thường bị trôi lăn, không có nhân duyên ra khỏi sanh tử.
Hai là Quyết định tin sâu: Bốn mươi tám lời nguyện của Đức Phật A-di-đà nhiếp thọ tất cả chúng sanh, không có hoài nghi, cũng chẳng lo sợ, hễ nương vào nguyện lực của Phật thì nhất định được vãng sanh.
Vãng sanh lễ tán giải thích về ‘Thâm tâm’ rằng:
“Thâm tâm tức là ‘Tín tâm chân thật’: Tin biết tự thân mình là phàm phu đầy đủ phiền não, thiện căn cạn mỏng, lưu chuyển trong ba cõi, không ra khỏi nhà lửa, nay tin biết bản hoằng thệ nguyện của Phật A-di-đà và xưng danh hiệu Ngài, dưới đến mười tiếng, một tiếng, thì nhất định được vãng sanh, hoàn toàn không có tâm hoài nghi, cho nên gọi là Thâm tâm”.
Từ lời giải thích này mà chúng ta có thể biết được: Lòng tin trong pháp môn Tịnh Độ chính là tin ‘trên suốt cả đời, dưới đến một tiếng, một niệm cũng chắc chắn vãng sanh’. Sau khi đã tin như vậy rồi thì bản thân mình suốt đời chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Đây cũng tức là ý của nguyện thứ mười tám ‘cho đến mười niệm’. Bởi thế, Bồ-tát Long Thọ nói: “Lấy niềm tin làm phương tiện nên dễ thực hành mà mau đến”. Nếu tin mà không thực hành thì chẳng phải là tin chân thật; nếu có thể chuyên hành trì thì niềm tin sẽ ở ngay trong đó, phù hợp với nguyên lý của bản nguyện.
‘Văn phán về tin và nghi quyết định’ trong ‘Chương người niệm Phật nhất định phải đầy đủ ba tâm’ trong tác phẩm Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của Pháp Nhiên
thượng nhân nói:
Thâm tâm tức là tâm tin sâu, nên biết:
Nhà sanh tử do nghi ngờ mà trụ lại;
Thành Niết-bàn do niềm tin mà vào được.
Nói theo phương diện Thánh đạo môn thì nhân của sanh tử và Niết-bàn, nằm ở chỗ đã đoạn trừ phiền não hay chưa, cũng chính là nằm ở chỗ mê hay ngộ, mê thì luân hồi sanh tử, ngộ thì giải thoát Niết-bàn, hoàn toàn chẳng phải là tin hay nghi. Bởi vì, Thánh đạo môn hoàn toàn dựa vào tự lực, dùng sức của mình để phá vô minh, ngộ thật tướng, đoạn trừ phiền não, dùng sức của mình để ra khỏi luân hồi trong ba cõi sáu đường, nếu không đoạn trừ được phiền não thì không chứng được Niết-bàn, cho nên giáo lý của Thánh đạo môn là tự lực.
Giáo lý của pháp môn Tịnh độ là tha lực, cũng tức là nương vào sức bản nguyện không thể nghĩ bàn của Phật A-di-đà để vãng sanh Cực Lạc. Đã vãng sanh Cực Lạc thì tự nhiên lìa xa luân hồi sanh tử trong ba cõi sáu đường. Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘các loại sanh từ thai, trứng, ẩm thấp, nương vào cõi Cực Lạc mà được nâng cao; nghiệp trói buộc triền miên, từ đây vĩnh viễn đoạn trừ’. Hơn nữa, Cực Lạc là cảnh giới Niết-bàn vô vi, vãng sanh tức ngộ được Vô sanh (sanh tức Vô sanh), thân tâm chứng quang minh và thọ mạng vô lượng đồng với Đức Phật A-di-đà. Vì thế, nếu tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ A-di-đà, Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘Sự nghiệp thành tựu’ (hạnh vãng sanh đã thành tựu), ‘không cần đoạn trừ phiền não mà đắc Niết-bàn’.
do vậy, căn cứ theo Tịnh độ môn mà nói, thì nhân sanh
tử và Niết-bàn nằm ở chỗ tin và nghi, không nằm ở chỗ mê và ngộ. Người tin thì được vãng sanh, người nghi thì không được vãng sanh. Cũng như người bệnh, tin lời của thầy thuốc (tín tâm), khi uống thuốc (niệm Phật) thì bệnh tự khỏi. Nhưng nếu người bệnh không tin, không uống thuốc thì sẽ mất mạng. Tuy nguyên nhân chết nằm chỗ bệnh nặng, nhưng do không chịu uống thuốc thì rốt cuộc dẫn đến tử vong. Bệnh phiền não của chúng ta rất sâu nặng, không thể tự khỏi, chỉ có niệm sáu chữ hồng danh tức là thuốc A-già-đà[1], do bản nguyện Di-đà lập nên, thì không những muôn bệnh đều khỏi mà còn được thọ mạng vô lượng, thân tâm an ổn, lục thông tự tại.
Vãng sanh nước An Lạc, chỉ ở tin niệm Phật
Nếu hết lòng tin sâu, ba tâm tự nhiên đủ.
IX. Năm loại chánh hạnh, định nghiệp xưng danh, thuận bản nguyện Phật, quyết định vãng sanh
Trong phần ‘Giải thích thâm tâm’, Đại sư nói đến ba nghĩa quan trọng là, Hai loại tin sâu, Tựu nhân lập tín, Tựu hạnh lập tín.
‘Hai loại tin sâu’ như trước đã nói, ‘Tựu nhân lập tín’ là nương vào lời của người có lòng đại từ bi như Đức Thích-ca, các Đức Phật đã nói, để xây dựng tín tâm đối với bản nguyện cứu độ của Đức Phật A-di-đà. Pháp môn cứu độ thuộc bản nguyện A-di-đà là do Đức Thích Tôn nói, chư Phật trong
[1] A-già-đà 阿伽陀 Hd: Kiện khang, Trường sanh bất tử, Vô bệnh, Phổ khử, Vô giá, Bất tử dược, Hoàn dược. Cg: A-yết-đà, A-kiệt-đà. Vị thuốc hay, có giá trị vô cùng, uống vào có thể trừ hết tất cả các loại bệnh của chúng sanh.
mười phương dị khẩu đồng âm chứng thật, các Đức Phật này đều là bậc bi trí viên mãn, lời các Đức Phật nói không sai mảy may, không chút hoài nghi, đều có thể tin nhận. Nếu nhân vị của các Bồ-tát, trí hạnh chưa viên mãn, thì lời nói của họ không đủ độ tin cậy, đây gọi là ‘Tựu nhân lập tín’. Vì thế phần kết luận, Đại sư nói: “Một vị Phật nói thì tất cả Đức Phật đồng chứng thành, đây gọi là Tựu nhân lập tín”.
Pháp môn niệm Phật do Đức Thích-ca và chư Phật nói, là pháp nương vào nguyện lực của Phật, là công hạnh do danh hiệu hiện ra, lấy hạnh nghiệp này để xác lập tín tâm đối với bản nguyện cứu độ của Phật A-di-đà, chính là ‘Tựu hạnh lập tín’.
