Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Bản Nguyện Niệm Phật

Bản Nguyện Niệm Phật

Tác giả: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ Quang - Nhiều Tác Giả - Nhóm Biên. Dịch giả: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ Quang - Nhiều Tác Giả - Nhóm Biên. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 451.

Chương 5: 2. Bất Luận Tội Hay Phước, Niệm Phật Đều Được Vãng Sanh - Nguyên Tác: Pháp Sư Huệ Tịnh, Nhuận Hà dịch (Trang 73 - 128)

2.  BẤT LUẬN TỘI HAY PHƯỚC NIỆM PHẬT
ĐỀU ĐƯỢC VÃNG SANH
                                             
Nguyên tác: Pháp sư Huệ Tịnh
Nhuận Hà dịch
                                       
Thế nào là việc lớn của đời người
       Tông Tịnh Độ lấy việc ‘vãng sanh về Tịnh Độ Phật A-di-đà’ làm tông chỉ. Vì thế, học tập pháp môn Tịnh Độ chính là lấy việc vãng sanh về thế giới Cực Lạc làm mục đích. Cũng có thể nói, mục đích học Phật của chúng ta là muốn vãng sanh về Tịnh Độ Di-đà. Hơn nữa, đây không chỉ là mục đích học Phật của chúng ta, mà cũng chính là mục đích cao nhất, duy nhất của chúng ta sanh ra làm người. Nếu chúng ta không vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì nhất định sẽ đọa lạc trong luân hồi sanh tử ở thời vị lai, chẳng phải đọa một đời mà còn nhiều đời sau nữa.
Tất cả chúng sanh còn luân hồi trong sáu nẻo, thì có một việc lớn, đấy là ‘việc lớn của đời người’. Việc lớn này không mang tính tương đối, mà mang tính tuyệt đối.Cái

gọi là tính tương đối thì có lớn có nhỏ, nhưng tính tuyệt đối thì vượt qua lớn và nhỏ.
      Đời người ở thế gian tuy có thành bại được mất, họa phước khổ vui, nhưng chỉ mang tính tạm thời, sẽ qua đi, không phải vĩnh hằng, cho nên đấy không phải là việc lớn; chỉ có sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh, không thể vĩnh viễn ở cõi người hoặc ở cõi trời, rốt cuộc một ngày nào đó sẽ đọa vào ba đường ác, đây mới là việc nghiêm trọng nhất, lớn nhất trong cuộc đời của chúng ta.
Làm thế nào để giải quyết việc lớn trong đời người.
Bởi vậy, mục đích tu hành, mục đích học Phật, là phải vãng sanh về thế giới Cực Lạc, phải giải quyết việc lớn luân hồi sanh tử trong sáu đường này. Vì thế, chúng ta phải có quan niệm: Chúng ta chẳng phải vì học Phật mà học Phật, chẳng phải vì tu hành mà tu hành, mà học Phật và tu hành là để giải quyết việc lớn của đời người.
Nhưng chúng ta muốn giải quyết việc lớn của đời người, đấy không phải là chuyện dễ. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn nếu không nương vào pháp môn niệm Phật của tông Tịnh Độ, mà muốn giải quyết việc lớn này thì không thể được. Nếu hiểu rõ về tông Tịnh Độ rồi chuyên nhất niệm Phật, không những có thể giải quyết được việc lớn ngay đời này kiếp này,  mà không cần đợi đến lúc lâm chung.  
     Niệm Phật là chánh nhân vãng sanh Tịnh độ
      Tông Tịnh Độ cũng gọi là ‘tông Niệm Phật’ chứng tỏ niệm Phật chính là chánh nhân vãng sanh Tịnh độ. Có nhân
như thế nào thì tự nhiên được quả như thế đó, không cần phải miễn cưỡng, cũng không cần phải làm thêm điều gì cả; nếu như cần phải cố gắng, tạo tác, thì đấy chẳng phải là tự nhiên. Có câu nói ‘trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu’, không thể có nhân mà không có quả, hoặc trồng dưa được đậu, trồng đậu được dưa, như vậy thì không phù hợp với nhân quả.
Trong vũ trụ có tính nhân quả tự nhiên, niệm Phật là nhân, vãng sanh là quả, đây là nhân quả tự nhiên. Nhưng nếu không hiểu được đạo lý ‘niệm Phật chắc chắn được vãng sanh’ này thì e rằng sẽ mất đi đạo tâm, cho rằng tu học pháp môn Tịnh Độ cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc không hề dễ dàng chút nào, nhân đó mà bỏ đi việc tu học tông Tịnh Độ, và cũng không dám cầu vãng sanh về Tịnh Độ của Phật A-di-đà; hoặc là tuy thường xuyên niệm Phật, nguyện sanh về Tịnh Độ Phật A-di-đà, nhưng trong tâm lại bất an, có nhiều nỗi lo âu và sợ hãi. Đấy là không hiểu rõ đạo lý ‘niệm Phật nhất định vãng sanh’ nên mới có những nỗi lo âu bất an không đáng có như thế.
Vãng sanh về thế giới Cực Lạc là nương vào công đức của câu danh hiệu ‘Nam mô A-di-đà Phật’, nương vào nguyện lực bi tâm của Phật A-di-đà. Đã như vậy, thì bất luận là người thế nào đi chăng nữa chỉ cần niệm Phật đều có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, điều căn bản là không nên có bất kì những lo âu và sợ hãi không cần thiết, bởi vì niệm Phật thì chắc chắn vãng sanh, đây là lẽ tự nhiên.
       Nội dung hôm nay tôi giảng, hoàn toàn là căn cứ theo tác phẩm của Đại sư Thiện Đạo để trình bày.
Đại sư Thiện Đạo là tông Tổ của tông Tịnh Độ
Đại sư Thiện Đạo là vị cao tăng ở thời nhà Đường, từ xưa tương truyền là hóa thân của Phật A-di-đà. Đại sư Thiện Đạo hiệu là ‘Hòa thượng Quang Minh’, tại sao vậy? Bởi vì mỗi khi niệm Phật, từ trong miệng của Đại sư phóng ra ánh sáng của Phật, niệm một tiếng danh hiệu Phật thì có một luồng ánh sáng của Phật, mỗi tiếng mỗi tiếng danh hiệu Phật thì mỗi tiếng mỗi tiếng phát ra ánh sáng của Phật, cho nên người đương thời khen ngợi, tôn xưng ngài là ‘Hòa thượng Quang Minh’.
Vị Tổ sư nào kiến lập tông phái Tịnh Độ? Đó chính là Đại sư Thiện Đạo. Đại sư Thiện Đạo đã kết cấu giáo lý của tông Tịnh Độ một cách có tổ chức, có hệ thống, làm hoàn bị yếu tố mà một tông phái cần phải có đủ. Nếu như không có Đại sư Thiện Đạo, dù nói niệm Phật cầu vãng sanh thế giới Cực Lạc là thuộc về tông Tịnh Độ, nhưng lại thiếu đi tính tổ chức, cũng không có giáo lý thuần chánh ở bên trong. Nói cách khác, nếu không dựa vào giáo lý của Đại sư Thiện Đạo để hiểu rõ về tông Tịnh Độ, mà chỉ căn cứ theo sự giải thích của các vị Đại đức khác, thì người niệm Phật không thể nào đạt được sự an tâm chân chính.
Pháp môn Tịnh Độ chính là khiến cho chúng ta hiện tại được an tâm, hiểu rõ và tin tưởng chỉ cần niệm Phật không thay đổi thì nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đời sau sẽ ở thế giới Cực Lạc, mau chóng thành Phật, từ cõi đời xấu ác, khổ lụy nơi thế giới Ta-bà này mà cao đăng về Tịnh Độ Phật A-di-đà, vĩnh viễn xa lìa không còn liên quan gì đến sáu nẻo luân hồi nữa.
Đại sư Thiện Đạo giải thích kinh A-di-đà
   Văn ‘bất luận tội hay phước’ trong Quán kinh sớ[1] của Đại sư Thiện Đạo (trang 250, Thiện Đạo Đại sư toàn tập gọi tắt là ‘Thiện toàn’) nói: “Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, có thể trên đến suốt cả trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày nếu nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh, chắc chắn không hoài nghi”.
      Văn ‘chánh định nghiệp’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (trang 251, Thiện toàn) nói: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
      Hai đoạn văn này là giải thích nội dung quan trọng nhất trong kinh A-di-đà.
      Kinh văn trong kinh A-di-đà rất ngắn, tổng cộng có một nghìn tám trăm năm mươi tám chữ, văn cú rất trong sáng, ngắn gọn, tuyệt vời, và cũng là một bộ kinh thường tụng niệm trong các thời khóa sớm tối ở tự viện.
      Nội dung kinh A-di-đà  nói gì? Đại ý có ba điểm:
      Điểm thứ nhất, giới thiệu về sự trang nghiêm thanh tịnh ở thế giới Cực Lạc chỉ có vui mà không có khổ, dạy chúng
 

[1] Quán kinh sớ 觀經疏 Gđ: Quán Vô Lượng Thọ kinh sớ. Cg: Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh sớ, Quán kinh ngự thư, Quán kinh ngự sớ, Quán kinh nghĩa thư, Quán sớ nghĩa, Quán kinh yếu nghĩa. Thường gọi: Quán kinh tứ thiếp sớ, Tứ thiếp sớ, 4 quyển, do Đại sư Thiện đạo soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 37.
 
ta sanh tâm ngưỡng mộ, khuyên chúng ta nguyện sanh về thế giới Cực Lạc.
      Điểm thứ hai, nói về phương pháp vãng sanh, cũng chính là chánh nhân vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
      Điểm thứ ba, nói về chư Phật trong mười phương đều dị khẩu đồng âm, chủ động khen ngợi Đức Phật Thích-ca-mâu-ni và chứng minh cho Ngài, đồng thời hướng dẫn khuyến khích chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
      Vì thế, hai đoạn văn này của Đại sư Thiện Đạo, trên một đoạn gọi là văn ‘Tựu nhân lập tín’, dưới một đoạn gọi là văn ‘Tựu hạnh lập tín’.
     ‘Tựu nhân lập tín và Tựu hạnh lập tín’ là căn cứ vào Người có thể tin tưởng và hạnh có thể tin tưởng, để kiến lập tín tâm cho hàng phàm phu chúng ta vãng sanh.                                            
                                               Tựu nhân lập tín
     ‘Tựu nhân’ là y theo người nào? Là y theo Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, chẳng phải là vị Bồ-tát, A-la-hán hoặc người khác. Sự từ bi và trí huệ của Phật đã đạt đến viên mãn, cho nên gọi là Người có đầy đủ đại bi, dùng lời của Phật mà nói thì do lòng đại bi đầy đủ nên kiến lập tín tâm vãng sanh, đây chính là ‘Tựu nhân’, y theo Đức Phật Thích-ca để kiến lập tín tâm, cho đến y cứ vào chư Phật trong mười phương để kiến lập tín tâm.
      Văn ‘Tựu nhân lập tín và Tựu hạnh lập tín’ trong Quán kinh sớ (trang 250-252, Thiện toàn) nói:
       “Lại nữa, chư Phật trong mười phương sợ rằng chúng sanh không tin lời Phật Thích-ca nói, nên các Ngài đồng
tâm, cùng một lúc hiện tướng lưỡi rộng dài trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Chúng sanh các ông đều nên tin lời Phật Thích-ca nói, khen ngợi, chứng thật: Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, có thể trên đến suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh, chắc chắn không hoài nghi!’. Thế nên, một mình Đức Phật Thích-ca nói thì tất cả Đức Phật trong mười phương đồng chứng minh sự việc này. Đây gọi là Tựu nhân lập tín”.
       Đoạn này là văn ‘Tựu nhân lập tín’, y theo Phật Thích-ca-mâu-ni cho đến lời khai thị và chứng thật của chư Phật trong mười phương để kiến lập tín tâm.
Tựu hạnh lập tín
     ‘Tựu hạnh’ là hạnh gì? Đại sư Thiện Đạo nói:
       “Kế đến ‘Tựu hạnh lập tín’ nhưng hạnh thì có hai loại: Một là chánh hạnh. Hai là tạp hạnh.
       Nói về ‘chánh hạnh’ là hành giả chuyên căn cứ vào kinh nói về hạnh vãng sanh, đây gọi là chánh hạnh. Tại sao vậy?
       Bởi vì nhất tâm chuyên đọc tụng các kinh như Quán kinh, kinh A-di-đà, kinh Vô Lượng Thọ.
       Nhất tâm chuyên chú tư duy, quán sát, ức niệm về Y báo và Chánh báo trang nghiêm cõi nước Phật A-di-đà.
       Nếu lễ thì nhất tâm chuyên lễ Phật A-di-đà.
       Nếu miệng xưng thì nhất tâm chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
       Nếu tán thán cúng dường thì nhất tâm chuyên tán thán cúng dường Phật A-di-đà. Đây gọi là chánh hạnh.
       Lại nữa, y cứ theo chánh hạnh này, lại có hai loại:
       Một là ‘nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà’.
       Nếu căn cứ theo những hạnh lễ bái, đọc tụng v.v. thì gọi là ‘trợ hạnh’. Ngoài hai hạnh chánh và trợ này ra, thì các điều thiện khác đều gọi là ‘tạp hạnh’.
       Nếu tu hai hạnh chánh và trợ trước thì tâm thường gần gũi, ức niệm không gián đoạn, đây gọi là vô gián.
       Nếu tu tạp hạnh sau thì tâm thường gián đoạn, tuy có thể hồi hướng vãng sanh, nhưng cũng đều gọi là hạnh xen tạp”.
       Đoạn này là văn ‘Tựu hạnh lập tín’ y cứ theo ‘bản nguyện niệm Phật’ của Phật A-di-đà để kiến lập tín tâm.                                       
Giải thích về phương pháp vãng sanh
       Văn ‘tạo tội hồi tâm’ trong Quán niệm pháp môn[1] (trang 360, Thiện toàn): “Tất cả hàng phàm phu tạo tội chỉ cần hồi tâm niệm Phật A-di-đà, nguyện sanh về cõi Tịnh độ, trên
 