Ở đây, Đại sư nói rõ ‘hạnh’ có hai loại: Một là ‘chánh hạnh’, hai là ‘tạp hạnh’. Nói theo hạnh vãng sanh Tịnh độ thì dùng hạnh nghiệp của Phật A-di-đà hướng về Tây phương Tịnh độ, gọi là ‘chánh hạnh’; ngược lại, dùng vạn hạnh Thánh đạo ở cõi này để vào bậc Thánh, mà chuyển hướng vãng sanh Tịnh độ, gọi là ‘tạp hạnh’.
‘Chánh hạnh’ có ‘năm loại chánh hạnh’ đó là ‘Đọc tụng, quán sát, lễ bái, xưng danh, tán thán’ như:

Năm loại chánh hạnh này lại chia thành ‘chánh định nghiệp’ và ‘trợ nghiệp’, cũng tức là ba hạnh trước và một hạnh sau cùng là trợ nghiệp, hạnh xưng danh thứ tư là chánh định nghiệp, Đại sư nói:
“Một lòng chuyên niệm danh hiệu A-di-đà, bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm đều không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
Đại sư lại nói: “Ngoài ra, các điều thiện khác đều gọi là tạp hạnh”.
Tạp hạnh tức là trái lại với chánh hạnh, tóm lại có ‘năm loại tạp hạnh’, mở rộng ra thì có vô lượng tạp hạnh. Vô lượng tạp hạnh cũng gọi là ‘muôn hạnh các điều thiện’. Năm loại tạp hạnh như sau:
1. Tạp hạnh đọc tụng: Vì vãng sanh Cực Lạc mà đọc tụng kinh điển ngoài ba bộ kinh Tịnh độ này.
2. Tạp hạnh quán tưởng: Vì vãng sanh Cực Lạc mà quán tưởng hình tượng Y báo và Chánh báo ngoài Tịnh độ Cực Lạc.
3. Tạp hạnh lễ bái: Vì vãng sanh Cực Lạc mà lễ bái chư Phật và Bồ-tát ngoài Đức Phật A-di-đà.
4. Tạp hạnh xưng danh: Vì vãng sanh Cực Lạc mà xưng niệm danh hiệu chư Phật, Bồ-tát và những câu thần chú ngoài Đức Phật A-di-đà.
5. Tạp hạnh tán cúng: Vì vãng sanh Cực Lạc mà ca ngợi cúng dường chư Phật và Bồ-tát ngoài Đức Phật A-di-đà.
Đại sư nói:
“Nếu tu những tạp hạnh thì tâm thường gián đoạn, tuy có thể hồi hướng vãng sanh nhưng được gọi là hạnh tạp nhạp”.
‘Hành tướng vãng sanh’ này vừa có ‘hai hạnh chánh và tạp’, cũng lại có ‘hai hạnh được và mất’, được và mất có năm loại như dưới đây:
‘Năm cái được của chánh hạnh’: Thân, gần, không gián đoạn, không cần hồi hướng, thuần đối với Phật Di-đà.
‘Năm cái mất của tạp hạnh’: Sơ, xa, có gián đoạn, nhất định phải hồi hướng, tạp đối với Phật Di-đà.
Xem biểu đồ như sau:

Năm loại tạp hạnh vốn cũng tốt, muôn hạnh các điều thiện cũng tốt đều là sự tu hành trong Phật giáo. Nói theo tính chất hành nghiệp thì tạp hạnh là Nan hành đạo, tự lực của Thánh đạo môn, cũng tức là hành nghiệp nhập thánh ở cõi Ta-bà; còn chánh hạnh là Dị hành đạo, tha lực của Tịnh độ môn, cũng tức là hành nghiệp được chứng ở cõi Cực Lạc. Tính chất lợi ích của hai hạnh này hoàn toàn khác nhau. Để phân biệt rõ việc này, Đại sư đã phân biệt hai hạnh này, đồng thời nêu ra ‘hai hạnh được và mất’, có ý khen và chê, bỏ và lập, cũng tức là khen chánh hạnh, chê tạp hạnh, khuyên bảo thực hành chánh hạnh và bỏ tạp hạnh.
Phân chia ‘chánh hạnh và tạp hạnh’ là sự phán thích của Tịnh độ môn. Nói theo Thánh đạo môn thì tạp hạnh không gọi là tạp, nhưng nói đến Tịnh độ môn thì chẳng phải hành nghiệp Cực Lạc của Phật A-di-đà thuần túy, cần phải hồi hướng mới có thể vãng sanh, nếu không hồi hướng thì không thể vãng sanh, cho nên gọi là tạp. Cũng như chiếc xe chạy suốt, đến trạm tức là đích đến, nếu chẳng phải xe chạy suốt thì cần phải chuyển xe nhiều nơi, chuyển hướng đến mục đích, nếu không thì khó mà đến được. Nói chung, công hạnh không liên quan đến Phật A-di-đà, thì dù chuyên tu một hạnh cũng gọi là tạp, vẫn cần phải hồi hướng mới có thể vãng sanh.
Vốn là người tu hành Thánh đạo môn, muốn nhập thánh chứng quả ở cõi Ta-bà, cho nên họ lấy lục độ vạn hạnh làm nhân hạnh, nhưng mà rốt cuộc tự cảm thấy phiền não nghiệp chướng sâu nặng, nếu dùng sức mình tu hành thì không có cách nào viên mãn được các ba-la-mật trong
lục độ vạn hạnh, không cách nào chứng quả ở cõi này, cho nên phát nguyện cầu sanh Tịnh độ Cực Lạc, hồi hướng công đức của mình tu tập. Nếu thay đổi hạnh nghiệp của Thánh đạo môn, bỏ tạp hạnh quay về chánh hạnh, bỏ tạp tu mà vào chuyên tu, thì không cần phải hồi hướng, bởi vì công hạnh thuần túy Cực Lạc, nhưng tạp hạnh chẳng phải là công hạnh thuần túy Cực Lạc, thông cả trời, người, ba thừa và Tịnh độ của mười phương, tùy theo nghiệp mà cảm lấy quả báo. Do có sự khác biệt cho nên quả cũng khác nhau, nếu không hồi hướng thì không thể cảm được quả ở Cực Lạc, cho nên gọi đó là tạp. Song, tuy hồi hướng nhưng cũng chỉ sanh trong bào thai, không thể hóa sanh được, bởi vì không phải là hạnh chân thật của bản nguyện Phật A-di-đà, mà chính là công hạnh hư giả, các điều thiện tạp nhạp của hàng phàm phu. Vả lại, nếu không nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì không được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ. Vì thế, trong Vãng sanh lễ tán, Đại sư nói:
Sắc thân Di-đà như núi vàng
Tướng hảo quang minh chiếu mười phương
Chỉ có niệm Phật ánh sáng nhiếp
Nên biết bản nguyện mạnh vô cùng.
Lại nữa, Bát-chu tán nói:
Tướng hảo càng nhiều tám vạn tư
Mỗi một ánh sáng chiếu mười phương
Ánh sáng không chiếu người duyên khác
Chỉ chiếu người niệm Phật vãng sanh.
Về vấn đề Tạp hạnh không được vãng sanh, Pháp sự tán[1] quyển hạ, Đại sư nói:
Cực Lạc là vô vi, Niết-bàn
Tùy duyên tạp thiện sợ khó sanh
Thế nên Như Lai chọn pháp yếu
Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên.
‘Niệm Phật Di-đà chuyên lại chuyên’ tức là ‘chánh định nghiệp’, như Đại sư nói:
“Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, đi, đứng, nằm, ngồi, bất kể thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
‘Chánh định nghiệp’ có hai nghĩa: Tức là ‘nghiệp chánh tuyển định’ và ‘nghiệp chánh quyết định’. ‘Nghiệp chánh tuyển định’, nói theo phương diện Đức Phật A-di-đà thì Ngài loại bỏ tất cả các hạnh trong thệ nguyện của hai trăm mười ức cõi nước chư Phật, vì chẳng phải là nhân nguyện để chúng sanh vãng sanh. Ngài quyết định chọn lấy một hạnh niệm Phật, làm nhân nguyện để chúng sanh vãng sanh, cho nên gọi là ‘nghiệp chánh tuyển định’. ‘Nghiệp chánh quyết định’, nói theo phương diện chúng sanh thì chúng sanh phải tin tưởng thuận theo nguyện này, xưng danh hiệu Phật thì quyết định vãng sanh, cho nên gọi là ‘nghiệp chánh định’
[1] Pháp sự tán 法事讚 Cg: Tịnh độ pháp sự tán. Tác phẩm 2 quyển, do Đại sư Thiện đạo soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Nội dung sách này trình bày về nghi thức tụng kinh A-di-đà là hình thức sám hối, cúng dường theo lối văn kinh có xen văn tán, thường được sử dụng khi có pháp sự trong tông Tịnh Độ.
Văn trong ‘chánh định nghiệp’ giải thích:
‘Nhất tâm’ tức là ‘ba tâm’của bản nguyện.
‘Chuyên niệm’ tức là ‘mười niệm’ của bản nguyện.
Nói theo ba tâm thì ‘danh hiệu Phật A-di-đà’ là ‘sở văn sở tín’. Nói theo mười niệm thì đây là ‘sở xưng sở niệm’. Tin là tin bản nguyện Di-đà. ‘Hành’ là thực hành danh hiệu Phật A-di-đà.
Hai chữ ‘bất luận’ trong câu ‘đi, đứng, nằm, ngồi là bất luận thời gian lâu hay gần’ xuyên suốt trước sau. Vì thế, bất luận là đi, đứng, nằm, ngồi tức là không kể mọi lúc, mọi nơi, mọi duyên, không kể thời gian lâu hay gần tức là không kể thời gian dài hay ngắn. Cũng tức là không kể thời gian dài ngắn trong mọi lúc, mọi nơi, mọi duyên, đều có thể niệm Phật, đều phải niệm Phật, nhất tâm chuyên niệm, mỗi niệm chẳng bỏ danh hiệu Phật A-di-đà, cho nên đoạn văn bên dưới nói: “Mỗi niệm không bỏ”. Câu ‘bất luận thời gian dài hay ngắn’ này, tức là chữ ‘cho đến’ trong câu ‘cho đến mười niệm’ của văn bản nguyện. Ý nghĩa ‘cho đến mười niệm’, tức là dùng ý nghĩa câu ‘cho đến mười niệm, một niệm cũng được vãng sanh’ để xây dựng tín tâm, cho nên văn bản nguyện nói ‘cho đến mười niệm’, văn thành tựu nói ‘cho đến một niệm’. Khi lâm chung mười niệm, một niệm cũng được vãng sanh, như thế thì ai mà không được vãng sanh! Thế nên, một đời niệm Phật thì chắc chắn được vãng sanh.
Ở phần ‘Tựu nhân lập tín’ của phần trước, Đại sư nói:
“Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, có thể trên đến suốt cả trăm năm, dưới đến một ngày bảy ngày, nhất tâm chuyên niệm danh
hiệu Phật A-di-đà, thì nhất định vãng sanh, không nghi ngờ gì cả”.
Câu ‘bất luận tội hay phước nhiều hay ít’ này, tức là bất luận căn cơ chúng sanh, cũng chính là không kể thân phận chúng sanh như thế nào, dù là hàng xuất gia hay tại gia, bậc thánh nhân hay kẻ phàm phu, người thiện hay kẻ ác, ai cũng được cả, chỉ nói đến người muốn vãng sanh mà xưng danh hiệu. Và câu ‘bất luận là thời gian lâu hay gần’ tức là bất luận thời gian dài hay ngắn, đều phải chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, căn cơ chúng sanh sống lâu thì suốt đời xưng danh; chúng sanh mạng ngắn thì cho đến bảy ngày, một ngày xưng danh, khi lâm chung niệm mười niệm, một niệm cũng được vãng sanh. Vì thế, có thể biết vãng sanh Cực Lạc là nằm ở chỗ tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ Di-đà. Nghiệp nhân vãng sanh đã đầy đủ rồi, thì tùy theo báo thân dài hay ngắn mà suốt đời chỉ một tâm mà không hai lòng, tín tâm không có hoài nghi thì chuyên niệm danh hiệu Phật, bất luận là mọi lúc, mọi nơi, mọi duyên, khi đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng kể thời gian lâu hay gần, dài hay ngắn. Đại sư Đàm Loan nói: “Mười niệm chính là nói Sự nghiệp đã thành tựu”, cũng tức là nghiệp nhân vãng sanh nằm ở chỗ chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà ‘cho đến mười niệm’ thì đã hoàn toàn quyết định, ngài cũng gọi là ‘Bình sanh nghiệp thành’[1].
[1] Bình sanh nghiệp thành平生業成 Cg: Lâm chung nghiệp thành. Việc thành tựu nhân vãng sanh Tịnh độ trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Đó cũng là chủ trương của các vị thuộc Tịnh độ Chân tông Nhật Bản như Hạnh Tây, Chứng Không, Thân Loan v.v.
Câu ‘bất luận tội phước nhiều hay ít, đều khuyên chuyên niệm danh hiệu Phật’ này, cho thấy pháp môn cứu độ vô ngại nương vào sức của Phật A-di-đà, để tiêu trừ tất cả chấp trước kiến giải hoài nghi. Hoặc có người chấp trước tội phước nhân quả, tu phước thì được vãng sanh, tạo tội thì không vãng sanh. Hoặc có người chấp trước phước nhiều tội ít còn có thể vãng sanh, tội nhiều phước ít thì không thể vãng sanh. Để loại bỏ những nghi chấp này, nên nói: “Bất luận tội phước nhiều hay ít, chỉ cần nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà”.