 [1] Quán niệm pháp môn 觀念法門 Cg: Quán niệm A-di-đà Phật tướng hải tam-muội công đức pháp môn, Quán niệm A-di-đà tập. Tác phẩm 1 quyển, do Đại sư Thiện đạo soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Sách này nói về quán niệm hành tướng các pháp và công đức của Phật A-di-đà. Nội dung chia làm 3 đoạn: Trước nói về hành tướng tam-muội, kế đến nói về công đức của 5 duyên, sau cùng là khuyên người tu hành.
 
suốt cả trăm năm, dưới đến bảy ngày, một ngày, mười tiếng, ba tiếng, một tiếng…, lúc sắp mạng chung, được Phật và thánh chúng tự đến tiếp dẫn liền được vãng sanh”.
      Văn ‘niệm Phật chắc chắn vãng sanh’ trong Vãng sanh lễ tán[1] (trang 540, Thiện toàn): “Nếu có chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hoặc bảy ngày đến một ngày, dưới đến mười tiếng, cho đến một tiếng, một niệm…thì chắc chắn được vãng sanh”.
       Hai đoạn văn này cũng là pháp ngữ cốt tủy để giải thích kinh A-di-đà. Vừa đề cập đến kinh A-di-đà có ba điểm quan trọng, trong đó điểm quan trọng thứ hai chính là phương pháp và chánh nhân của sự vãng sanh.
      Kinh A-di-đà nói:
Không thể đem chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi nước kia. Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nghe danh hiệu Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì người ấy lúc sắp mạng chung được Đức Phật A-di-đà và chư thánh chúng hiện trước mặt người ấy. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà.
 

[1] Vãng sanh lễ tán 往生禮讚 Gđ: Khuyến nhất thiết chúng sanh nguyện sanh Tây phương Cực Lạc thế giới A-di-đà Phật quốc lục thời lễ tán kệ. Cg: Lục thời lễ tán kệ, Lễ tán. Tác phẩm, 1 quyển, do Đại sư Thiện đạo đời Đường soạn, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Đại sư Thiện đạo dùng lễ tán kệ của Long Thọ và Thế Thân làm nền tảng để soạn ra Lục thời lễ tán pháp, tức là 6 thời: Giữa lúc mặt trời lặn, đầu hôm, nửa đêm, cuối đêm, sáng sớm và giữa ngày đều thực hành lễ tán khác nhau. Đây là một pháp tu của hành giả niệm Phật
 
        Kinh Phật là kinh do Đức Phật Thích-ca nói, Phật thông đạt chân lý vũ trụ nhân sanh, vì thế những gì trong kinh Phật nói đều biểu đạt chân lý vũ trụ nhân sanh. Nhưng chúng ta là hàng phàm phu, tuy đọc tụng kinh điển do Đức Phật Thích-ca dạy, nhưng sự vãng sanh thì không hiểu rõ, thậm chí đọc sai, hiểu sai. Từ xưa đến nay có nhiều Đại đức chú giải kinh A-di-đà, nhưng chưa chắc chính xác hoàn toàn, cho nên cần phải có sự chọn lựa. Và chúng ta chọn lựa sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo, bởi vì ngài tương truyền là hóa thân Phật A-di-đà, hơn nữa ngài còn chứng ngộ được Niệm Phật tam-muội[1]. Kinh điển mà Đại sư Thiện Đạo chú giải là do Đức Phật thị hiện đến chỉ dạy, gia trì, cho nên hoàn toàn có thể tin tưởng đáng để y cứ theo.
       Mấy đoạn kinh văn này, Đại sư giải thích rất trong sáng và ngắn gọn, vừa đọc liền hiểu được ngay, không khiến cho mọi người xem khó hiểu hoặc hiểu nước đôi, hay cần phải có sự suy đoán.
       Tiếp theo y cứ vào văn ‘bất luận tội hay phước’ của Đại sư Thiện Đạo, để đối chiếu với văn kinh của kinh A-di-đà, đồng thời giải thích sơ qua.
Giải thích ý nghĩa của hàng phàm phu
       Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít.
       Hai câu này là giải thích câu ‘nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân’ trong kinh A-di-đà đã nói.
 

[1] Niệm Phật tam-muội 念佛三昧 Cg: Niệm danh hiệu Phật tam-muội. Tam-muội lấy niệm Phật làm nội dung quán tưởng, cũng là một loại tam-muội quán niệm công đức của chư Phật hoặc xưng niệm danh hiệu chư Phật.
 
 
      ‘Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân’, Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘tất cả hàng phàm phu’; bất luận tội phước nhiều hay ít, đều thuộc về thiện nam tử, thiện nữ nhân. Quán niệm pháp môn cũng nói: “Tất cả hàng phàm phu tạo tội, chỉ cần hồi tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ”.
       Nói như vậy thì kinh A-di-đà ghi: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân”, sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo chính là ‘tất cả hàng phàm phu, chỉ cần hồi tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ’, như thế thì Đức Phật Thích-ca khen ngợi người ấy là thiện nam tử, thiện nữ nhân’, chỉ cần hồi tâm niệm Phật, chính là ‘thiện nam tử , thiện nữ nhân’, mà người ấy trước kia là phàm phu tạo tội, cũng chính là phàm phu tội ác trong sanh tử.                                   
Giải thích một ngày hoặc bảy ngày
       Bất luận thời gian lâu hay gần, chỉ cần trên suốt cả trăm năm, dưới đến một ngày hoặc bảy ngày.
       Đây là sự giải thích ‘hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày’ trong kinh A-di-đà.
                                      
                                                                                                                  Giải thích nhất tâm bất loạn    
       Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà
       Đây là giải thích ‘chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn’ trong kinh A-di-đà.
      ‘Chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn’ rất nhiều người đọc lầm, hiểu sai. Tại sao? Bởi vì họ không có căn cứ theo sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo. Nếu như căn cứ theo sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo thì ‘nhất tâm bất loạn’ rất dễ
hiểu, chính là ‘nhất tâm chuyên niệm’.
       Như vậy, ai xem cũng hiểu, ai làm cũng được, kể cả người không được sự giáo dục, người không biết chữ, căn khí chậm chạp, trí huệ thấp kém, cũng có thể làm được thậm chí ngay cả loài chim Anh vũ, Bát ca[1] cũng đều làm được cả.
       Sự giải thích về ‘nhất tâm bất loạn’, có người giải thích về Sự nhất tâm và Lý nhất tâm là đoạn trừ phiền não, vô minh. Có người giải thích là Thanh tịnh tâm, hoặc tiến vào thiền định, có đầy đủ công phu an định. Nếu không như vậy thì cũng phải công phu thành phiến, trong giấc mộng cũng được như vậy, như thế mới là nhất tâm bất loạn. Sự giải thích như vậy là hoàn toàn sai lầm, hoàn toàn không đúng! Sự giải thích như vậy làm bóp méo bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni, trái với bản hoài của Phật A-di-đà, từ đó hướng dẫn sai lầm cho cả hàng nghìn hàng vạn người niệm Phật.
      Sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo rất đơn giản, chính là ‘chuyên’, ‘chuyên niệm’.
      Nhất tâm’, ‘nhất’ là không hai, không hai chính là chuyên, cũng chính là ‘chuyên tâm’.
     ‘Bất loạn’, chính là không tạp loạn, không tạp cũng là chuyên, cho nên sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo chính là ‘nhất tâm chuyên niệm’, có nghĩa là tùy theo căn cơ của mỗi người mà chuyên niệm danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này.
      Căn cơ chúng sanh đều khác nhau, có người trong

[1] Bát ca 八哥: Chim Bát ca hay còn gọi là chim Thu tử, thuộc họ nhà Sáo, là một loài chim có linh tính rất cao rất được người Trung Quốc ưa chuộng, khi bay ở hai cánh có hai vật trắng giống hình chữ Bát, nên còn gọi là chim Bát ca.
 
chúng xuất gia, có người ở chúng tại gia, có người căn khí cao, có người căn khí thấp; có người xuất gia thời gian nhiều năm, niệm Phật nhiều năm, có người tại gia, sĩ, nông, công, thương, thời gian ít năm, niệm Phật ít năm… tuy căn cơ chúng sanh trong mười phương muôn nghìn sai khác, nhưng đều tùy theo căn cơ của mỗi người mà chuyên niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật này, không có một tiêu chuẩn, điều kiện cố định nào cả. Nếu nói có điều kiện, có tiêu chuẩn, thì đấy chính là ‘chuyên niệm Nam-mô A-di-đà Phật’.
                                   
                                 Giải thích xưng danh nhập Báo độ
       Ngoài ra, Đại sư Thiện Đạo có một bài kệ, tuy chỉ có hai mươi tám chữ nhưng đây mới là giải thích về đoạn pháp ngữ trọng yếu của phần kinh văn cốt tủy trong  kinh A-di-đà  này.
                                    Cực Lạc là vô vi, Niết-bàn
                                    Tùy duyên tạp thiện, e vãng sanh
                                    Bởi thế Như Lai chọn pháp yếu
                                    Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên.
       Bài kệ này xuất phát từ Pháp sự tán quyển hạ của Đại sư Thiện Đạo. Quyển hạ là chuyên giải thích đại ý của kinh A-di-đà. Kinh văn chánh nhân vãng sanh trong kinh A-di-đà nói:
Không thể đem chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được vãng sanh về cõi nước kia. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói danh hiệu Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn.
       Trong Pháp sự tán chính là nhằm giải thích đoạn kinh văn chánh nhân vãng sanh này.
Bài kệ này của Đại sư Thiện Đạo nói ‘Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên’, ‘dạy’ chính là chỉ cho Đức Phật Thích-ca-mâu-ni dạy chúng ta phải ‘chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn’. ‘Nhất tâm’chính là không hai, không hai chính là chuyên. ‘Bất loạn’ chính là không tạp loạn, không tạp loạn cũng là chuyên, cho nên Đại sư Thiện Đạo nói ‘Niệm Phật Di-đà chuyên lại chuyên’.
       Vì thế, chúng ta chỉ cần chuyên niệm câu danh hiệu A-di-đà này, chẳng cần quan tâm đến việc có đoạn được phiền não hay không, để đạt đến nhất tâm bất loạn, hoặc là phá trừ vô minh, rồi đạt đến Lý nhất tâm bất loạn, cũng chẳng cần quan tâm trong lúc niệm Phật có vọng tưởng hay không, hay là công phu thành phiến, trong mộng cũng nhất như. Không cần quan tâm đến những điều này, mà chỉ cần chuyên niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật này là được rồi. Hôm nay tâm thanh tịnh cũng tốt, tâm không thanh tịnh cũng tốt, điều quan trọng là chuyên niệm câu danh hiệu Phật này. Hôm nay qua đi, nếu như sinh mạng đã hết, chúng ta nương nhờ Phật tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu như sinh mạng chưa hết vẫn có sinh mạng ngày thứ hai. Ngày thứ hai chúng ta vẫn chuyên niệm câu Nam mô A-di-đà Phật này, chẳng cần quan tâm có phiền não hay không, là thiện hay là ác. Sinh mạng của chúng ta còn ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, bảy năm, bảy mươi năm, đều nhất tâm chuyên niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật này. Chúng ta muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì phải chuyên niệm danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, chỉ nương vào câu Nam-mô A-di-đà Phật, không cần nương vào công hạnh, công đức, công phu khác, đấy gọi là ‘Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’.
Lời trong kinh văn và lời Tổ sư,  đều là sự kết tinh của trí huệ
Kinh văn cũng tốt, hay là những tác phẩm của các vị Tổ sư truyền lại cho chúng ta cũng tốt, đều là trí huệ của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, đều là sự kết tinh thể nghiệm của lịch đại Tổ sư. Sự kết tinh trí huệ này, chúng ta có thể không cần phải tốn tiền, cũng không cần phải trải qua sự truy tìm gian khổ mà có thể tiếp nhận được. Tiếp nhận ra sao? Chính là đọc thuộc lòng. Học thuộc lòng pháp ngữ này thì đạo lý trong đó sẽ nảy nở trong tâm chúng ta. Cũng như rải giống, hạt giống rơi xuống đất, trải qua một thời gian sẽ nảy mầm và lớn lên nở hoa, kết quả, giống như trí huệ của người khác ban cho chúng ta vậy.
Vì thế, pháp ngữ và kinh luận trong pháp môn của chúng ta, nếu có thể thì cố gắng học thuộc lòng, tuy nhiên trong thời gian ngắn không thể hiểu được, nhưng đọc thuộc lòng ôn đi ôn lại nhiều lần thì tự nhiên sẽ hiểu.
Tại sao tự nhiên sẽ hiểu? Đó gọi là ‘Tự tánh đầy đủ muôn pháp, tự tánh có thể sanh ra muôn pháp’. Tất cả muôn pháp thật ra đều ở trong bản tính, Phật tánh của chúng ta đều có sẵn, cũng đều hiểu rõ, chỉ vì bị vô minh tham sân si che lấp. Nhưng nếu chúng ta đọc thuộc lòng những pháp ngữ thì tự nhiên sẽ kích động những gì chúng ta vốn có. Đây đều chẳng phải những thứ bên ngoài, mà là của chúng ta, là gia sản có sẵn trong nhà chúng ta, chỉ có điều từ rất lâu chúng ta đã bỏ đi, cất chúng trong kho mà thôi. Nếu như chúng ta đem nó ra rửa và mài tí xíu thì sẽ khôi phục lại nguyên trạng, nó vẫn phát ra ánh sáng. Vì thế, bài kệ này rất ngắn, hy vọng mọi người đều có thể đọc thuộc lòng.