Nhưng có người tà kiến hiểu sai sự cứu độ của Phật A-di-đà, chẳng kể tội phước nhiều hay ít, tội không đáng sợ, phước cũng chẳng tu, nếu có người sợ tội tu phước thì đó là người chưa tin được nguyện lực của Phật A-di-đà, vì thế càng thêm lười biếng buông lung, cứ làm ẩu làm càn. Những người này, lúc hỏi về tội phước, coi việc tu phước là sai, tạo tội là đúng, bám víu tà kiến này mà tự cho rằng tín tâm quyết định, là nhân Tịnh độ. Vì cũng có người nói bản thân là phàm phu tội ác, nên buông lung ba nghiệp, mặc sức làm ác, chẳng biết hổ thẹn, nói năng bừa bãi ‘tôi thật sự là người tu hành tha lực, nương vào nguyện của Phật, quyết định vãng sanh’. Những bọn người như vậy không tương ưng với bản nguyện Phật A-di-đà, có thể nói cầu vãng sanh Cực Lạc chẳng được mà ngược lại càng bị chìm đắm trong sanh tử.
Người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, đã biết tự mình là kẻ phàm phu tội ác thì phải sanh tâm hổ thẹn sám hối, tâm còn khiêm tốn hiền lành, luôn nghĩ bỏ ác tu thiện, như Đại sư Thiện Đạo nói: “Mỗi niệm xưng danh thường
sám hối”. Lại nữa, đã biết sức đại bi cứu độ của Phật A-di-đà, hơn nữa nhận ân cảm ân, thì nên tạ ân báo ân, giống như Đại sư Thiện Đạo nói: “Học tâm đại bi của Phật”, mà từ bi thương xót chúng sanh, lợi lạc hữu tình.
‘Mỗi niệm không bỏ’có hai nghĩa, tức là ‘chúng sanh khuyến khích nhau’ và ‘pháp đức không đoạn’. Nói theo phương diện của Phật A-di-đà thì hai chữ ‘mỗi niệm’ chính là trong từng sát-na ánh sáng nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật. Nói theo phương diện chúng sanh thì niệm rồi lại niệm. Người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà mãi đến lúc lâm chung nhất tâm chuyên niệm, mỗi niệm không lìa danh hiệu Phật A-di-đà, chẳng cần phải mỗi sát-na đều xưng danh, mà hãy cố gắng hết sức hễ nghĩ đến thì liền niệm, mở miệng liền niệm. Đây chính là điều mà Phật A-di-đà chọn lựa, chúng sanh cứ tin theo thì nhất định được vãng sanh, cho nên nói ‘vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà’.
Lại nữa, ‘nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’, ở đây đặc biệt dùng chữ ‘chuyên’, có ý dung hóa các hạnh đọc tụng, lễ bái…đều quay về chuyên xưng danh hiệu Phật.
‘Đây gọi là chánh định nghiệp’ là chỉ ra hạnh chuyên xưng danh hiệu Phật, là nghiệp quyết định vãng sanh.
‘Vì thuận theo bản nguyện của Phật’ cho thấy việc chuyên xưng danh hiệu, là phù hợp với nguyện thứ mười tám của Phật A-di-đà.
Từ những điểm này có thể thấy, ý của Đại sư không nương vào ba hạnh trước một hạnh sau để lập tín, mà nương một hạnh xưng danh thứ tư để lập tín, cho nên gọi là ‘Tựu hạnh lập tín’.
Phần đầu đoạn văn này, có câu ‘Tựu hạnh lập tín’, đây là tiêu đề, chỉ ra ý nghĩa của bản văn này, mà ý nghĩa này chính là một hạnh xưng danh thuộc chánh định nghiệp của bản nguyện Phật A-di-đà. Vì thế, chữ ‘hạnh’ trong ‘Tựu hạnh lập tín’ là chỉ cho ‘một hạnh xưng danh’, chứ không phải chỉ cho năm loại chánh hạnh.
Nhưng, đã nói bất kể đi, đứng, nằm, ngồi, bất kể thời gian lâu hay gần, thì rõ ràng là bất kể mọi lúc, mọi nơi, mọi duyên thảy đều có thể niệm Phật, đều phải niệm Phật, cũng đều chắc chắn vãng sanh, cho nên trong Vãng sanh lễ tán, Đại sư Thiện Đạo nói:
“Nếu có chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nếu bảy ngày hoặc một ngày, dưới đến một tiếng, một niệm, chắc chắn được vãng sanh”.
Chúng sanh đến lúc lâm chung mà có thể niệm một tiếng, một niệm cũng được vãng sanh. Từ đây có thể biết rằng, hoàn toàn chẳng phải lấy việc xưng danh để tích lũy công phu, chẳng phải dùng sức xưng danh của bản thân để được vãng sanh, mà đây là nhờ vào sức danh hiệu bản nguyện khiến cho người tin nguyện niệm Phật được vãng sanh.
Vì thế, lấy việc xưng danh thuận theo bản nguyện Phật A-di-đà làm chánh định nghiệp, thì nghiệp nhân vãng sanh được đầy đủ. Trợ nghiệp trước ba, sau một tự nhiên cũng dung hòa trong sự xưng danh. Đương nhiên là còn ở trước việc xưng danh, vì chưa đầy đủ tín tâm, nên chưa thành chánh định nghiệp, trợ nghiệp tức là hạnh phương tiện, phương tiện giúp đỡ thành tựu tín tâm, một khi tín tâm đầy đủ, được Phật cứu độ thì tự nhiên xưng danh, xưng không nhận công đức của xưng, trợ mà không chấp vào tướng trợ.
‘Chánh hạnh và trợ hạnh’ cũng có nghĩa như vua tôi, chủ bạn, lấy việc xưng danh làm chính, những hạnh lễ bái và đọc tụng tùy thuận theo, vì vậy phân làm chánh và trợ, giống như rồng cử động thì mây bay, vua đến thần hầu. Nhưng nếu cho rằng nhất tâm chuyên niệm không đủ để vãng sanh, cần phải thêm các hạnh phụ trợ, vì thế đều tu năm loại chánh hạnh để cầu vãng sanh, đây chính là tự lực. Cổ đức gọi đó là ‘trợ hạnh và chánh hạnh thực hành đều là tạp tu’, cũng gọi đó là ‘tạp tâm xen kẽ giữa chánh hạnh và tạp hạnh’. Đây là do chưa hiểu rõ chánh và trợ có mối quan hệ phương tiện và chân thật, mà tu tập và coi trọng cả hai, cho nên nói ‘Tuy không chuyên tu tạp hạnh mà chỉ là tạp tu chánh hạnh’.
Phần trên, Đại sư phân biệt ‘tạp hạnh, chánh hạnh, trợ nghiệp và định nghiệp’, để khuyên mọi người xưng danh bất kể là khi đi đứng hay lúc nằm ngồi, có ý nghĩa bỏ và lập, bỏ tạp hạnh quy về chánh hạnh, bỏ trợ nghiệp chuyên tu định nghiệp.
Phần trước cũng nói đến ‘năm loại tạp hạnh’ đều là sự tu hành trong Phật giáo. Song muốn giải thoát sanh tử, vãng sanh Cực Lạc mà không một lòng tin theo sự cứu độ của Phật A-di-đà, lại đi nương vào chư Phật, Bồ-tát và các pháp môn khác ngoài Đức Phật A-di-đà, chẳng biết những việc đó chẳng có tác dụng gì đối với sự vãng sanh, không thể vãng sanh; trái lại, sức mạnh hoàn toàn nằm ở chỗ chỉ có một mình Đức Phật A-di-đà. Do mê mờ không biết, tâm ấy hạnh ấy đều là tạp cả, cho nên nói ‘tạp hạnh’, nên bỏ đi.
Đương nhiên đọc tụng luận thích ba bộ kinh Tịnh độ của năm vị Tổ tông Tịnh Độ là Long Thọ, Thiên Thân, Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, thì không xem sự đọc tụng ấy là tạp hạnh; lại xem kinh luận liên quan đến nhân quả, giúp
tăng thêm lòng tin sâu sắc, cũng không xem sự đọc tụng ấy là tạp hạnh.
Cho đến ‘muôn hạnh các điều thiện’, siêng tu tập những điều thiện, cho rằng chỉ có điều thiện này chắc chắn mới có thể cứu độ được mình, nhất định vãng sanh Cực Lạc, nương vào sức tu thiện, tâm thái này tức là tâm tự lực; dùng tâm tự lực này để làm các điều thiện tức là tạp hạnh. Đương nhiên hành vi là thiện, nên làm theo các điều thiện, nhưng tâm tự lực là không tốt, Đại sư đánh giá thấp việc này, chê là tạp hạnh, yêu cầu mọi người nên bỏ. Đây tuyệt đối chẳng phải bỏ thực hành việc thiện. Điều thiện không thể bỏ, cái nên bỏ chính là tâm tự lực. Khi tâm tự lực được loại bỏ, thì tất cả cho rằng các điều thiện thuộc tạp hạnh sẽ hoàn toàn chuyển thành hạnh báo đáp ân đức rộng lớn của Phật.
Còn như ‘tạp tu’, chính là trợ hạnh và chánh hạnh thảy đều tu. Đây đương nhiên là hạnh nghiệp của tâm hướng đến một mình Đức Phật A-di-đà. Nhưng mà phải siêng năng tu tập năm loại chánh hạnh này thì mới được vãng sanh, không biết trợ nghiệp là phương tiện, chỉ có chánh định nghiệp mới là chân thật, mới là nhân vãng sanh, vì thế nương vào sức của mình mà tu năm loại chánh hạnh, đây tức là tâm tự lực; dùng tâm tự lực này để tu tập năm loại chánh hạnh nên gọi là ‘tạp tu’. Lẽ đương nhiên tu chánh hạnh, thực hành chánh hạnh này mới biết được ý chỉ của bản nguyện, nhưng mà vẫn còn tự lực, Đại sư chê là tạp tu, khuyên mọi người nên bỏ. Đây tuyệt đối chẳng phải bỏ năm loại chánh hạnh, mà là bỏ tâm tự lực. Khi bỏ tâm tự lực, thì việc tu tập trợ hạnh và chánh hạnh bị chê là tạp tu trước đây đều hoàn toàn chuyển thành hạnh báo đáp ân đức rộng lớn của Phật.
Chữ ‘hạnh’ trong ‘Tựu hạnh lập tín’ này tức là hạnh xưng danh thuận theo chánh định nghiệp của bản nguyện Phật, mà hạnh xưng danh này chẳng phải là hành giả tích lũy công đức xưng danh cho mình, cũng chẳng phải dùng hạnh xưng danh để cầu vãng sanh; tư lương vãng sanh chính là công đức danh hiệu của Phật A-di-đà. Hơn nữa, hạnh xưng danh này chính là sự hiện rõ đầy đủ công đức danh hiệu, tin nhận xưng niệm thì được vãng sanh. Vì thế, ‘Tựu hạnh lập tín’ không ngoài nội dung ‘Pháp tin sâu’ trong ‘hai loại tin sâu căn cơ và giáo pháp’. Phần ‘Pháp tin sâu’, Đại sư nói: “Quyết định tin sâu” (lập tín), nương vào nguyện lực Phật A-di-đà nhất định được vãng sanh (y cứ vào hạnh, thì niệm Phật tức là nương vào nguyện lực của Phật)”.
Lại nữa, ‘phần Huyền nghĩa’ nói: “Nam-mô tức là quy mạng (lập tín), A-di-đà Phật tức là hạnh của Phật (nương hạnh, danh hiệu tức là hạnh)”. Danh hiệu nguyện lực tuy tên khác nhưng cùng một thể, tin nguyện lực tức là tin danh hiệu, tin danh hiệu tức là niệm Phật. Nói theo phương diện Phật A-di-đà, tức là danh hiệu bản nguyện làm cho mọi người được vãng sanh, cho nên nói ‘danh hiệu bản nguyện là chánh định nghiệp’. Nói theo phương diện chúng sanh, tức là tín tâm niệm Phật được vãng sanh, cho nên nói ‘tín tâm niệm Phật là chánh định nghiệp’. Danh hiệu, tín tâm, niệm Phật tuy tên có khác nhưng cùng một thể; danh hiệu tức là tín tâm, tín tâm tức là niệm Phật. Trong tâm đã tin nhận danh hiệu bản nguyện thì tự nhiên trong miệng sẽ tuôn chảy ra danh hiệu bản nguyện, trong tác phẩm Vãng sanh lễ tán, Đại sư Thiện Đạo nói:
“Bản nguyện của Phật A-di-đà là thệ nguyện sâu nặng,
lấy ánh sáng danh hiệu để nhiếp hóa chúng sanh trong mười phương, chỉ có tín tâm theo câu niệm Phật”.
Ở đây có thể biết ‘danh hiệu là chánh định nghiệp’, ‘Tín tâm là chánh định nghiệp’, ‘Xưng danh là chánh định nghiệp’, tuy tên có khác nhưng cùng một thể.
Thuở xưa, Đức Phật A-di-đà rộng phát bốn mươi tám đại nguyện, thành tựu danh hiệu bản nguyện để cứu độ chúng sanh, chỉ có người tin theo mới được vãng sanh. Phần đầu ‘Giải thích ba tâm’, Đại sư nói ‘Xác định ba tâm để làm chánh nhân’, ba tâm là lòng tin, cho nên cũng có thể nói ‘tín tâm là chánh nhân’. Chánh nhân vãng sanh nằm ngay chỗ tín tâm, có một nhân chứ không có hai nhân, tín tâm là lòng tin trong ‘Tựu hạnh lập tín’, chỉ có một tín, một hạnh này, chứ không có hai tín hai hạnh, chỉ lấy xưng danh niệm Phật tin vào bản nguyện Phật A-di-đà làm chánh nhân, cho nên nói là chánh định nghiệp.