Giải thích tâm bất điên đảo
        ‘Định đắc vãng sanh’                        
             Bốn chữ này chính là nói: Quyết định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, chắc chắn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là trăm phần trăm, chẳng phải là chín mươi chín phần trăm, cũng chẳng phải sáu mươi phần trăm, là nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ở đây giải thích câu kinh văn nào trong kinh A-di-đà? Đấy là:
Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà.
      Nếu như nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, ‘người ấy lúc sắp mạng chung’, nghĩa là người này khi sắp mạng chung còn chưa tắt thở; ‘Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy’, nghĩa là Đức Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng sẽ hiện trước mặt người ấy; ‘người ấy khi mạng chung’, nghĩa là người này lúc tắt hơi thở; tự nhiên được ‘tâm không điên đảo, liền được vãng sanh’, mà vãng sanh đến thế giới nào? Đến thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Bađ oạn văn có hai tầng nhân quả
trong kinh A-di-đà
Đoạn thứ nhất: Xá-lợi-phất, không thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh nước kia.
Đoạn thứ hai: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu

ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm không loạn.
Đoạn thứ ba: Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt. Người ấy lúc mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãnh sanh về  cõi Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Nếu xem những đoạn kinh văn này trong kinh A-di-đà, thì có hai tầng nhân quả.
Tầng thứ nhất: Chỉ cần nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà (nhân), thì có thể được quả ‘người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy’.
Tầng thứ hai: Phật A-di-đà đã hiện ra (nhân), tự nhiên làm cho chúng ta ‘tâm không điên đảo, vãng sanh Cực Lạc’ (quả).
Vì thế, tầng thứ nhất là chúng ta hiện tại chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, có thể lâm chung được Phật A-di-đà hiện ra trước mặt; tầng thứ hai là Phật A-di-đà hiện ra trước mặt, tự nhiên tâm không điên đảo, liền vãng sanh thế giới Cực Lạc: Đây chính là ‘hai tầng nhân quả’
Kỳ thật, chỉ cần xem qua kinh văn của kinh A-di-đà, chúng ta sẽ hiểu rất rõ ‘hai tầng nhân quả’ này. Nếu đọc theo tuần tự kinh văn, chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa của kinh.
                               Hiểu sai nghĩa kinh, oan ba thời Phật
       Vì lẽ đó, có người giải thích ‘niệm Phật phải niệm đến lúc lâm chung tâm không điên đảo, chánh niệm hiện tiền, Phật A-di-đà mới có thể đến trước người ấy tiếp dẫn’, như vậy chính là đọc sai kinh văn, hiểu sai nghĩa của kinh, giải thích sai lời
của Phật, làm cho mọi người không thể đạt được mục đích của Đức Phật, đây chính là oan ba thời Phật.
       Mục đích của Phật là gì? Mục đích Phật xuất hiện ở thế gian chỉ có một việc, đó chính là cứu độ chúng sanh lìa khỏi luân hồi, khiến cho chúng sanh thành Phật. Mục đích này thành tựu là nương vào pháp môn nào? Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, chỉ có nương vào pháp môn Tịnh Độ chuyên nhất xưng danh. Kinh A-di-đà nói rõ ràng như vầy: Chỉ cần niệm Phật, khi lâm chung chính Đức Phật hiện thân tự đến đón tiếp, khiến cho lúc chúng ta vừa tắt hơi thở, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Điều này chẳng phải chỉ có Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói, mà các Đức Phật ở phương Đông đến chứng minh, các Đức Phật ở phương Tây cũng hiện đến chứng minh, tất cả các Đức Phật ở bốn phương trên dưới, mười phương thế giới trong tất cả vũ trụ hiện đến chứng minh nữa, chứng lời thành thật của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói không hư dối.
      Vì thế, nếu giải thích sai kinh văn, thì không chỉ trái với ý của Phật, mà cũng làm hại đến chúng sanh. Đại sư Thiện Đạo giải thích rất đơn giản, rõ ràng, để cho chúng ta dễ hiểu, dễ làm, khiến cho chúng ta đời nay có thể an tâm, không sợ hãi.
      Trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật A-di-đà nói ‘tất cả sợ hãi, làm cho bình an’.
 Nhân gian đau khổ sợ hãi rất nhiều
       Hàng chúng sanh như chúng ta sợ hãi đủ điều. Chúng ta đều sợ già đi, không có người nào mà không sợ già, nhất
là những người có tuổi tác lớn. Một người già yếu, nhìn nghe không tốt, hành động không tiện, ăn không ngon, ngủ không yên, cái này không được, cái kia không xong, răng đau nhức, bệnh dạ dày, bệnh tim, bệnh thận, bệnh gan… đều do tuổi già sức yếu phát ra. Bởi vì tuổi già thì các bộ phận trong cơ thể bị thoái hóa, cho nên dễ sanh bệnh, mọi người đều sợ hãi. Ngoài ra, cầu không được cũng sợ, oán ghét mà gặp cũng sợ, đặc biệt là thương yêu nhau mà lìa nhau lại càng sợ hơn, nhưng cái sợ nhất chính là cái chết của chính mình, khổ do đời nay, lại tiến vào một cái khổ càng dài dài, lại làm cho người sợ hãi.
       Tất cả những sự sợ hãi của chúng ta không phải chỉ có một cái sợ mà thôi, mà tất cả đều sợ cả, Phật A-di-đà đều muốn cho chúng ta được an tâm, không chỉ là ‘an’ thôi, mà là muốn cho chúng ta được ‘an lạc’, tâm an lạc, rất hoan hỉ, rất an ổn, rất đầy đủ: Đây chính là ‘làm cho tất cả người sợ hãi đều được an lạc’.
       Nhiều thứ sợ hãi giống như một cây có rễ, có thân, có cành, có lá, cây này nếu là cây có độc, thì từ rễ và thân cây đến cành và lá đều là có độc. Ngày nay chúng ta ngắt lá, ngày mai chặt cành, như vậy có thể giải quyết triệt để vấn đề không? Không thể. Chỉ khi nào chúng ta nhổ sạch gốc rễ mới có thể giải quyết triệt để.
       Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói đời người là khổ, hơn nữa biển khổ vô biên: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, ái biệt ly là khổ, oán tắng hội là khổ, cầu bất đắc là khổ, ngũ ấm xí thạnh là khổ, những thứ này đều là khổ cả, nhưng cái khổ căn bản chính là khổ trong sáu nẻo luân hồi. Nếu có thể trừ được cái khổ trong sáu nẻo luân hồi, thì những thứ khổ khác tuy tạm thời vẫn còn, nhưng chúng không kéo dài được, bởi vì rễ đã chặt đứt rồi. Thí như rễ cây
đã chặt đứt, tuy trước mắt cành và lá vẫn chưa khô, nhưng không bao lâu thì hoàn toàn khô hết.
      Cũng như chúng ta hiện tại vẫn chưa lâm chung, nhưng việc lớn sanh tử luân hồi này nếu có thể giải quyết, thì cũng như rễ cây đã bị chặt đi, như vậy dù cho quả báo của chúng ta đời nay vẫn chưa hết, mà thể xác vẫn còn ở thế gian, vẫn còn phiền não, còn khổ, nhưng trải qua thời gian không lâu, nhiều nhất khoảng mấy mươi năm mà thôi, quả báo tạm thời nếu chấm dứt, thì tự nhiên bỏ Ta-bà vãng sanh Cực Lạc.
      Chúng ta ở thế gian này, sống với cha mẹ vợ con cũng tốt, sống với người khác cũng tốt, thậm chí buôn bán kiếm tiền hay không kiếm tiền, tất cả đều là nhân duyên. Nếu có duyên thì đến lúc sẽ gặp. Nếu không có duyên thì tìm cầu thế nào cũng không thể được. Vì thế, lúc duyên hết thì tự nhiên lìa thế gian, nếu như trả nghiệp chưa xong thì không thể lìa được. Có rất nhiều người già bệnh khổ nằm trên giường thời gian lâu, thậm chí trở thành người thực vật, muốn chết mà chết không được, chính là vì chưa trả xong gánh nợ cuộc đời này. Như vậy phải làm sao đây? Nên lấy tài vật của anh ấy mà bố thí. Bố thí tất cả những đồ đạc đó rồi, đợi đến khi trả xong món nợ này, thì anh ta có thể lìa thế gian. Hơn nữa, thay anh ta bố thí có thể làm nhẹ đi nghiệp của anh ta. Nếu không làm như vậy mà đợi đến khi duyên của anh ta hết, mà chưa bố thí thì anh ta sẽ đọa lạc. Nói theo pháp môn niệm Phật của chúng ta thì niệm Phật cho anh ta, đứng bên cạnh anh ấy mà khai thị đạo lý từ bi cứu độ của Phật A-di-đà, khiến cho trong tâm anh ta niệm Phật nguyện sanh về Cực Lạc.
       Một người hôn mê, chúng ta không nên nghĩ rằng anh ta không biết gì cả, thực ra anh ấy vẫn còn linh giác. Đặc biệt là
lúc hoàn toàn hôn mê, xác thân tuy hôn mê nhưng thần thức sẽ hiện ra, ra vào không cần đi qua cổng chính, mà đi xuyên qua cả vách tường, anh ta nhìn trên lầu dưới lầu, không cần phải ngẩng đầu nhìn hoặc cúi đầu dòm xuống, hơn nữa chúng ta không nên nói năng, vừa khởi tâm động niệm thì anh ta biết liền. Vì thế, đối với người hôn mê thì phải ở bên cạnh mà khai thị đạo lý niệm Phật thì chắc chắn được vãng sanh, khiến cho anh ta niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.                 
Chư Phật chứng thành
           Chắc chắn không nghi!
      Bốn chữ này là chỉ cho sự chứng minh của chư Phật trong mười phương, chứng minh lời nói chân thật của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, không hư dối, chúng sanh nên tin tưởng, không phải hoài nghi! Căn cứ vào việc làm như vậy, thì tự nhiên có được sự lợi ích lớn của việc vãng sanh.
      Đoạn văn này Đại sư Thiện Đạo giải thích về tính chủ yếu của kinh A-di-đà rất rõ ràng.
      Tiếp theo căn cứ vào văn ‘bất vấn tội phước’ để giải thích.                  
Bất luận tội hay phước niệm Phật đều được vãng sanh
 