Dùng Đại phán môn và Tế phán môn của năm loại chánh hạnh này, biểu đồ như sau:


X. Hai loại tin sâu, năm loại chánh hạnh có ý là quay về Nhất hướng chuyên xưng
Chữ ‘tín’ do chữ ‘nhân’ và ‘ngôn’ hợp thành, ý cho rằng ‘lời nói của người’ là ‘tín’. Nhưng nếu người không có nhân cách, nói dối không chân thật thì không thể trở thành ‘tín’, nên không thể tin. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo giải thích ‘Thâm tâm’ gọi là ‘Tâm tin sâu’; nói ‘Tựu nhân lập tín, Tựu hạnh lập tín’, mục đích là nương vào người có thể tin, nương theo hạnh có thể tin, để xây dựng tín tâm cho hàng phàm phu được vãng sanh.
‘Tựu nhân lập tín’, người này không những chẳng phải hàng phàm phu, cũng chẳng phải là bậc Thánh của hàng Nhị thừa và Tam thừa, mà chính là Đức Phật, bậc có lòng đại bi đầy đủ, giác hạnh viên mãn, Phật là bậc nói chân chính, nói đúng sự thật, nói không hai lời, nói không hư dối. Vì thế, lời Phật nói thì đáng tin nhất, đây là nương theo ‘Phật’ để xây dựng tín tâm. Nhưng Phật nói điều gì?
Phần ‘Tựu hạnh lập tín’ nói: “Nhất tâm chuyên niệm
danh hiệu Phật A-di-đà, đi đứng nằm ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”. Đây chính là ‘lời’ Phật nói, tự nhiên thành tựu ‘tín’, nên rất đáng để ‘tin sâu’, đây là nương theo ‘lời Phật’ để xây dựng tín tâm.
Vì thế, đại cương trong phần ‘Giải thích thâm tâm’ có hai ý: 1.Nương theo lời của người có lòng đại bi đầy đủ để xây dựng tín tâm (Tựu nhân lập tín). 2. Nương theo hạnh nghiệp xưng danh chánh định để xây dựng tín tâm (Tựu hạnh lập tín).
Vì thế nên biết: “Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh” trong đoạn ‘hai loại tin sâu’ phần đầu của phần ‘Giải thích thâm tâm’, thế nào là ‘nương vào’ nguyện lực của Phật A-di-đà thì vẫn chưa nói rõ, cho đến khi ‘Tựu hạnh lập tín’ mới chỉ ra chánh định nghiệp là ‘nhất tâm chuyên niệm’. Bởi vì, nói ‘nguyện lực’ tức là sức của ‘nguyện thứ mười tám’. Nguyện thứ mười tám nói ‘cho đến mười niệm’, phàm là người ‘cho đến mười niệm’ tức là nương vào nguyện lực Phật A-di-đà, và ‘cho đến mười niệm’ chính là ‘Nhất tâm chuyên niệm, mỗi niệm không bỏ danh hiệu Phật A-di-đà’, cho nên nói ‘thuận theo bản nguyện của Phật’. Bởi vậy, ‘nhất tâm chuyên niệm’ tức là ‘nương vào nguyện lực Phật A-di-đà’; nếu không ‘nhất tâm chuyên niệm’ thì không nương vào nguyện lực Di-đà, vì ‘không thuận theo bản nguyện Phật A-di-đà. Trọng tâm của hai loại tin sâu, năm loại chánh hạnh, chính là cốt lõi của Quán kinh, cho nên Quán kinh tuy nói rộng mười ba pháp quán thuộc về Định thiện và tam phước, chín phẩm thuộc về Tán thiện, nhưng đến ‘phần Lưu thông’ thì Đức Thích Tôn loại bỏ Định thiện và Tán thiện, mà chỉ
nói ‘trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’ để lưu truyền ở đời hiện tại và đời vị lai lâu xa. Đại sư Thiện Đạo cũng giải thích là ‘phần trên tôi tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng căn cứ vào bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Thế nên biết: Hai loại tin sâu, năm loại chánh hạnh này, theo ý của Đức Thế Tôn chính là quay về với ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Vì thế, phải tin ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ thì nhất định được vãng sanh, vì đây là nghiệp chánh định, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà, vì nương vào nguyện lực của Ngài.
XI. Nguyện lực Phật A-di-đà là tăng thượng duyên, chúng sanh niệm Phật tức là nương nhờ
‘Nhân’ gặp ‘duyên’ thì ‘quả’ hiện, nương vào duyên khác nhau thì quả cũng khác nhau.
Ví dụ như ‘carbon’ gặp áp suất và nhiệt độ bình thường sẽ thành ‘than đá’.
Nếu như tăng lên 2 nghìn độ, 55 nghìn atmosphere thì thành ‘đá kim cương’.

Nếu nước dưới 0°C thì sẽ thành ‘khối băng’, nếu lên đến 100°C sẽ thành ‘thể hơi’

Nếu ‘hạt giống’ gặp phải lửa thì sẽ bị cháy, sẽ vĩnh viễn chết mất, nếu gặp duyên đất nước và khéo vun trồng thì sẽ sanh trưởng không ngừng.

Hàng phàm phu tội ác gặp duyên bình thường thì vẫn ở trong ba đường sáu nẻo, vẫn là hàng phàm phu tạo nghiệp ác phải nhận lấy khổ nạn.
Vả lại, chín phẩm trong Quán kinh, tuy có ba duyên khác nhau là gặp duyên lớn, gặp duyên nhỏ, gặp duyên ác, vì thế bên ngoài hiện rõ có sai khác về phẩm bậc thiện ác. Nhưng thực chất bên trong vẫn là phàm phu, chìm đắm trong biển khổ sanh tử, vì thế Đại sư Thiện Đạo xác định ‘chín
phẩm đều là phàm phu’. Phật pháp Đại thừa và Phật pháp Tiểu thừa, nói theo căn cơ Thánh đạo môn, thì dĩ nhiên ‘Tiệm và Đốn đều thích nghi với từng căn cơ, tùy duyên mà giải thoát’ trở thành duyên thoát ly sanh tử. Nhưng nói theo hạng phàm phu thuộc chín phẩm thì gặp duyên cũng như không gặp, vẫn là duyên thông thường, chứ không trở thành nhân giải thoát.
Đại sư nói: “Phàm phu tội ác trong sanh tử từ nhiều kiếp cho đến nay thường chìm đắm lưu chuyển không có nhân duyên để giải thoát”.
Lại nói: “Nương vào hạnh tạp thiện thì e rằng khó vãng sanh”. Hàng phàm phu tội ác như vậy, nếu chẳng phải Đức Thế Tôn A-di-đà phát khởi ‘ý đặc biệt của hoằng nguyện’ làm duyên mạnh mẽ để thoát ly sanh tử, thì tất cả con đường giải thoát đều bị đoạn tuyệt, vĩnh viễn chìm đắm trong hố sâu sanh tử.
Trong Pháp sự tán, Đại sư Thiện Đạo nói: “Chính vì không gặp được duyên mạnh mẽ tốt đẹp nên bị luân hồi, khó được độ thoát”.
Nhưng, hàng phàm phu thiện ác vĩnh viễn khó được độ thoát này, nếu họ có thể gặp được đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên, thì tất cả đều được vãng sanh thành Phật.