         1.  Tất cả hàng phàm phu
       Kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân!”.
       Kinh này chỉ cho hàng phàm phu ở đời ác năm trược nương vào công đức niệm Phật thì Phật liền khen rằng ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’.
Như phần ‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong Quán kinh nói: “Thiện nam tử (người này làm nhiều các pháp ác mà không biết hổ thẹn), vì ông xưng danh hiệu Phật A-di-đà nên các tội đều tiêu diệt, Ta đến tiếp dẫn ông”.
      Kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Bản chất của họ chính là hàng phàm phu, nếu là hàng phàm phu thì nhất định có vô minh, phiền não, tội nghiệp. Phàm phu ở thế gian này chẳng phải là phàm phu thiện mà chính là phàm phu ác, nhưng hàng phàm phu ác tương đối nhiều. Đã là phàm phu ác thì tại sao Đức Phật khen ngợi họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân? Bởi vì họ biết niệm Phật, là người niệm Phật, cho nên Đức Phật mới khen ngợi họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân. Giống như chúng sanh ở phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh, một đời không có học Phật cũng không làm thiện, chỉ biết làm toàn các pháp ác, không biết hổ thẹn. Nếu như họ tin tưởng Phật pháp thì sẽ có tâm hổ thẹn. Còn nếu như có lễ nghi liêm sỉ thì cũng có tâm biết hổ thẹn. Nhưng họ  không có các điều thiện về lễ nghi, liêm sỉ ở thế gian, cũng không có quan niệm về nhân quả báo ứng và việc làm thiện của Phật pháp, cho nên mới làm nhiều điều ác như vậy, đến nỗi họ vẫn không biết tâm hổ thẹn. Người như vậy thì lúc sắp mạng chung gặp vị thiện tri thức đến khai thị cho họ, dạy họ niệm Phật, họ chỉ cần niệm một câu liền tắt hơi thở, thì vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Phật liền khen rằng: Ông chính là người thiện nam tử! Nhờ ông niệm Phật mà nghiệp đã tạo trong một đời đã tiêu trừ nên Ta đích thân đến tiếp dẫn ông.
Gặp duyên có khác nên có chín phẩm
        Nếu luận về chúng sanh ở đời ác năm trược trong thế giới Ta-bà của chúng ta đây, thì có thể nói là không có một người thiện nào cả, tại sao? Bởi vì từ tướng bên ngoài xem ra thì mỗi người đều khác nhau, có người xuất gia, có kẻ tại gia, cũng có người tu thân dưỡng tính, cũng có người làm thiện tích đức, cũng có người một đời làm ác không biết hổ thẹn. Nhưng nói trên phương diện bản tính thì toàn bộ đều là giống nhau, cái gọi là ‘tướng căn cơ thì có khác, mà tính căn cơ thì giống nhau’.
        Giống nhau thế nào? Chúng sanh trong đời ác năm trược đều là nghiệp chướng sâu nặng, tham sân dữ dội, nên mới đầu thai vào thế giới Ta-bà này, đây chính là ‘vật tụ theo loài, người phân theo nhóm’. Vì thế, luận về bản tính phàm phu của chúng ta đều là giống nhau cả, cho nên có tướng bề ngoài khác nhau, đây do vì căn duyên của mỗi người khác nhau. Thế nên, phần Huyền nghĩa trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo nói: “Gặp duyên có sai khác, nên  chín phẩm có khác nhau”.
       Trong Quán kinh lấy căn cơ chúng sanh chia làm chín loại, có căn cơ Thượng phẩm, căn cơ Trung phẩm, căn cơ Hạ phẩm. Vì thế, biết có căn cơ khác nhau nên Đại sư Thiện Đạo nói:
       Đây là bởi vì gặp duyên có khác nhau, gặp duyên Đại thừa thì học pháp Đại thừa, chính là căn cơ Thượng phẩm thượng sanh, hoặc là căn cơ Thượng phẩm trung sanh, hoặc là căn cơ Thượng phẩm hạ sanh, nhưng họ vẫn là phàm phu tội ác trong sanh tử; gặp được pháp Tiểu thừa thì chính là căn
cơ Trung phẩm thượng sanh hoặc Trung phẩm trung sanh; Trung phẩm hạ sanh thì không gặp được Phật pháp, nhưng cái duyên mà họ gặp là đạo đức luân lý của Nho gia, cái gọi là ‘giảng nhân nghĩa, nói đạo đức’, nhưng bản chất của họ giống nhau là hàng phàm phu tội ác trong sanh tử; hàng phàm phu Hạ phẩm gặp duyên ác, khiến cho một đời của họ tạo nhiều tội nghiệp mà không có tâm hổ thẹn. Vì thế, tuy gặp duyên khác nhau, có người gặp pháp Đại thừa, có người học pháp Tiểu thừa, có người gặp được thế gian thiện, cũng nương vào duyên này mà học tập, nhưng vẫn là phàm phu tội ác trong sanh tử, và hoàn toàn không đoạn trừ được phiền não. Trái lại mà nói thì hàng phàm phu học pháp Đại thừa, nếu như ban đầu không gặp được duyên Đại thừa, mà gặp duyên ác, vậy thì họ chính là phàm phu Hạ phẩm tạo tội mà không biết hổ thẹn. Phàm phu Hạ phẩm nếu như ban đầu gặp được pháp Đại thừa, vậy thì họ chính là phàm phu Thượng phẩm phát tâm bồ-đề tu học Đại thừa. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Gặp duyên có sai khác, nên chín phẩm có khác nhau”.
       Sở dĩ, tướng bên ngoài có sai biệt, là bởi vì duyên có khác nhau nên tướng bên ngoài cũng khác nhau. Nhưng trong chín phẩm, bản tính nội tại mỗi một phẩm, mỗi một chúng sanh đều không có sai biệt, giống như có đầy đủ phiền não, đầy đủ tham sân si, mạn, nghi, tuy có nhẹ có nặng nhưng cũng đều không thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, tất cả đều y như vậy. Đặc biệt, lúc họ hoặc đọa lạc thì căn bản không cách nào gặp được pháp Đại thừa, pháp Tiểu thừa và việc thiện ở thế gian .
       Vì thế, Đại sư Thiện Đạo có nói về thiện ác mang tính ‘tuyệt đối’, cũng có nói thiện ác mang tính ‘tương đối’.
Điều thiện của tính tương đối thì có điều thiện của pháp luật trong xã hội, nếu như tuân theo pháp luật thì chính là người thiện của xã hội này, cũng có điều thiện trong luân lý đạo đức. Đây đều là điều thiện của thế gian. Nếu như trì năm giới, hành mười điều thiện, thì đó là điều thiện của Phật pháp. Nhưng bất kể là điều thiện trong pháp luật, điều thiện trong nhân luân[1], điều thiện trong đạo đức, hay là năm giới, mười giới, đấy đều là điều thiện tương đối, chẳng phải là điều thiện tuyệt đối. Điều thiện tương đối chính là: Họ còn có phiền não, có phiền não thì gọi là ‘thiện hữu lậu’, bởi vì bên trong có phiền não, cho nên cũng gọi là điều thiện xen ác, xen chất độc.
       Thế nào là điều thiện tuyệt đối? Điều thiện tuyệt đối chính là không còn phiền não, không còn tham sân si. Điều thiện tuyệt đối này có thể thoát khỏi luân hồi trong ba cõi sáu đường. Nhưng điều thiện tương đối, thì bất luận thế nào đi nữa cũng đều bị luân hồi ở trong ba cõi sáu đường. Dù cho mười điều thiện viên mãn, cao nhất thì cũng sanh lên cõi trời mà thôi, nhưng cõi trời cũng là hàng phàm phu, vẫn còn phải luân hồi trong sanh tử. Vì thế, điều thiện này là không cứu cánh cũng không viên mãn. Điều thiện này chẳng phải là điều thiện tuyệt đối mà chỉ là điều thiện tương đối, là điều thiện giả lập, chẳng phải là điều thiện chân thật.
       Luận về thế giới Ta-bà của chúng ta đây thì có nói lục đạo, cũng có nói về ngũ đạo (a-tu-la quy nạp về súc sanh đạo, ngạ quỉ đạo), năm đường cũng gọi là (năm đường ác), tại
 

[1] Nhân luân人伦: Luân lí làm người thời xưa. Một trong những khái niệm cơ bản về luân lý học thuyết của Nho gia trong thời đại cổ Trung Quốc.
 
sao gọi là năm đường ác? Thông thường mà nói thì địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh là ba đường ác, trời, a-tu-la và người là ba đường thiện. Đây là nói tương đối. Nói tuyệt đối thì, năm đường đều là ác đạo cả.
       Kinh Vô Lượng Thọ có một câu ‘cắt ngang năm đường ác’, cũng chính là nói chỉ cần niệm Phật thì có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, vượt ngang, cắt ngang năm đường ác, rõ ràng nói sáu nẻo luân hồi đều là ác đạo.
       Đại sư Đạo Xước giải thích: “Năm đường trong cõi Ta-bà đều gọi là đường ác. Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thuộc về thuần ác, nên gọi là đường ác; trời, người ở cõi Ta-bà thuộc về nghiệp tạp nhiễm, nên cũng gọi là đường ác”.
       Đời ác năm trược ở thế giới Ta-bà, bất luận năm đường hay sáu nẻo, cũng đều gọi là ác đạo. Đương nhiên, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thuần là ác, cho nên mới rơi vào ba đường ác; cõi người cũng tốt, cõi trời cũng tốt, tuy có thiện nhưng xen lẫn ác ở trong đây, cho nên cũng gọi là ác đạo. Vì thế, nói về điều thiện tuyệt đối thì ba cõi sáu đường đều gọi là ác đạo. Điều thiện của chúng sanh làm ở trong sáu đường đều là điều thiện hữu lậu, thiện xen lẫn chất độc, đây chẳng phải là điều thiện thanh tịnh, cũng chẳng phải là điều thiện cứu cánh tuyệt đối.
      Trong Vãng sanh luận chú[1] của ngài Đàm Loan nói: “Các điều thiện của phàm phu trời người, quả báo trời người,

[1] Vãng sanh luận chú 往生論注 Cg: Tịnh độ luận chú, Vô Lượng Thọ kinh luận chú, Vô Lượng Thọ kinh ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ chú. Gđ: Vô Lượng Thọ kinh ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ Bà-tẩu-bàn-đậu Bồ-tát tạo tịnh chú. Gt: Luận chú, Chú luận. Luận chú, 2 quyển, do ngài Đàm Loan đời Bắc Ngụy soạn, là sách chú giải luận Tịnh độ của ngài Thế Thân, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 40.
 
hoặc nhân hoặc quả, đều là điên đảo, đều là hư ngụy, thế nên gọi là công đức không chân thật”.
      Có nghĩa là, bất luận là tu nhân năm giới, mười giới, được quả cõi người, cõi trời đều là điên đảo cả, đều là hư vọng cả, chẳng phải là công đức chân thật. Cũng chính vì vậy mà trong kinh Niết-bàn Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
Tuy lại được thọ thân Phạm thiên, cho đến cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, lúc sắp mạng chung vẫn đọa vào trong ba đường ác.
      Tuy thành tựu ngũ giới thập thiện, cho đến công phu thiền định cao, có thể sanh lên cõi trời Sơ thiền, thậm chí cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, tuy cảnh giới rất cao và thọ mạng rất dài, nhưng vẫn không thoát khỏi ba đường ác, thọ mạng vừa hết, thì dễ rơi vào ba đường ác.
      Trong kinh Chánh pháp niệm xứ[1] Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
      Từ cõi trời vào địa ngục, từ nơi địa ngục lại sanh lên trời.
      Cõi trời là cõi rất cao trong sáu đường, địa ngục là chỗ rất thấp trong sáu nẻo, nhưng thời gian vừa đến thì sinh mạng cũng vừa hết, quả báo vừa đến nếu phải đọa vào địa ngục, thì dĩ nhiên phải rơi vào địa ngục, nếu được sanh lên

[1] Kinh Chánh pháp niệm xứ 正法念处经 Cg: Chánh pháp niệm kinh. Kinh, 70 quyển, do ngài Bát-nhã-lưu-chi dịch vào thời Bắc Ngụy, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng tập 17. Nội dung chính của kinh này là nói lên sự tu tập của tỳ-kheo; dù khái niệm thuộc phạm vi Tiểu thừa nhưng ý nghĩa rất đặc thù, bút pháp rất phóng khoáng, luôn luôn biểu lộ tư tưởng Đại thừa, nhất là đối với quan hệ nhân quả trong 6 nẻo luân hồi.
 
trời thì sẽ được sanh lên trời, lưu chuyển qua lại trong ba cõi, cho nên gọi là luân hồi trong sáu nẻo. Hơn nữa cho thấy rằng, thiện và ác, thiên đường và địa ngục, tợ như không có sai biệt. Nếu người nào lìa được sáu nẻo thì họ vĩnh viễn được tự do, nếu như vẫn chưa lìa được sáu đường, thì chẳng qua là sanh lên cõi trời hoặc vào nhân gian hít thở bầu không khí trong lành mà thôi. Tựa như bị nhốt trong nhà giam, nhà giam thì rất nhỏ, mỗi tuần có mấy lần ra ngoài dạo chơi. Luân hồi trong sáu nẻo thì giống như nhà giam lớn, ba đường ác là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, bị giam trong nhà ngục, chỉ là phạm vi rất nhỏ; trời, người thì giống như ra ngoài hóng mát, mà hóng mát xong lại trở vào nhà giam, cho nên cõi trời cũng là ác đạo, chẳng phải cứu cánh.
        Điều thiện ở thế gian không cứu cánh, điều thiện ở thế gian cũng gọi là ‘tam thế oán’. Thí như một vị cao tăng trong tông Tịnh Độ là Đại sư Hành Sách[1] nói: “Người tu hành nếu không chánh tín cầu sanh Tây Phương, tu các điều thiện nên gọi là thế oán thứ ba”.
       Có nghĩa là nói, một vị tu hành, đời nay hành thiện tích đức, nhưng không biết cầu sanh về thế giới Cực Lạc, cái nhân thiện như vậy sẽ được làm người trở lại hoặc được quả báo sanh lên cõi trời hưởng lạc; nhưng ở trong sự hưởng lạc này dễ tạo tội, quả báo nếu hết thì sẽ đọa lạc như thường, cho nên gọi là ‘thế oán thứ ba’.
       Đại sư Ấn Quang nói: “Nghiệp thiện ở thế gian không thoát khỏi luân hồi. Nếu so với tịnh nghiệp vãng sanh đầy

[1] Hành Sách 行策(1628-1682): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Thanh, họ Tưởng, tự Tiệt Lưu, người huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, là Tổ thứ mười của tông Tịnh Độ.
 
đủ tín nguyện thì thiện nghiệp kia vẫn thuộc về ác nghiệp”.
       Ý nghĩa này giống với điều được nói ở phần trước: Nếu như không so sánh, chỉ căn cứ vào tính tương đối mà nói thì đó là thiện; nhưng để so sánh với tính tuyệt đối thì chẳng phải là thiện, mà là ác.                    
                                    Niệm Phật là điều thiện tuyệt đối
        Nếu nói về niệm Phật, thì niệm Phật chẳng phải là điều thiện tương đối, mà là điều thiện tuyệt đối; chẳng phải là điều thiện hư giả mà là điều thiện chân chính. Vì thế, chỉ cần niệm Phật thì Phật khen ngợi chúng ta là thiện nam tử, thiện nữ nhân; không chỉ là thiện nam tử, thiện nữ nhân bình thường mà là ‘hoa Phân-đà-lợi’[1].
       Trong Quán kinh, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni rất mực khen ngợi người niệm Phật là:
 Nếu người niệm Phật thì phải biết người này chính là hoa Phân-đà-lợi trong loài người; Bồ-tát[2] Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí là bạn tốt của người ấy, sẽ ngồi nơi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật.
 

[1] Phân-đà-lợi hoa分陀利華:  Bôn-đô-lợi-ca hoa. Hd: Bạch liên hoa. Hoa sen trắng. Hoa Phân-đà-lợi có hình dáng như hoa súng, cọng nó dài hơn 1 thước, hoa rất to và thơm ngát, cánh hoa màu trắng lung linh như bạc, thường mọc trong ao A-nậu-đạt, hoa này không thấy ở nhân gian.
[2] Bồ-tát 菩薩 Hd: Đạo chúng sanh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sanh. Cg: Bồ-đề-sách-đa, Mạo-địa-tát-đát-phược, Phù-tát. Gđ: Bồ-đề-tát-đỏa. Người tu hành trên cầu thành Phật bằng trí huệ, dưới hóa độ chúng sanh bằng tâm từ bi, tức là người đầy đủ 2 hạnh: Tự lợi, lợi tha và dũng mãnh cầu thành Phật
 
 
‘Hoa Phân-đà-lợi’ là dùng để khen ngợi Phật, bởi vì ở thế gian này chỉ có Phật mới là bậc thanh tịnh tuyệt đối. Thí như hoa sen mọc từ đất bùn mà không bị nhiễm ô, Đức Phật ở trong đời ác năm trược không bị nhiễm, mà có thể được gọi là ‘hoa Phân-đà-lợi’. Nhưng chúng ta là chúng sanh ở trong đời ác năm trược, thân vẫn ở trong đời ác năm trược này, trong tâm còn có kiến trược, phiền não trược, có nhiều thứ nhiễm ô; nhưng Đức Phật Thích-ca-mâu-ni lấy ‘hoa Phân-đà-lợi’ để khen ngợi chúng ta. Đây chẳng phải là nói tâm của chúng ta đã thanh tịnh, qua đời này đến đời sau thì sẽ ở cõi Cực Lạc, nhưng thế giới Cực Lạc là cảnh giới của Đức Phật. Một khi chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì tuyệt đối sẽ thành Phật, cho nên Đức Phật Thích-ca-mâu-ni thọ ký trước, khen ngợi chúng ta là ‘hoa Phân-đà-lợi’, chính là Phật vị lai, không bị nhiễm ô bởi tham sân si và sự luân hồi trong sáu nẻo nữa. Vì thế nói: ‘Nếu người niệm Phật’, nếu là người niệm Phật thì phải biết người này tức là ‘hoa Phân-đà-lợi’ trong loài người, Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí chính là bạn của người này và người này được khen ngợi như hàng Bồ-tát Đẳng giác. Hiện tại chúng ta đang ở trong cõi Ta-bà này niệm Phật để cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc, phiền não không thể đoạn trừ, mà Đức Phật lại dùng ‘hoa Phân-đà-lợi’ và hàng Bồ-tát Đẳng giác khen ngợi chúng ta, như vậy thì chúng ta đảm nhận nổi không? Quả thật là không đảm nhận nổi.
       Chẳng qua điều Đức Phật nói, chúng ta không thể cự tuyệt, không thể phủ định hoặc nghi vấn, cho nên không dám đảm nhận cũng phải đảm nhận. Vậy thì sau khi đảm nhận sẽ như thế nào? Thì sẽ lại càng thêm hổ thẹn, càng thêm khiêm tốn dịu dàng, càng nên nghĩ đến người khác, như
trong ‘Tông phong’ đã nói: “Sự quan tâm nhân từ đối với người khác và sự khiêm tốn dịu dàng đối với chính mình”, chính là sẽ ‘học tâm đại bi của Phật’, sẽ ‘quan tâm yêu mến chúng sanh, nồng hậu với mọi người’, thậm chí sẽ ‘nhường công lao phần thưởng cho người, và chịu sự oán trách, nhận lấy trách nhiệm…’, sẽ là như vậy. Chúng ta hoàn toàn không thể làm được 100%, mà nói chúng ta nên có khí phách và trình độ như vậy. Đương nhiên, trình độ làm một phần cũng là trình độ, làm một trăm phần cũng là trình độ, làm đến trình độ nào thì hay trình độ nấy.
      Kinh Vô Lượng Thọ nói:
 Nếu có người nào nghe được danh hiệu của Phật A-di-đà, mà sanh tâm hoan hỷ vui mừng cho đến một niệm, nên biết người này làm được lợi ích rất lớn, thì sẽ đầy đủ công đức vô thượng.
         Có nghĩa là, nếu như chúng ta ‘cho đến một niệm’, thì chính là niệm Phật ‘căn cơ lúc bình sanh cho đến cả một đời, căn cơ lúc lâm chung cho đến một niệm’, như vậy sẽ được lợi ích rất lớn. Lợi ích lớn như thế nào? Lợi ích lớn là so sánh với sự lợi ích nhỏ, thí như bậc A-la-hán chính là lợi ích nhỏ, hàng Bồ-tát cũng vẫn là lợi ích nhỏ, chỉ có Đức Phật mới là lợi ích lớn, lợi ích lớn của Phật chính là công đức vô thượng.
Vì thế, kinh Vô Lượng Thọ nói:
      Để được lợi ích lớn, chính là đầy đủ công đức vô thượng.     
      Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Nếu người niệm Phật thì tức là người tốt trong loài người, người rất tốt trong loài người, người thượng thượng trong loài người, người hiếm có trong loài người, người hơn hết trong loài người”.
       Lấy năm loại người tốt này để khen ngợi chúng ta.
      ‘Người tốt trong loài người’, người niệm Phật là người tốt trong sáu, bảy tỉ người trên trái đất này. Người tốt trong loài người còn không đủ huống chi là người rất tốt?
      ‘Diệu’ chính là bất khả tư nghị, không thể tưởng tượng được. Người niệm Phật chúng ta rốt cuộc tốt như thế nào mà không thể tưởng tượng được? Vì chúng ta vẫn còn tham sân si, còn vọng tưởng tạp niệm, bất cứ việc gì cũng vẫn còn so sánh, tính toán, vẫn có tình cảm, vẫn còn giận dữ, oán hận, phê bình, chúng ta là những người niệm Phật như vậy ngược lại được hình dung là người tốt không thể nghĩ bàn. Cũng là người thượng thượng trong loài người, là người hiếm có nhất, tối thắng nhất. Nguyên nhân do đâu? Do chúng ta chuyên niệm một câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’. Bởi vì người như vậy dù phiền não sâu dày như thế nào, vọng tưởng dày đặc đến mức độ nào, tính nóng nảy xấu xa hay thích so đo tính toán như thế nào đi chăng nữa nhưng nhờ niệm Phật cho nên nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
       Một khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc rồi thì những thứ phiền não, nghiệp chướng, nóng nảy, tính toán đều không còn nữa, đều trở nên đại từ bi, đại trí huệ, đại nguyện lực, đại thần thông, đại biện tài, và trở thành một vị Phật độ khắp chúng sanh trong mười phương. Như thế nếu không dùng người rất tốt, người tối thắng để hình dung thì dùng thứ gì để hình dung chứ?
      Đây chính là nói rõ phương pháp niệm Phật là dễ dàng nhất, công đức thù thắng nhất.
      Chúng ta vốn là hàng phàm phu tội ác trong sanh tử, do duyên niệm Phật, do công đức niệm Phật, nên Đức Phật khen ngợi chúng ta là thiện nam tử, thiện nữ nhân, là ‘hoa Phân-đà-lợi’, xếp ngang với hàng Bồ-tát Đẳng giác, đã được sự lợi ích rất lớn và công đức vô thượng. Tổ sư thì nói chúng ta là người tốt, người rất tốt, người thượng thượng, người hiếm có, người hơn hết. Vì thế, cái thiện khác so với cái thiện niệm Phật thì chẳng phải là thiện, là không có cách nào để so sánh cả, cho nên Đại sư Thiện Đạo nói:
     “Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với niệm Phật thì hoàn toàn không thể sánh bằng”.
      Tu lục độ vạn hạnh, trì ngũ giới hành thập thiện, đây là thiện hay bất thiện? Đương nhiên là thiện, là công đức, nhưng nếu so với niệm Phật thì không cách nào sánh bằng, ‘hoàn toàn không thể so sánh được’.
      Trong kinh A-di-đà yếu giải, Đại sư Ngẫu Ích nói:
Trì danh hiệu Phật thì thiện căn phước đức đồng với Phật. Người trì danh hiệu thì thọ mạng và quang minh đồng với Phật không khác.
      Phàm phu mang đầy tham sân si, chỉ cần niệm Phật thì thiện căn, phước đức, thọ mạng, quang minh, đều đồng nhất với Phật không hai. Vì thế, tám tông phái lớn trong Phật giáo, chỉ có niệm Phật của tông Tịnh Độ là bất khả tư nghị nhất. Có một câu nói:
                             Vượt tình lìa kiến, bất khả tư nghị.
       Cũng chính là nói, pháp môn này không thể nghĩ bàn, siêu việt kiến giải, trí huệ, tư duy của hàng phàm phu chúng ta, thậm chí siêu việt hàng Nhị thừa và hàng A-la-hán của
Tiểu thừa cũng tốt, Bồ-tát Đại thừa cũng tốt, đều chẳng thể hiểu được pháp môn này. Như trong kinh Vô Lượng Thọ nói:
Chẳng phải là chỗ suy lường của hàng Nhị thừa, chỉ có Đức Phật mới hiểu  được mà thôi.
      Đại thừa, Tiểu thừa đều không thể suy lường pháp môn này, chỉ có Phật mới có thể hiểu được mà thôi. Nếu như chẳng phải là Phật thì hoàn toàn không thể hiểu được, bởi vì vượt qua cái thấy biết của hàng phàm phu chúng ta cho đến cái thấy biết của hàng Nhị thừa. Vì thế, kinh Hoa nghiêm nói:
       Thà chịu khổ địa ngục mà được nghe danh hiệu chư Phật;
       Không nhận vô lượng điều vui mà không nghe danh hiệu Phật.
      Có nghĩa là chỉ cần có thể nghe được danh hiệu Phật, dù cho đọa vào địa ngục thống khổ như vậy cũng thỏa lòng; tuyệt đối không cần sanh lên trời mà không được gặp Phật pháp, không được nghe đến danh hiệu Phật. Bởi vì cảnh địa ngục tuy khổ nhưng nghe được danh hiệu Phật, thì có thể giải thoát nỗi khổ địa ngục; không chỉ giải thoát nỗi khổ ở địa ngục, mà giải thoát nỗi khổ ở ba đường ác, hơn nữa cũng giải thoát nỗi khổ luân hồi nơi sáu nẻo. Nếu như ở cõi trời, tuy là vui, thọ mạng dài, nhưng không thể nghe được danh hiệu Phật, đến một lúc nào đó thì vẫn đọa lạc như thường, hơn nữa đời đời kiếp kiếp luân hồi. Nói như vậy thì chỉ cần nghe được danh hiệu Phật thì khổ là tạm thời, vui là vĩnh hằng; nếu không thể nghe đến danh hiệu Phật, thì vui là tạm thời, khổ là vĩnh hằng.
  Chúng sanh đều là phàm phu trong sanh tử
2. Tội phước nhiều hay ít
       Chúng sanh ở đời ngũ trược có người ‘phước nhiều tội ít’, có người ‘phước ít tội nhiều’, không có người nào ‘chỉ có phước mà không có tội’. Tại sao vậy? Vì lúc đời ác ngũ trược, thế giới ác, chúng sanh ác.
       Thiện ác và tội phước có sáu điều khác nhau. Kỳ thật, tội phước có nghĩa là thiện ác, thiện ác là nhân, tội phước là quả.
       Câu thứ nhất là ‘phước nhiều tội ít’; câu thứ hai ‘phước ít tội nhiều’; câu thứ ba ‘tội phước đều nhiều’, tội và phước đều giống nhau, tội nhiều phước cũng nhiều; câu thứ tư ‘tội phước đều ít’, tội ít phước cũng ít; câu thứ năm ‘chỉ có tội mà không có phước’, một đời đều tạo nghiệp tạo tội, chưa từng làm điều thiện tích lũy phước; câu thứ sáu ‘chỉ có phước mà không có tội’, chỉ có thiện mà không có tội, nhưng trên cõi đời này không có người như vậy, trừ khi là bậc A-la-hán đã đoạn trừ phiền não, cho nên họ khởi tâm động niệm đều sẽ không tạo tội nghiệp. Chẳng phải bậc A-la-hán khởi tâm động niệm sẽ như thế nào? Giống như trong kinh Địa Tạng nói:
Chúng sanh trong cõi Nam diêm-phù-đề, mọi cử chỉ động niệm đều là nghiệp cả.
     ‘Nam diêm-phù-đề’ là chỉ cho địa cầu. ‘Cử chỉ’ chính là động tĩnh. Chúng sanh trong địa cầu này trong khoảng động và tĩnh khởi lên trăm nghìn vạn loại ý niệm; không chỉ trăm nghìn vạn loại mà trong các kinh điển nói trong khoảng một khảy móng tay có sáu mươi sát-na, một sát-na có chín trăm lần sanh diệt, tính như vậy thì ý niệm khởi lên giữa sự động
và tĩnh của chúng ta đếm không xuể, tính không hết. Ý niệm phát khởi ‘đều là nghiệp cả’, nghiệp chính là hành vi, lời trong miệng nói ra là hành vi, động tác trên thân cũng là hành vi, ý nghiệp là vô hình, khởi tâm động niệm vô hình cũng là hành vi. Khởi tâm động niệm vô hình thì chúng ta không thấy được, nhưng quỷ thần thấy được, Phật và Bồ-tát cũng thấy được, cho nên cùng là hữu hình, thì đều là nghiệp cả. Thân nghiệp, khẩu nghiệp là hữu biểu nghiệp[1], ý nghiệp gọi là vô biểu nghiệp[2], những nghiệp này đều là tội cả, chẳng phải là thiện nghiệp.
       Đây là nương vào cảnh giới của Phật để nhìn chúng sanh chúng ta, nếu nương vào hàng chúng sanh chúng ta thì không thể hiểu rõ là nghiệp, là tội, tại sao vậy? Bởi vì phàm phu ngu si đều là cá mè một lứa cả, đều là than củi đen. Ta và người đều là nghiệp đen, đều là vô minh. Phật thì chẳng phải như vậy, giống như chúng ta dùng mắt thịt để xem hai tay đều là sạch sẽ, nhưng nếu dùng cái kính phóng đại để xem thì không sạch sẽ, dùng kính hiển vi để xem thì có vi khuẩn rất nhiều. Phật thì đầy đủ tam minh[3], lục thông[4], Phật nhãn cũng như kính hiển vi vậy, việc ác của người thế
 