Bồ-tát Thiên Thân nói: “Quán sức bản nguyện của Phật, người gặp được thì không luống uổng”. Vì thế, cái duyên để hàng phàm phu thoát ly sanh tử, đây chính là bản nguyện của Phật A-di-đà.

Đoạn văn ‘xác định hai môn là yếu môn và hoằng nguyện’ trong ‘phần Huyền nghĩa’, Đại sư Thiện Đạo nói:
1. Tất cả phàm phu thiện hay ác được vãng sanh, không ai không nương vào đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên cả.
Lại nữa, đoạn văn ‘phàm phu nhập Báo độ’ nói:
2. Nhờ bản nguyện của Phật để làm duyên mạnh mẽ, nên làm cho năm thừa đều vào được.
Nhưng hàng phàm phu thiện ác làm thế nào để nương vào đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm tăng thượng duyên?
‘Văn ba duyên’ trong phần ‘Định Tán nghĩa’, Đại sư Thiện Đạo đáp rằng:
3. Chúng sanh xưng niệm thì trừ được tội trong nhiều kiếp, lúc sắp mạng chung được Phật và thánh chúng tự đến tiếp dẫn, các nghiệp quấy không làm chướng ngại, ràng buộc được, cho nên gọi là Tăng thượng duyên.
Vì thế nên biết: ‘Chỉ niệm danh hiệu Phật’ tức là ‘nương vào’ đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà làm ‘Tăng thượng duyên’ thì chắc chắn vãng sanh. Như trong Quán kinh nói: “Người tạo tội thập ác ngũ nghịch là kẻ ngu
muội đầy đủ các điều bất thiện, vì nghiệp ác nên đọa vào đường ác, lúc sắp mạng chung, các lửa địa ngục cùng một lúc đều kéo đến, gặp vị thiện tri thức chỉ dạy xưng danh hiệu Phật, ngay lập tức lửa dữ địa ngục hóa thành gió mát trong lành, lúc đó liền lên đài sen, vãng sanh thế giới Cực Lạc”. Vĩnh viễn xa lìa thân nghiệp vô thường trong sanh tử, chắc chắn chứng được thân Phật thường trụ Niết-bàn.
Thật đúng vậy! Cần phải biết duyên quan trọng như thế.
Đại sư Thiện Đạo còn nói:
4. Đức Phật A-di-đà vốn phát ra thệ nguyện sâu nặng, lấy danh hiệu quang minh để nhiếp hóa chúng sanh trong mười phương, chỉ cần có tín tâm niệm Phật; trên suốt cả cuộc đời, dưới đến mười tiếng, một tiếng… nhờ nguyện lực của Phật mà dễ được vãng sanh (Vãng sanh lễ tán).
5. Chỉ có chúng sanh nào chuyên niệm Phật A-di-đà, thì ánh sáng của Phật thường chiếu đến người ấy, nhiếp hộ không bỏ; nói chung, chẳng nói đến chiếu soi nhiếp thọ những hành giả tu tạp hạnh khác, thì đây cũng là Tăng thượng duyên hiện đời được hộ niệm (Quán niệm pháp môn).
6. Sắc thân Di-đà như núi vàng, tướng hảo quang minh chiếu mười phương; chỉ có niệm Phật ánh sáng nhiếp, nên biết bản nguyện mạnh vô cùng (Vãng sanh lễ tán).
7. Nhờ nguyện lực của Phật nên diệt được tội ngũ nghịch thập ác, mà được vãng sanh; người phỉ báng chánh pháp và Nhất xiển-đề, nếu hồi tâm thì đều được vãng sanh (Pháp sự tán).
8. Ngũ nghịch báng pháp tạo mười nghiệp ác, hồi tâm niệm Phật tội đều trừ.
Kiếm bén là danh hiệu A-di-đà, một tiếng xưng niệm tội đều tiêu (Bát-chu tán).
Đại sư Từ Mẫn nói:
9. Chỉ cần hồi tâm siêng niệm Phật, khiến cho ngói đá biến thành vàng.
XII. Nội dung của Quán kinh, dùng Thí, Khai, Phế để dẫn Thánh đạo môn vào Tịnh độ môn
Nghiên cứu kỹ về nội dung của Quán kinh và khảo sát nhân duyên mà Đức Phật nói kinh này, thì chúng ta biết “Quán kinh” có ba nghĩa ‘Thí, Khai, Phế ‘từ giả vào chân’. Nói Thí, Khai, Phế tức là:
1. Vì thật nên bày quyền (vì gương sen nên có hoa sen)---Hai hạnh thiện Định và Tán.
2. Mở quyền hiển thật (hoa sen nở, gương sen hiện)---Trong hạnh Định và Tán có nói niệm Phật.
3. Bỏ quyền lập thật (cánh sen rụng, gương sen thành)---Bỏ Định thiện và Tán thiện lập niệm Phật trong phần Lưu thông.
Văn ‘Định, Tán’ nói về niệm Phật:
1.‘Pháp quán thứ chín’ trong phần Định thiện nói: “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”.
2.‘Pháp quán thứ mười hai’ trong phần Định thiện nói: “Phật Vô Lượng Thọ hóa thân vô số, cùng với Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, thường đến cõi này, chỗ của người niệm Phật”.
3. ‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong phần Tán thiện nói: “Bậc trí còn dạy chắp tay trước ngực, xưng Nam-mô A-di-đà Phật”.
4. Lại nói: “Hóa Phật khen rằng: Này thiện nam tử! Vì ông xưng danh hiệu Phật, nên các tội đều tiêu diệt, Ta đến đón ông”.
5. ‘Hạ phẩm trung sanh’ trong phần Tán thiện nói: “Thiện tri thức ca ngợi ánh sáng thần lực của Phật A-di-đà, nghe rồi liền vãng sanh”.
6. ‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong phần Tán thiện nói: “Nên xưng Nam-mô A-di-đà Phật”.
Văn nói về bỏ Định thiện và Tán thiện thiết lập niệm Phật trong ‘phần Lưu thông’:
‘Phần Lưu thông’ nói: “Nếu là người niệm Phật thì nên biết người đó là hoa Phân-đà-lợi trong cõi người; Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là bạn tốt của người ấy; sẽ ngồi đạo tràng, sanh về nhà chư Phật”.
Lại nói: “Phật bảo: A-nan! Ông khéo thọ trì lời này, thọ trì lời này, tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ”.
Văn của ‘phần Lưu thông’, Đức Thích Tôn không nói về mười ba pháp quán ‘Định thiện’ trong ‘quán thân Phật Vô Lượng Thọ’, mà nói ‘xưng danh niệm Phật’ trong ‘trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’. Vì thế, chúng ta biết rõ ý của Đức Thích Tôn, mục đích không nằm ở hai hạnh thiện Định thiện và Tán thiện, mà dùng Định, Tán để dẫn dắt người của Thánh đạo môn quay về Tịnh độ môn, cho nên phần sau cuối lại nêu ra hạnh xưng danh niệm Phật (cũng chính là trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ) trong nguyện
thứ mười tám nói ‘cho đến mười niệm’ trong kinh Vô Lượng Thọ. Bởi vậy, Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn văn này, đưa ra kết luận chung về Quán kinh và một đời giáo pháp của Phật mà nói:
“Ở trên tôi tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định, Tán, nhưng căn cứ vào bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà”.
Có thể biết sự lợi ích của pháp ‘Quán tưởng’ được nói trong Quán kinh, cũng nằm ở trong việc xưng danh niệm Phật. Thế nên, phần giải thích ‘quán Chân thân Phật thứ chín’, Đại sư Thiện Đạo nói về sự lợi ích “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”, tức là sự lợi ích của ‘xưng danh niệm Phật’, cũng chính là ‘niệm Phật’, tức là ‘xưng danh niệm Phật’. Ngoài phần ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ được nói ở phần trên ra, còn có nhiều đoạn văn khác như Quán kinh sớ giải thích đoạn ‘Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ’ trong phần ‘quán Chân thân Phật thứ chín’ mà nói:
Hỏi: Nếu người tu tập đầy đủ các hạnh nhưng chỉ cần hồi hướng thì đều được vãng sanh, tại sao ánh sáng của Phật chiếu khắp mà chỉ nhiếp thủ người niệm Phật, điều này có ý nghĩa như thế nào?
Đáp: Điều này có ba nghĩa:
1. Nói rõ Thân duyên (duyên thân thiết): Chúng sanh khởi hạnh niệm Phật, miệng thường xưng danh hiệu Phật thì Phật liền nghe người đó niệm Phật. Thân thường lễ kính
Phật thì Phật liền thấy người đó lễ Phật. Tâm thường niệm Phật thì Phật liền biết người đó niệm Phật. Chúng sanh nghĩ đến Phật thì Phật cũng nghĩ đến chúng sanh. Ba nghiệp của Phật và ta không xa rời nhau, cho nên gọi là Thân duyên.
2. Nói về Cận duyên (duyên gần gũi): Chúng sanh muốn thấy Phật thì Phật cảm ứng hiện ra trước mắt người đó, cho nên gọi là Cận duyên.
3. Nói về Tăng thượng duyên (duyên tăng thượng): Chúng sanh xưng niệm danh hiệu Phật thì trừ được nhiều kiếp tội chướng, lúc sắp mạng chung được Phật và thánh chúng tự nhiên đến tiếp dẫn, các nghiệp tà ác trói buộc không thể làm chướng ngại sự vãng sanh, cho nên gọi là Tăng thượng duyên.
Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với niệm Phật thì hoàn toàn không thể sánh bằng. Thế nên, các kinh đều ca ngợi công năng niệm Phật.
Như nguyện thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói chuyên niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà thì sẽ được vãng sanh.
Lại nữa, kinh A-di-đà nói một ngày cho đến bảy ngày niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì được vãng sanh.
Lại nữa, Hằng sa chư Phật trong mười phương chứng minh lời Đức Phật Thích-ca nói là không hư dối.
Lại nữa, trong văn Định thiện và Tán thiện của kinh Quán Vô Lượng Thọ chỉ nêu ra chuyên niệm danh hiệu thì được vãng sanh, những thí dụ như thế chẳng phải ít.
Từ phần trên, chúng ta có thể biết: Trong ‘phần Lưu
thông’, Đức Thích Tôn nói ‘trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’ và Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, đây không chỉ là kết luận của Quán kinh, mà cũng là kết luận chung về một đời giáo pháp của Phật, đã nương vào bản nguyện trọng yếu của nguyện thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ, lại nêu ra phần tựa kinh A-di-đà là kinh Vô vấn tự thuyết.
XIII. Năm bộ chín quyển, tông chỉ nhất quán, bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ
‘Năm bộ chín quyển’ của Đại sư Thiện Đạo, pháp môn rộng lớn, nghĩa lý cao siêu, vì hướng dẫn người đương thời, cho nên nội dung đó có chân thật (chân), có phương tiện (giả). Người mới học, nếu không biết chân giả, không có vị thiện tri thức chỉ dạy, thì dù bản thân mình có đọc hết năm bộ chín quyển nhưng cũng khó mà biết được phương châm, chỗ quay về. Nếu không biết năm bộ chín quyển nói điều gì thì làm sao thực hành được?
Vì thế, cương yếu của Quán kinh tứ thiếp sớ, sử dụng tư tưởng tông Tịnh Độ của Đại sư Thiện Đạo để nêu ra nội dung chính, bàn về điểm quan trọng của nó, để cho hành giả xem qua liền hiểu rõ: Bất luận người nào nếu tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ Phật A-di-đà thì trăm người niệm Phật thì trăm người được vãng sanh, nghìn người niệm Phật thì nghìn người vãng sanh, đều sanh về Báo độ của Phật A-di-đà. Nói một cách đơn giản là ‘bản
nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ’. Nói ‘căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’. ‘Nương vào bản nguyện của Phật làm duyên mạnh mẽ, khiến cho năm thừa đều vào được’. Đây là tông chỉ nhất quán, luận điểm chính xác trong năm bộ chín quyển của Đại sư Thiện Đạo. Năm bộ chín quyển đều nói một việc này, không nói việc khác, chỉ có đây là chân thật, còn những việc khác đều là phương tiện. Phương tiện tuy nhiều nhưng chân thật chỉ có một mà thôi.
Ở đây trình bày logic tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo như sau:
Hai môn, hai thiện, hai tín→hai hạnh→hai nghiệp→Chánh định nghiệp (bản nguyện xưng danh).

‘Chánh định nghiệp’ tức là ‘chuyên xưng danh hiệu Phật’, vì nhờ sức danh hiệu bản nguyện chắc chắn vãng sanh về Báo độ ở cõi nước Cực Lạc. Đây tức là nghĩa ‘bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ’.

Đương nhiên Đại sư là bậc căn khí Tổ sư, Phật thánh thị hiện, cho nên việc tự tu hành của ngài trác tuyệt vượt hẳn hàng phàm phu. Nhưng bất luận Đại sư tự tu hành như thế nào đi nữa thì kẻ trí người ngu, người thiện kẻ ác, sĩ nông công thương tùy theo căn tính của mình, đều lấy ‘nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’ làm nhân hạnh vãng sanh, đây là điểm chung của tất cả mọi người, xưa nay đều giống nhau, cũng là tư tưởng nhất quán của Đại sư. Vì thế, chỉ cần có thể tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà, nói theo phương diện chứng quả thì trí thiện của Đại sư không tăng trưởng, sự ngu ác của chúng ta cũng không suy giảm, ngay nơi đời này đồng vãng sanh Cực Lạc, đều chứng được ánh sáng, thọ mạng vô lượng, cùng nhân cùng quả, đúng là ‘năm thừa đều vào được’. Vì thế, Pháp sự tán quyển thượng, nói: “Trời người thiện ác, đều được vãng sanh, đến cõi kia không khác, đều được bất thoái”. Đây không phải là nhân khác, đều là do sức bản nguyện của Phật A-di-đà, tức là ý nghĩa ‘bản nguyện xưng danh, phàm phu vãng sanh vào Báo độ’