[1] Hữu biểu nghiệp有表業: Nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến cho người khác có thể biết được.
[2] Vô biểu nghiệp無表業: Nghiệp không biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác không thể biết được.
[3] Tam minh 三明Cg: Tam đạt, Tam chứng pháp. Ba minh: Tức trí huệ sáng tỏ thông đạt vô ngại đó là: Túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh.
[4] Lục thông 六通: Sáu diệu dụng vô ngại tự tại của Phật, Bồ-tát do nương vào sức định huệ mà thị hiện. Đó là: Thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên nhãn thông, lậu tận thông.
 
gian thì bất luận trong hay ngoài, tối hay sáng, đại ác, tiểu ác, vi tế ác, Đức Phật đều thấy rõ ràng. Vì thế, người thế gian phần nhiều là ‘tội nhiều phước ít’. Thậm chí là ‘chỉ có tội mà không có phước’.
       Đại sư Thiện Đạo yêu cầu chúng ta phải tự giác và tin sâu: Chúng ta chính là phàm phu tội ác trong sanh tử, người thực hành ngũ giới, thập thiện cũng đều là phàm phu tội ác trong sanh tử. Tại sao vậy? Bởi vì không có duyên giải thoát, ngũ giới, thập thiện vẫn là phàm phu thiện, vẫn còn ở trong ba cõi, vẫn còn đọa lạc, như thế chẳng phải là hàng phàm phu sanh tử tội ác hay sao?                          
Niệm Phật nhất định vãng sanh Cực Lạc
        3. Bất vấn
        Bất luận trong tâm có điều nghi ‘vấn’, ‘bất vấn’ trái với nhau.
      ‘Nghi ngờ’ chính là trong tâm có nghi vấn, khó giải đáp, khó phán đoán, khó xử lý, đây gọi là nghi ngờ; trái lại ‘bất vấn’ chính là không có những vấn đề này, không có những nghi ngờ này, cho nên không cần phải hỏi.
       Có nghĩa là, phàm phu chúng ta chỉ cần niệm Phật thì nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Tội cũng tốt, phước cũng tốt, tội nhiều phước ít cũng tốt, phước nhiều tội ít cũng tốt, tội phước đều nhiều cũng tốt, tội phước đều ít cũng tốt, với những điều này đều không có liên quan gì đến việc vãng sanh về thế giới Cực Lạc mà chỉ có liên quan đến việc niệm Phật. Nếu người niệm Phật, bất kể là tội hay phước, tội phước nhiều hay ít, thì cũng đều được vãng sanh. Nếu người không niệm Phật thì sẽ nhờ vào việc làm phước của mình mà sanh
vào nhân gian, hoặc sanh lên trời, do tạo tội mà đọa vào ba đường ác. Vì thế, nếu người niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì không cần phải luận về căn cơ người này như thế nào, thiện ác thế nào, công đức thế nào, công phu thế nào, đều không cần phải luận bàn. Bởi vì vãng sanh về thế giới Cực Lạc chẳng phải nương vào phước thiện và công phu của chúng ta, mà là nương vào câu danh hiệu này. Câu danh hiệu này có công đức không thể nghĩ bàn, có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của chúng ta, làm tăng thêm phước đức của chúng ta. Chúng ta lìa thế giới Ta-bà mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà. Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì không chỉ vãng sanh mà còn nhất định vãng sanh, dễ vãng sanh nữa.
Nguyên nhân chúng sanh không tin vào bản nguyện của Phật (1)
4. Không nương vào nguyện lực của Phật Di-đà có hai:
       1. Luận về tội nhiều hay ít, lúc tạo tội khởi tâm nghi mà thoái tâm, cho rằng thân tạo ác như vậy, tuy niệm Phật nhưng không nhất định vãng sanh.
      Giống như người không học Phật thì không biết thiện có thiện báo, ác có ác báo, cho đến sau khi học Phật, thì biết có thiện ác báo ứng, thì biết bản thân mình có tội nghiệp.
      Giống như người tu hành sơ sơ, thì hiểu sai cho rằng mình đã tích lũy công đức, công hạnh của mình đã đạt đến cảnh giới nào rồi, cho rằng tâm mình có thể thanh tịnh hoặc đã thanh tịnh, thậm chí chứng được quả vị nào.
Nếu như có trí huệ, cố gắng tu hành, và lại nghiêm khắc kiểm điểm chính mình, thì sẽ phát hiện thân mình kỳ thật vẫn là thân tội ác, đặc biệt là người càng tu hành siêng năng, thì càng biết rõ bản thân mình là phàm phu tội ác trong sanh tử, không có nhân duyên thoát khỏi ba cõi sáu đường.
       Ở đây đã giảng ‘lúc tạo tội’, chẳng phải cố ý tạo tội mới gọi là tạo tội, mà là phàm phu chúng ta khởi tâm động niệm đều là nghiệp cả, đều là tội cả, chỉ là chưa phát giác, chưa phản tỉnh mà thôi. Có người do không hiểu rõ đạo lý này nên cho rằng tội là một loại chướng ngại đối với việc vãng sanh, ngại rằng dù niệm Phật cũng không thể vãng sanh, đây chính là ‘hỏi tội nhiều hay ít’.          
       2. Luận về phước nhiều hay ít, cho rằng niệm Phật phải phát tâm bồ-đề, tu các công đức thì nhất định vãng sanh. Nếu không có hạnh thiện phát tâm bồ-đề thì tuy niệm Phật nhưng vãng sanh bất định. Lấy phát tâm bồ-đề làm hàng đầu, Phật lực làm hàng thứ.
      Cho rằng cần phải có sự hành trì phát tâm bồ-đề, tu các công đức thì niệm Phật mới được vãng sanh, nếu như không có phát tâm bồ-đề, không thực hành lục độ, tích lũy công đức, tuy niệm Phật nhưng cũng không được vãng sanh. Quan điểm này không nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà, lấy việc phát tâm bồ-đề của mình, tích lũy công đức làm trọng tâm, cho rằng đây mới là nhân tố chủ yếu, và sức của Phật là thứ yếu, đây chính là ‘hỏi phước nhiều hay ít’.
       Phần trước là luận về tội nhiều hay ít, không đúng; đây là luận về phước nhiều hay ít, cũng không đúng. Chúng ta đều không hiểu rõ bản thân mình, vì thế cho rằng tự mình có thiện, cho rằng mình có thể phát tâm bồ-đề, hoặc cho
rằng bản thân mình chân chính đang phát tâm bồ-đề: Đây là điều sai lầm. Điều mà gọi là phát tâm bồ-đề, chính là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, mà sau khi phát tâm bồ-đề thì còn phải thực hành Bồ-tát đạo.
     Tâm bồ-đề có hai loại: Một là tâm bồ-đề của Tịnh độ môn, hai là tâm bồ-đề của Thánh đạo môn.
     Tâm bồ-đề của Tịnh độ môn[1] chính là niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tự nhiên sẽ đầy đủ tâm nguyện bồ-đề trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, thành tựu hạnh bồ-đề.
     Tâm bồ-đề của Thánh đạo môn[2] chính là nương vào chính mình phát tâm bồ-đề đời đời kiếp kiếp ở thế giới Ta-bà này, hành Bồ-tát đạo, thành tựu Phật đạo trong thế giới Ta-bà này.
      Căn cứ theo tâm bồ-đề mà nói, tâm bồ-đề của Tịnh độ môn gọi là ‘Dị hành đạo’ rất dễ thành tựu, chỉ cần niệm Phật thì có thể thành tựu; tâm bồ-đề của Thánh đạo môn gọi là ‘Nan hành đạo’ thì chúng ta không thể làm được.
      Tại sao làm không được? Tâm bồ-đề của Thánh đạo môn chính là ‘Tứ hoằng thệ nguyện’: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện

[1] Tịnh độ môn 淨土門: Nương vào bản nguyện Tha lực của Phật A-di-đà mà vãng sanh Cực Lạc rồi ngộ đạo, gọi là Bỉ độ nhập chứng, đó gọi là Tịnh độ môn.
[2] Thánh đạo môn 聖道門: Pháp môn tu hành của bậc thánh. Tịnh Độ giáo chia Phật đạo thành 2 loại Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. Ngay trong đời này tự lực tu hành, ngộ đạo trở thành bậc thánh, gọi là Thử độ nhập thánh, đó là Thánh đạo môn
 
thành’. Người tu theo Thánh đạo môn thông thường mỗi ngày đều phải nhớ niệm ‘Tứ hoằng thệ nguyện’để nhắc nhở và khích lệ bản thân mình. Nhưng thật tế mà nói, phần lớn chỉ là niệm niệm trên cái miệng mà thôi, đâu có thực hành một cách chân thật ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’?
       Phát tâm bồ-đề thì cần phải hành Bồ-tát đạo, mà Bồ-tát đạo chính là việc ‘khó hành mà có thể hành, việc khó nhẫn mà có thể nhẫn, việc khó xả mà có thể xả’. Hiện tại có người yêu cầu gan mình thì phải đem gan cho anh ấy, có người yêu cầu thận thì đem thận cho anh ấy, có người yêu cầu giác mạc của mắt, máu, đều phải dâng hiến cả, gặp thì phải làm, đây chính là ‘khó hành mà có thể hành, khó nhẫn mà có thể nhẫn, khó xả mà có thể xả’. Những điều này có thể làm được không? Dù cho hiện tại có thuốc gây mê, hiến tặng những bộ phận trong cơ thể, có thể là không còn đau đớn lắm, hơn nữa nói đến lá gan, quyên tặng một phần thì nó có thể tái hồi phục lại, nhưng chúng ta vẫn làm không được: Đây chính là việc khó khăn của sự phát tâm bồ-đề, hành Bồ-tát đạo.
      Hay là, nếu như có hai căn phòng bản thân mình ở một căn, căn khác thì phải bố thí cho người ta. Bên ngoài thì có người mắc nợ rất nhiều người, ngày ba bữa cơm không đủ, một khi phát tâm bồ-đề, hành Bồ-tát đạo, anh hôm nay hoặc cả đời này dùng bao nhiêu thì chỉ để lại bấy nhiêu, còn lại tất cả đều phải bố thí một cách vô điều kiện, đây mới là phát tâm bồ-đề, hành Bồ-tát đạo chân chính. Thậm chí người khác muốn vợ của anh, con của anh, muốn có địa vị, tài sản của anh thì anh đều hiến dâng tất cả. Đức Phật từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay hành Bồ-tát đạo chính là làm như vậy, ở trong kinh điển nói rất rõ ràng.
       Những điều này phàm phu chúng ta làm được không? Chắc chắn là không làm được.
Tâm bồ-đề này và các hạnh Bồ-tát đều rất khó thực hành, nhưng người bình thường không chịu khó xét lại, cho rằng mình đang phát tâm bồ-đề, tu lục độ vạn hạnh, trì ngũ giới thập thiện, đó đều là không tự quán sát, không hiểu rõ bản thân.
       Một người nếu hiểu rõ chính mình thì sẽ giống như Đại sư Thiện Đạo nói: Trước đây mình là một phàm phu tội ác trong sanh tử, thiện căn cạn mỏng, phiền não sâu nặng, lưu chuyển trong ba cõi, nương vào bản thân mình là không cách nào thoát khỏi ngôi nhà lửa này.                           
        Nguyên nhân chúng sanh tin nhận bản nguyện của Phật Di-đà (1)
             5. Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà có hai:
        1. Bất luận tội nhiều hay ít, lúc tạo tội không khởi tâm nghi ngờ, tin biết rằng: Tạo tội như vậy, chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục; nhưng vì niệm Phật mà nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà nên nhất định vãng sanh.
       Nếu nương vào đạo lý nhân quả thì tạo tội nhất định sẽ rơi vào địa ngục; nhưng bởi vì niệm Phật nương vào nguyện lực của Phật, không những sẽ không đọa vào địa ngục, mà sẽ thoát khỏi lục đạo luân hồi, vãng sanh về thế giới Cực Lạc: Tin như vậy mới là tin chân thật, như vậy mới là niệm Phật, thật sự nương vào Phật.
      ‘Lúc tạo tội không khởi tâm nghi’, đây chẳng phải kêu chúng ta tạo tội, chúng ta không nên tạo tội, xưa nay là thân tạo tội. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta đều có tham sân si, đều có tâm tự tư tự lợi, khởi tâm động niệm đều coi mình là
chính, có lợi cho mình, tự nhiên ưu tiên chọn lựa, nếu có ai đó xung đột với mình thì tâm lý sẽ không thỏa mái, không hoan hỷ, sẽ tính toán, thậm chí tranh đấu với người, đây chính là ngã chấp, vì thế không cần phải nỗ lực làm, mà tự nhiên thân tạo tội.
       2. Bất luận phước nhiều hay ít, tuy có thiện đức đạo tâm, nhưng tin rằng không nương vào thiện đức đạo tâm này mà được vãng sanh, mà chỉ có nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà mới được vãng sanh.
      Đây hoàn toàn nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà. Bất luận là phước đức của bản thân như thế nào cũng đều không nương vào, biết rằng phát tâm bồ-đề cũng tốt, làm thiện tích đức cũng tốt, chẳng phải đời này kiếp này mới như thế, mà đời đời kiếp kiếp đến nay chúng ta đều đã học Phật, làm thiện tích đức, cũng đã từng xuất gia, thâm nhập kinh tạng, thậm chí trở thành vị Đại đức cao tăng, chúng ta đều từng trải qua, vậy thì tại sao đến bây giờ vẫn còn luân hồi? Bởi vì từ trước đến nay chưa từng thật sự nương tựa vào Đức Phật A-di-đà mà niệm Phật để vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vì thế, tuy có đạo tâm và hạnh lành này, nhưng kết quả vẫn luân hồi như thường, do đó không đáng để nương tựa.                          
                                Di-đà cứu độ không bị chướng ngại
        6. Bất luận tội phước nhiều hay ít
       Bất luận có tội hay không tội, có phước hay không có phước, chỉ cần niệm Phật thì đều được vãng sanh. Tội không nên làm nhưng cũng không phải sợ, chưa có tội nào mà có thể làm chướng ngại sức cứu độ của Phật A-di-đà
Phước thì nên làm mà không thể cậy nhờ, chưa có phước nào mà có thể hơn công đức danh hiệu Phật A-di-đà cả.
      Có nghĩa là, bất kể có tội hay không tội, bất kể có phước hay không có phước mà chỉ cần niệm Phật thì đều nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
     ‘Tội không nên làm, cũng không đáng sợ’: Tội thì chúng ta đương nhiên không thể làm, chẳng qua chúng ta đều là thân tội nghiệp, nhưng chỉ cần niệm Phật thì quyết định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vì thế, chúng ta tuy có tội nghiệp, nhưng không cần phải sợ hãi, lo âu hoài nghi Phật A-di-đà phải chăng có đủ năng lực cứu độ chúng ta. Sức cứu độ của Phật A-di-đà đối với chúng ta là mang tính tuyệt đối, không bị chướng ngại, tội của phàm phu chúng ta dù có lớn đến mấy cũng không làm chướng ngại sự cứu độ của Phật A-di-đà. Có nhân duyên gì mà Đức Phật A-di-đà ở cõi Cực Lạc được tôn xưng là Phật A-di-đà?
    Kinh A-di-đà nói:
Ánh sáng vô lượng của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp mười phương cõi nước không bị chướng ngại, thế nên hiệu là A-di-đà.
       Ánh sáng của Phật A-di-đà chiếu khắp mười phương thế giới nhiếp thọ chúng sanh niệm Phật, không bị bất kì tội nghiệp nào dù lớn hay nhỏ của chúng sanh làm chướng ngại nên gọi là Phật A-di-đà, cũng gọi là Phật Vô Lượng Quang, Phật Vô Ngại Quang. Do đây có thể biết: Phật có năng lực cứu độ bất kể chúng sanh nào, cũng không bị bất kì sự chướng ngại nào, nên mới được tôn xưng là Phật A-di-đà. Người niệm Phật nên biết và tin đạo lý này.
‘Phước nên làm mà không thể cậy nhờ’: ‘Phước’ chính là thiện. Mọi người ở thế gian này phải tuân thủ tam cương ngũ thường[1], tứ duy bát đức[2], phải hiếu thuận phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu ngũ giới thập thiện, phải hòa thuận gần gũi hàng xóm, cứu giúp người nghèo khổ, điều có thể làm được thì gắng sức làm, trách nhiệm trên cương vị phải tận tâm hoàn thành, đây chính là thiện, chính là phước. Nhưng đây không đáng để nương tựa, nếu đáng để nương tựa thì đời đời kiếp kiếp về trước chúng ta nhất định đã làm các điều phước thiện, đã được giải thoát từ lâu, tại sao hiện tại vẫn còn luân hồi? Đấy đều là các điều thiện tương đối, không phải là điều thiện chân thật, là điều thiện xen chất độc, điều thiện hữu lậu, cho nên không đáng để nương tựa. Điều mà chúng ta có thể nương tựa là, chỉ có câu danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, công đức của chúng ta tạo ở thế gian này dù cho rất lớn, nhưng đều không thể sánh bằng công đức danh hiệu bất tư nghị của Phật A-di-đà.
       Cần nhấn mạnh rằng, bất kể thiện hạnh nhiều bao nhiêu cũng đều là thiện hữu lậu, đều là giả cả, chẳng phải là chân thật; đã chẳng phải chân thật thì cũng như không có. Thí dụ như vào một kho báu, trong kho báu ấy chứa đầy đô la mỹ,
 

[1] Tam cương ngũ thường 三纲五常: Tam cương là ba mối quan hệ căn bản của xã hội như: Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ. Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời như: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
[2] Tứ duy bát đức 四维八德: Là thiện đức truyền thông của dân tộc Trung Hoa, thời Xuân Thu có Quản Trọng nước Tề đem Lễ, nghĩa, liêm, sỉ xưng là Tứ duy của quốc gia. Trong bài giảng thứ sáu về chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn đặc biệt đề xướng: Trung, hiếu, nhân, ái, tín, nghĩa, hòa, bình gọi là Bát đức. Thời Tống có Bát đức: Hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ.
 
tiền trong kho báu đó nhiều hay không nhiều? Rất nhiều.
       Nhưng nếu như những loại tiền đó đều là tiền giả thì sao? Thì nó không có giá trị, cũng như không có. Vì thế, nói trên phương diện tính tuyệt đối, tính cứu cánh thì điều thiện của chúng ta làm đều là điên đảo, hư giả cả, đều là thiện xen chất độc, thiện hữu lậu, cho nên không thể trở thành điều thiện giải thoát sanh tử luân hồi. Chỉ có câu danh hiệu này mới là điều thiện chân thật, điều thiện tuyệt đối, điều thiện viên mãn, có thể khiến chúng ta nương vào đó vãng sanh về thế giới Cực Lạc mà thoát khỏi lục đạo luân hồi. 
       Người chuyên niệm Phật chính là thiện nam tử, thiện nữ nhân, bất kể thọ tam quy hay không thọ tam quy y, ăn chay hay không ăn chay, trì giới hay không trì giới, phát tâm bồ-đề hay không phát tâm bồ-đề, tu các công đức, nghiệp chướng nhẹ hay nặng, bất kể công đức nhiều hay ít, công phu sâu hay cạn, tâm thanh tịnh hay không thanh tịnh, tâm định hay bất định… đều không cần quan tâm, bởi vì chúng không có liên quan gì đến việc vãng sanh.
       Thậm chí lúc lâm chung bị hôn mê cũng tốt, bệnh khổ niệm không được danh hiệu Phật cũng tốt, đều không cần để tâm làm gì, bởi vì đến lúc đó thì Đức Phật A-di-đà nhất định đến tiếp dẫn.
       Cũng không cần hỏi: Hiện tại niệm Phật, nếu như gặp nạn xe, nạn trên không, nạn nước, nạn lửa…những tai nạn này mà đột nhiên chết, như vậy phải chăng có thể vãng sanh Cực Lạc không? Đương nhiên chắc chắn vãng sanh Cực Lạc. Trách nhiệm hiện tại của chúng ta là niệm Phật, còn trách nhiệm của Phật A-di-đà là lúc chúng ta lâm chung Ngài đến tiếp dẫn. Lúc nào chúng ta lâm chung, lâm
chung ở đâu, lâm chung trong tình cảnh nào, Phật A-di-đà đều biết cả, cho nên tiếp dẫn vãng sanh lúc chúng ta lâm chung là công việc của Đức Phật A-di-đà, nên chúng ta không cần phải lo cho Đức Phật, cũng chẳng cần phải trợ giúp Đức Phật. Phật không cần chúng ta giúp đỡ, chúng ta cũng không có năng lực gì để giúp đỡ, chúng ta chỉ cần chân thành niệm Phật là được rồi.
                                         Phá đi sự sai lầm tà tín
      Cần nói thêm một điều nữa, có người nói ‘bất kể thiện hay là ác, Đức Phật A-di-đà đều sẽ cứu độ như nhau, cho nên tội ác cũng không cần phải sợ, thiện phước cũng không cần phải tu. Nếu sợ tội, nhất định sẽ tu thiện, điều này chứng tỏ không tin tưởng sự cứu độ của Phật A-di-đà’. Suy nghĩ này đúng không? Không đúng! Đây là tà tri tà kiến. Bởi vì loại tà tín này làm tăng thêm sự giải đãi của mình, càng tăng thêm tội nghiệp của chính mình, mà còn bảo người phỉ báng pháp môn Tịnh Độ, phỉ báng người niệm Phật, làm người ta hiểu lầm rằng Phật A-di-đà dung túng người ác; đồng thời, đây còn là luận về tội phước, cho rằng tu phước là sai, tạo tội là đúng. Loại sai lầm tà tín này lại càng nặng hơn tội trước. Đại sư Thiện Đạo nói: “Bất luận tội phước”, cũng là phá trừ đi loại tà tri tà kiến này.
Suốt đời thọ mạng xưng danh không giải đãi
        7. Thời gian lâu hay gần
       ‘Thời cơ lúc bình sanh, trên suốt cả một đời; thời cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng’, cho đến niệm Phật ‘một tiếng, một niệm’.
Đoạn văn này giải thích ‘hoặc một ngày… hoặc bảy ngày’. ‘Hoặc’ là từ bất định, và giống như ý nghĩa của ‘nãi chí’. Cho đến một ngày, cho đến bảy ngày, cho đến bảy năm, cho đến bảy mươi năm, đây chính là ‘thời cơ lúc bình sanh’, nếu như hiện tại gặp được pháp môn này thì suốt đời phải niệm Phật; ‘thời cơ lúc lâm chung’ là hiện tại đã nằm trên giường bệnh chỉ còn lại mười hơi thở, chỉ có thể niệm mười tiếng, thậm chí chỉ có thể niệm một tiếng hoặc khởi lên bằng ý, tùy theo hoàn cảnh mà chúng sanh niệm Phật, đây chính là ý nghĩa hoặc một ngày, hoặc một tiếng, hoặc một niệm.
                                        8. Niệm Phật dài hay ngắn
      Văn ‘niệm Phật dài hay ngắn’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 263) nói: “Trên suốt một đời, dưới đến một ngày, một giờ, một niệm…; hoặc từ một niệm, mười niệm, cho đến một giờ, một ngày, một đời”.
       Đại ý: Một khi phát tâm thì nguyện suốt đời này, không có thoái chuyển, chỉ lấy Tịnh độ làm kỳ hạn.
       Đoạn văn này cũng giải thích ‘hoặc một ngày…hoặc bảy ngày’ trong kinh A-di-đà, đồng thời cũng giải thích ‘cho đến mười niệm’ của lời nguyện thứ mười tám đã nói trong kinh Vô Lượng Thọ, và ‘cho đến một niệm’ của văn thành tựu và văn lưu thông đã nói. ‘Một niệm’ này, nói theo phương diện người lúc lâm chung thì khi sắp mạng chung mới gặp được pháp này. Nếu như lúc bình sanh gặp được pháp này, từ lúc họ gặp được mới bắt đầu niệm Phật, một đời không bao giờ thay đổi, không thoái chuyển, mãi
đến khi vãng sanh về Tịnh độ Di-đà.
        Người học Phật nên làm thiện tích đức, đây là bổn phận; nhưng chẳng phải dùng thiện đức này để làm điều kiện vãng sanh, hoặc dùng thiện đức này để trợ giúp sự cứu độ của Phật A-di-đà đối với chúng ta, Phật A-di-đà không cần chúng ta trợ giúp. Vì thế, niệm Phật chính là niệm Phật, không cần phải thêm trợ giúp, không cần phải thêm gia vị khác vào nữa, bất kể là thiện hay ác, là tịnh hay uế, là tin hay nghi, là lâm chung hay không, chỉ cần chân thành niệm Phật, nhân như thế thì tự nhiên được quả như vậy. Nếu như cho rằng ngoài niệm Phật ra còn phải tu các thiện hạnh khác, hoặc các pháp môn khác để trợ giúp sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà, thì mới được vãng sanh, mới dễ vãng sanh, đó chính là sanh tâm hoài nghi Đức Phật A-di-đà. Nếu có tâm nguyện sanh thì tuy hoài nghi mà cũng được vãng sanh, nhưng trong kinh Vô Lượng Thọ nói: “Có tâm nghi thì sẽ vãng sanh vào trong bào thai hoa sen, năm trăm năm không thể thấy nghe được Tam bảo”. Điểm này cần phải chú ý.
                                      Một câu chuyện để minh chứng         
       Tôi kể một câu chuyên có liên quan đến ‘bất luận là tội hay phước niệm Phật đều được vãng sanh’.
       Năm Dân Quốc thứ 42 (1953), có bà Lại ở tại Tân Trang, Đẩu Lục, Đài Loan. Bà ấy không biết chữ, thật thà, tuy trong nhà có tiền nhưng vợ chồng sống lâu nhiều năm mà cảm thấy không được hòa thuận, trong lòng luôn phiền muộn không vui, chỉ có thể nhân lúc chồng rảnh rỗi ra ngoài, bà xếp đặt một cái bàn nhỏ ở
trong sân, cúng một ly nước trong, tay cầm ba cây nhang đối trước giữa trời lễ bái niệm Phật. Đầu tiên khởi xưng niệm ‘Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát’, mãi đến khi đứa con gái thiết nơi an trí Phật, khuyên bà ấy chuyên nhất niệm Phật, bà ấy mới đổi thành chuyên nhất xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.
       Con gái của bà Lại từng do thân thể không khỏe nên mới phát tâm đến hang núi Phước Sơn, Mai Lâm, huyện Vân Lâm nấu ăn ba năm. Sau ba năm quả thật thân thể không uống thuốc mà tự khỏi, về nhà liền thiết nơi thờ Phật.
       Trước khi bà cụ vãng sanh nói với con gái rằng: “Mẹ còn ba tháng nữa thì vãng sanh rồi”. Con gái khuyên bà rằng: “Không nói những chuyện không vui như vậy. Đừng quan tâm chuyện của ba, chỉ siêng năng niệm Phật là được rồi’. Sau ba tháng, Lão Bồ-tát lại nói với con gái: “Ta sắp vãng sanh rồi”, và nói: “Cha con sống thêm ba năm nữa” (quả thật, ông Lại ba năm sau thì qua đời), nói xong, quét nhà rất sạch sẽ, và ra ngoài mua gỗ đàn hương đem về nhà nấu nước tắm gội, thay áo quần sạch sẽ, vén búi tóc đẹp, sau khi ăn xong bữa tối thì đi ngủ.
       Hôm sau, con dâu phát hiện mẹ chồng ngủ không thức dậy, mới đến trước thì thấy mẹ chồng đang nằm ngủ say theo kiểu cát tường, nên không dám kêu. Mãi đến mười giờ trưa, con dâu cảm thấy mẹ không trả lời, nên đến trước xem lại lần nữa thì mới biết mẹ sớm đã vãng sanh.
       Do chịu sự ảnh hưởng từ sự vãng sanh thù thắng như vậy, nên hai đứa cháu gái và cháu ngoại của Lão Bồ-tát đều xuất gia.
Bà Lại sống vào năm Dân Quốc thứ 40 (1951), bà không được học hành, không biết chữ, nhưng lúc đó cũng rất ít có pháp sư giảng kinh thuyết pháp, giảng kinh trên truyền hình lại càng ít, cho nên cũng ít có cơ hội nghe kinh nghe pháp, vì thế bà cũng không hiểu rõ giáo lý Phật pháp cho lắm; nhưng bà chỉ nương vào câu ‘trên suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’ của Đại sư Thiện Đạo nói, mà bà ấy đã biết thời gian vãng sanh trước ba tháng .
       Từ bối cảnh văn hóa hoặc điều kiện khác mà nói thì, bà Lại này có thể nói là không bằng chúng ta; nhưng việc vãng sanh thù thắng của bà ấy thì chưa hẳn chúng ta có thể làm được. Nếu chúng ta muốn giống bà ấy thì cần phải như Đại sư Thiện Đạo nói ‘Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’, hơn nữa dốc lòng ‘không tranh với mọi người, không cầu gì trong thế gian này, trong tâm giữ cho được nhẹ nhàng bình tĩnh’.
   Biết thời gian vãng sanh trước ba tháng, trước đó bà tắm rửa thân thể sạch sẽ, thay y phục tốt nằm trên giường đợi Phật đến tiếp dẫn, không đợi bạn hữu đến trợ niệm, mà còn vẫn biết người khác (chồng bà) chỉ có thể sống thêm được ba năm nữa. Điều mong mỏi sau cùng của hàng cao tăng Đại đức đại khái cũng như vậy mà thôi.
           Chúc tất cả mọi người một lòng niệm Phật, đồng sanh Cực Lạc.
           Nam-mô A-di-đà Phật!
Phần phụ--Giảng nghĩa
Bất luận tội hay phước niệm Phật
đều được vãng sanh
        Văn ‘bất luận tội hay phước’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 250) nói: “Tất cả phàm phu bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, trên suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, hoặc bảy ngày, một lòng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh, chắc chắn không hoài nghi!”.
       Văn ‘chánh định nghiệp’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 250) nói: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là  chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
       1. Tất cả phàm phu--- kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân” . Đây chỉ cho phàm phu ở đời ác ngũ trược, nương vào công đức niệm Phật thì Phật liền khen rằng ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’. Như phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh nói: “Thiện nam tử (người này làm nhiều các pháp ác mà không biết hổ thẹn), vì ông xưng danh hiệu Phật A-di-đà nên các tội tiêu diệt, Ta đến tiếp dẫn ông”.    
       2. Tội phước nhiều hay ít--- chúng sanh ngũ trược có người ‘phước nhiều tội ít’, có người ‘phước ít tội nhiều’, có người ‘tội phước đều nhiều’, có người ‘tội phước đều ít’, có người ‘chỉ có tội mà không có phước’, không có người nào ‘chỉ có phước mà không có tội’. Tại sao vậy? Bởi vì lúc đời ác ngũ trược, thế giới ác, chúng sanh ác.

      3. Bất luận--- trong tâm có điều nghi rằng ‘vấn’, ‘bất vấn’ trái với nhau.
      4. Không nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà có hai:
        a. Luận về tội nhiều hay ít, lúc tạo tội khởi tâm nghi ngờ mà thoái tâm. Cho rằng thân tạo tội ác như vậy tuy niệm Phật nhưng chưa chắc vãng sanh.
        b. Luận về phước nhiều hay ít, cho rằng vì niệm Phật mà phát tâm bồ-đề, tu các công đức thì vãng sanh chắc chắn; nếu không có thiện hạnh phát tâm bồ-đề thì tuy niệm Phật vãng sanh cũng bất định. Lấy phát tâm bồ-đề làm hàng đầu, Phật lực làm hàng thứ.
       5. Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà có hai:
         a. Bất luận tội nhiều hay ít, lúc tạo tội không khởi tâm nghi ngờ, tin rằng: Tạo tội như vậy thì chắc chắn đọa vào địa ngục; nhưng vì nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh.
         b. Bất luận phước nhiều hay ít, tuy có thiện đức phát tâm bồ-đề, nhưng tin rằng không nương vào thiện đức phát tâm bồ-đề này mà được vãng sanh, chỉ nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà mà được vãng sanh.
      6. Bất luận tội phước nhiều hay ít, bất luận có tội hay không có tội, có phước hay không có phước, chỉ cần niệm Phật thì đều được vãng sanh. Tội không nên làm nhưng cũng không phải sợ, chưa có tội nào mà có thể làm chướng ngại sức cứu độ của Phật A-di-đà; phước thì nên làm nhưng không thể ỷ lại, chưa có phước nào có thể hơn công đức danh hiệu Phật A-di-đà cả.
    7. Thời gian lâu hay gần, ‘thời cơ lúc bình sanh, trên suốt cả đời; thời cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng’, cho đến niệm Phật ‘một tiếng, một niệm’.
   8. Văn ‘niệm Phật dài hay ngắn’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 263) nói:
     “Trên suốt một đời, dưới đến một ngày, một giờ, một niệm…; hoặc từ một niệm, mười niệm, cho đến một giờ, một ngày, một đời”.
       Đại ý: Sau khi phát tâm thì thệ nguyện suốt đời này, không có thoái chuyển, chỉ lấy Tịnh độ làm kỳ hạn.
      Kinh A-di-đà nói: “Chấp trì danh hiệu” tức là ‘Đa thiện căn phước đức’ (lấy ý).
           Quán kinh nói: “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”.
      Không tin sự cứu độ của Phật A-di-đà là điều ác trong tất cả điều ác; tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà là điều thiện trong tất cả điều thiện.
       Ngũ nghịch[1] thập ác[2] dĩ nhiên là cực ác, nhưng tin Phật A-di-đà khi lâm chung chắc chắn được cứu độ; ngũ giới thập thiện tất nhiên là đại thiện, nhưng hoài nghi Phật A-di-đà thì khó mà thoát khỏi đọa lạc.
 

[1] Ngũ nghịch 五逆: Năm tội nghịch theo Tiểu thừa là 5 thứ tội nghiệp làm hủy hoại ân điền, phước điền là: Giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng
[2] Thập ác 十 惡: Còn gọi là Thập bất thiện: 1. Sát sanh, 2. Thâu đạo, 3. Tà dâm, 4 Vọng ngữ, 5. Lưỡng thiệt, 6. Ác khẩu, 7.Ỷ ngữ, 8. Tham dục, 9. Sân khuể, 10. Tà kiến.
 
       Không có điều thiện nào có thể hơn điều thiện tin được Phật A-di-đà cứu độ, và cũng không có tội nào hơn cái tội không tin Phật A-di-đà cứu độ cả.
      Sáu chữ vạn đức hồng danh là diệu thể của lục độ vạn hạnh; xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà là kết tinh của Hằng sa công đức.
      Người tin thì được cứu, vì niệm Phật rất dễ dàng, là thù thắng, vì thuận theo bản nguyện Phật A-di-đà.
      Tuy là người ác, nhưng tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì cũng hơn người đại thiện ở thế gian.
      Nguyện vãng sanh và xưng danh không những không luân hồi mà trái lại còn được thành Phật.     
/13
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »