Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Bản Nguyện Niệm Phật

Bản Nguyện Niệm Phật

Tác giả: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ Quang - Nhiều Tác Giả - Nhóm Biên. Dịch giả: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ Quang - Nhiều Tác Giả - Nhóm Biên. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 451.

Chương 12: 9. Tư Tưởng Tịnh Độ Của Đại Sư Ấn Quang - Nguyên tác: Pháp Sư Trí Tùy Từ Đức dịch (Trang 409 - 424)

9. TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ CỦA ĐẠI SƯ ẤN QUANG[1]
Nguyên tác: Pháp sư Trí Tùy
Từ Đức dịch
 
        Pháp môn Tịnh Độ là hoàn toàn nhờ vào ân gia trì của Đức Phật A-di-đà và các vị Tổ sư khuyến hóa mà được truyền bá không bị đoạn tuyệt. Kế sau Đại sư Ngẫu Ích, lại có Đại sư Tiệt Lưu, Đại sư Tỉnh Am, Thiền sư Triệt Ngộ v.v., tiếp nối hoằng truyền pháp môn này, để danh hiệu Phật A-di-đà vang khắp mười phương. Vào thời cận đại, lại có Đại sư Ấn Quang nỗ lực hoằng dương pháp môn Tịnh Độ, đem diệu pháp khế hợp với thời cơ làm ảnh hưởng sâu rộng khắp cả thế gian. Từ phong cách mô phạm chuyên tu của Đại sư, giúp cho chúng ta cảm nhận sâu sắc oai thần công đức của các bậc Tổ sư đời trước âm thầm hộ niệm. Nay không thể trình bày tường tận, chỉ đặc biệt trình bày tư tưởng Tịnh độ của Tổ Ấn Quang, để làm sáng tỏ công lao phế bỏ Thánh đạo, quy hướng Tịnh độ của Đại sư.



[1] Bài này được dịch từ tiết 3 ‘Đoạt Thánh hiển Tịnh’ (Ấn Quang Đại sư) trong chương 4, sách Tịnh Độ tông phán giáo sử lược yếu của Pháp sư Trí Tùy.

Đại sư Ấn Quang (1861-1940) là vị Tổ thứ 13 của Liên tông, người ở Cáp Dương, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Thuở nhỏ, Đại sư theo học sách Nho, đến khi trưởng thành, đích thân gánh vác việc truyền thừa thánh học của nhà Nho, hưởng ứng học thuyết của Hàn Dũ, Âu Dương Tu, bài bác giáo nghĩa nhà Phật. Về sau, Đại sư lâm bệnh nặng suốt mấy năm, xét nghĩ mới biết lỗi lầm ngày trước, lập tức hối cải tâm niệm trước kia. Năm hai mươi mốt tuổi, duyên xuất gia đã chín mùi, Đại sư từ giã gia đình, vào chùa Liên Hoa Động, ở núi Chung Nam Ngũ Đài xuất gia. Năm sau, Đại sư được thọ giới tại chùa Song Khê, huyện Hưng An, tỉnh Thiểm Tây.
       Sau khi Đại sư chào đời được sáu tháng thì mắt bị bệnh nặng, gần như mù. Về sau, tuy lành nhưng thị lực đã bị tổn thương, vừa mới bị đỏ thì không thể nhìn thấy các cảnh vật. Khi thọ giới cụ túc, nhân vì Đại sư giỏi về viết chữ nên tất cả các giấy tờ thuộc về pháp sự ở trong đàn giới đều giao cho Đại sư viết thay. Do viết chữ quá nhiều, mắt bị phát đỏ như máu. May mắn là trước kia, khi Đại sư đảm nhận công tác tiếp khách ở chùa Liên Hoa, tỉnh Hồ Bắc, trong một lần phơi kinh, Đại sư đã đọc được bộ Long thư Tịnh độ văn, nên nhận biết pháp môn Tịnh Độ chính là con đường trọng yếu để ra khỏi sanh tử. Vì mắt bị bệnh mà ngộ được thân này là gốc khổ, những lúc rảnh rỗi, Đại sư chuyên tâm niệm danh hiệu Phật. Ban đêm, sau khi đại chúng ngủ, Đại sư lại ngồi dậy niệm Phật; khi viết chữ, tâm Đại sư cũng không rời danh hiệu Phật. Thế nên, mắt Đại sư dù bị bệnh nặng song vẫn có thể gắng gượng để biên chép. Khi công việc ghi chép đã hoàn tất thì mắt của Đại sư cũng lành bệnh hẳn. Do đó, Đại sư tin sâu công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn, cho nên đích thân hành trì và khuyên dạy mọi
người đều quy hướng Tịnh độ. Về sau, nghe nói ở chùa Tư Phước, núi Hồng Lô có mở đạo tràng chuyên tu Tịnh độ, Đại sư liền từ giã thầy mình đến đó chuyên tu Tịnh độ, lúc ấy Đại sư được hai mươi sáu tuổi. Trong ba năm, ngoài chuyên tu chánh hạnh niệm Phật, Đại sư còn nghiên cứu đọc tụng kinh điển Đại thừa, diệu khế Phật tâm, lấy chân thật niệm Phật làm con đường tắt để tu hành. Năm ba mươi tuổi, Đại sư nhận lời thỉnh mời của Đại sư Hóa Văn ở chùa Pháp Vũ, núi Phổ Đà hộ tống Đại Tạng kinh trở về phương nam và Đại sư ở lại tại lầu Tàng Kinh của chùa Pháp Vũ gần hai mươi năm. Đại sư thâm nhập kinh tạng, chuyên tu Tịnh nghiệp. Do vì, đại chúng trong chùa kiên trì thỉnh cầu Đại sư giảng pháp, từ chối không được, nên Đại sư mới giảng pháp môn Tịnh Độ. Giảng xong, Đại sư liền bế quan, ở trong trai phòng viết bốn chữ ‘Niệm Phật chờ chết’ để tự sách tấn.
       Đại sư xuất gia hơn ba mươi năm, trước sau ẩn dật, chẳng thích qua lại với người khác, cũng không muốn ai biết đến tên tuổi của mình. Trong suốt một thời gian dài, đêm ngày Đại sư chuyên trì niệm danh hiệu Phật A-di-đà, đợi ngày vãng sanh. Không làm bậc đại thông gia, chỉ làm người chân thật niệm Phật, nhưng đạo đức sâu dày, trí huệ nổi trội, rốt cuộc Đại sư cũng không thể nào ẩn mình ở yên. Lúc Đại sư năm mươi hai tuổi, cư sĩ Cao Hạc Niên đem những bài viết của Đại sư đăng trên tờ Phật Học Tùng Báo ở Thượng Hải, kí tên là Thường Tàm. Mọi người tuy không biết tác giả là ai nhưng văn tự Bát-nhã đủ để làm phát khởi niềm tin chân thật của hàng độc giả, dẫn dắt mọi người quy hướng An Dưỡng. Các vị cư sĩ như Từ Úy Như, Chu Mạnh Do v.v., đọc được những bài viết của Đại sư liền khen ngợi: “Đại pháp suy đồi
đến nay đã cực điểm, chẳng ngờ thời nay vẫn còn có người đầy đủ chánh tri, chánh kiến như Đại sư tiếp nối huệ mạng của Phật”. Thế nên, nhiều lần sưu tập các bản thảo của Đại sư đem in thành bộ Ấn Quang pháp sư văn sao, truyền bá rộng rãi. Đức độ danh tiếng của Đại sư nhờ đây mà ảnh hưởng sâu rộng khắp trong nước và ngoài nước. Về già, Đại sư có sáng lập đạo tràng chuyên tu Tịnh độ ở núi Linh Nham, Tô Châu, dốc lòng hóa độ những kẻ có duyên.
       Văn Sao chính là duyên khởi để hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ của Tổ Ấn Quang, nhờ đọc được Văn Sao mà hàng thiện nam, tín nữ ngưỡng mộ đức độ của Đại sư, khát vọng được làm môn đồ càng ngày càng đông, hoặc có kẻ vượt bể trèo non mà cầu mong tiếp độ; hoặc có người mượn thư từ để xin ban pháp mầu. Hơn hai mươi năm, số người quy y với Đại sư nhiều vô số, tất cả đều vâng lời chỉ dạy, nỗ lực thực hành ăn chay niệm Phật, chuyên tu Tịnh nghiệp, nam nữ vãng sanh nhiều không kể xiết.
        Đại sư tuy thông tông, thông giáo, song không thích đàm luận nghĩa lý huyền diệu, chẳng trọng thần thông kỳ dị, chỉ mộc mạc chân thành khẩn thiết dẫn dắt người khác tu trì, khiến cho mọi người đều biết đường lối hành trì, ai nghe cũng liền được lợi ích. Do Đại sư chất phác thân thiết, lời nói và hạnh tu hợp nhất, cho nên những vị chân thật tu hành đều muốn thân cận, khiến cho người tìm đến hỏi đạo rất đông, không thể tính kể.
        Mùa đông năm 1940, Đại sư thị hiện bệnh nhẹ, liền cho gọi pháp sư Diệu Chân lo liệu nghi thức thăng tòa. Tối ngày mồng ba, Sư khai thị cho đại chúng: “Pháp môn Tịnh Độ, không có gì đặc biệt khác lạ, chỉ cần khẩn thiết chí thành,
đều được Phật tiếp đón, đới nghiệp vãng sanh”.
        Một giờ rưỡi sáng ngày mồng bốn, Đại sư từ giường ngồi dậy nói: “Niệm Phật thấy Phật, quyết định vãng sanh Tây phương Cực Lạc”. Nói xong, Đại sư liền lớn tiếng niệm Phật. Hai giờ mười lăm phút, Đại sư ngồi cạnh giường gọi người lấy nước rửa tay xong, đứng dậy nói: “Đức Phật A-di-đà đã đến tiếp đón, ta phải đi rồi, mọi người phải niệm Phật, phải phát nguyện, phải vãng sanh Tây phương Cực Lạc”. Nói xong Đại sư lại đến ghế ngồi, thân ngồi ngay ngắn, miệng mấp máy niệm Phật. Hơn ba giờ, Đại sư Diệu Chân đến, Đại sư căn dặn: “Ông phải duy trì đạo tràng, hoằng dương pháp môn Tịnh Độ, đừng học theo các giáo môn khác”. Sau đó, Đại sư im lặng, miệng mấp máy niệm Phật. Đến năm giờ, Đại sư mỉm cười an nhiên, tự tại vãng sanh trong tiếng niệm Phật của đại chúng.
       Suốt đời của Đại sư lấy pháp làm trọng, lấy đạo làm quý, không làm trụ trì, không nhận đồ chúng, không ham danh lợi, chuyên tâm niệm Phật. Đại sư chuyên tu như thế, hóa độ mọi người cũng như thế. Cả đời của Đại sư chỉ đề xướng: “Giữ trọn luân thường, làm hết bổn phận, chân thật niệm Phật”. Đại sư quán sát sâu thời thế, căn cơ, mới kịp đưa ra một phương thuốc hay, hoàn toàn phù hợp để cứu độ thế gian mà hương thơm của vị thuốc ấy âm thầm lan tỏa khắp cả mọi nơi trong thời mạt pháp đầy dẫy ô trược này. Pháp sư Liễu Nhiên khen ngợi ân đức của Tổ Ấn Quang:
Chất phác, hiền lành
Tánh ngay, hòa nhã
Dạy dỗ mọi người
Siêng năng, không mỏi.
Xả vật, thí tài
Vui vẻ, khảng khái
Sống đời đạm bạc
Lìa tục, tham ái.
Giáo pháp lưu truyền
Khắp cả trong ngoài
Giáo hóa chúng sanh
Cùng về Cực Lạc.
Thầy chỉ lối Tịnh
Mười phương kính lễ
Mạng chung thấy Phật
An nhiên tự tại.
Xá-lợi năm màu
Bền chắc, không hoại
Nguyện tôn dung này
Gương mẫu muôn đời.
        Tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Ấn Quang bàng bạc khắp ở trong Văn Sao, Văn sao, đối với một đời giáo hóa của Đức Phật được đưa ra bàn luận rất nhiều, toàn bộ Văn sao đều nói Thánh đạo khó tu hành, Tịnh độ dễ vãng sanh. Đại khái, cũng đồng với quan điểm của các bậc Tổ sư đi trước, nhưng vì tùy thuận thời thế, ứng hợp căn cơ của chúng sanh mà đem hai môn Thánh đạo và Tịnh độ phán định thành hai pháp môn Phổ thông và Đặc biệt. Pháp môn dựa vào tự lực gọi là pháp môn Phổ thông, pháp môn nương nhờ Phật lực gọi là pháp môn Đặc biệt. Trích dẫn sơ lược một đoạn văn để nói rõ quan điểm chủ yếu của Đại sư:
 Pháp môn Tịnh Độ, nhờ từ lực của Phật. Ngoài pháp môn này ra, các pháp môn khác đều cần phải tự lực.

  - Giáo lý Phổ thông như kẻ sĩ ở thế gian, do thi đỗ mới đủ tư cách làm quan.
  - Giáo lý Đặc biệt như vương tử ở thế gian, vừa mới sanh ra liền được tất cả các tể quan, quần thần kính trọng.
        Hai pháp môn này không thể luận là như nhau, vì hàng phàm phu đầy dẫy hoặc nghiệp, lẽ nào không thể lựa chọn cẩn thận.
        Ở đây, phán định hai pháp môn Phổ thông và Đặc biệt, nội dung căn cứ vào nghĩa lý của hai môn Thánh đạo và Tịnh độ. Đại sư so sánh giữa Thánh đạo và Tịnh độ để chỉ ra sự khác biệt giữa tự lực và tha lực, lại vì chúng sanh thời mạt pháp mà chỉ dạy pháp trọng yếu để thoát ly sanh tử. Đồng thời nỗ lực khuyến hóa chúng sanh thời mạt pháp nên ‘xả bỏ tự lực, coi trọng tha lực, mong muốn tất cả các loài hàm thức đầy dẫy hoặc nghiệp ở cõi Ta-bà hiện đời cùng được dự hội Liên Trì’.
        Đại sư Ấn Quang sống vào thời loạn lạc, hoàn cảnh khó khăn, thế đạo ngày càng bại hoại, Phật pháp lại suy đồi, việc đời vô thường trước mắt, người có trí huệ, kẻ có lương tâm, đa số đều hướng tâm vào cửa Phật, tìm cầu đạo giải thoát ra khỏi thế gian. Nhưng hiểu biết chưa sâu, tu học rất khó, phần nhiều không đủ pháp nhãn để chọn pháp môn. Dẫu có người tu học pháp môn Tịnh Độ thì cũng đa phần y cứ vào giáo môn Phổ thông, xem thường giáo pháp Đặc biệt. Thánh, Tịnh không rõ, khó dễ chẳng biết, tự mình mất phần, làm hại người khác, nguy hại chẳng phải là ít. Đại sư nói rõ tệ hại này như sau:
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Đặc biệt ở trong Phật pháp, lợi ích của pháp môn này và pháp môn Phổ thông
hoàn toàn không giống nhau. Xưa nay, đa số đều dựa vào pháp môn Phổ thông để bàn luận pháp môn Tịnh Độ, do đây mà hại mình hại người, và lại có người tự cho rằng:‘Hoằng pháp làm lợi ích chúng sanh’, cách nói này nhiều không kể xiết. Quan niệm ấy rất sai lầm, do chẳng xét pháp môn Đại thừa, Tiểu thừa, pháp môn khó dễ, pháp môn Tự lực và Tha lực. Pháp môn nương nhờ Phật lực, cố dẫn pháp môn Tự lực để bình luận đến nỗi dẫn đến sai lầm này. Theo tôi được biết, Phật lực không thể nghĩ bàn, không thể đem năng lực tu trì của hàng phàm phu đầy các ràng buộc mà bàn luận, thì tất cả tâm nghi hoặc, tâm bất tín đều không còn.
     Thầm nghĩ, Đại sư Ấn Quang một mực tôn trọng lề lối cũ, không thích lập ra đường lối mới, đã có nhân duyên tiếp nhận hệ thống phán giáo của các Đại sư Đàm Loan, Đạo Xước, Đại sư Thiện Đạo, thì tại sao không truyền bá pháp môn này mà lại lập ra một pháp môn có tên gọi khác? Xem đoạn văn trên, chúng ta mới biết được Đại sư dùng hai chữ Thông, Biệt có dụng ý rất sâu xa: Vì đa số hành giả đều đem pháp môn Tịnh Độ xem đồng với các pháp môn khác, vì để bày tỏ tông Tịnh Độ là đặc biệt, cho nên ngài lập ra một tên gọi Thông, Biệt nhằm chỉ rõ phạm vi của hai môn. Bộ Văn Sao, xuyên suốt từ đầu đến cuối đều trình bày rõ nghĩa lý này, thật là ngài đã dụng tâm lao nhọc.
    Điểm đặc biệt giữa hai môn Thông, Biệt, cũng như Đại sư Đàm Loan đã nói, chỉ khác nhau ở tự lực và tha lực. Trọn đời của Đại sư Ấn Quang thâm nhập kinh tạng, đối với tư tưởng Tịnh độ của các vị Tổ sư như Ngẫu Ích, Liên Trì, Đại sư Thiện Đạo, Đạo Xước, Đàm Loan, Đại sư đều thấu
hiểu thông suốt, đối với tự lực tu hành rất khó, ngài thấy rất rõ. Ngài biết ‘Chúng sanh thời mạt pháp, xả bỏ pháp môn này, muốn ra khỏi sanh tử thì vạn người tu không được một người’. Nếu nói hành giả tu tự lực thì: ‘Người chưa chứng đạo, từ ngộ đến mê, vạn người hết vạn; người từ ngộ đến ngộ, ức người không có một hai’. Thế nên, đối với người có cơ duyên tin sâu thì chỗ nào trong Văn sao cũng nói rõ:
Mọi người cần phải biết, dựa vào tự lực để tu trì thì chính mình có lực gì? Chỉ là nghiệp lực từ xưa đến nay. Vì thế, vạn kiếp nghìn đời khó giải thoát được. Nương nhờ sức thệ nguyện rộng sâu của Phật A-di-đà, thì tự nhiên giải quyết sanh tử xong trong một đời.
         Lời nói này đối với hàng phàm phu sanh tử vọng chấp vào tự lực bị Đại sư khiển trách rất nặng, nhưng do tư tưởng của các tông khác đã ăn sâu vào tông Tịnh Độ, ảnh hưởng sâu rộng, cho nên đa số hành giả đều đem tông Tịnh Độ theo chiều ngang (hoành siêu), hành trì theo chiều dọc (thụ xuất), dùng tâm tự lực thực hành pháp Tha lực, chấp sự nhất tâm, lý nhất tâm, dùng hai điều này làm tiêu chuẩn vãng sanh. Tuy tu tập pháp môn Tịnh Độ nhưng lại chẳng biết có tín nguyện thì chắc chắn vãng sanh; tuy thường xưng danh nhưng chẳng rõ xưng danh nhất định được Phật nhiếp thọ. Đa số mọi người đều lấy xưng danh làm phương tiện để đè nén vọng tưởng, mong cầu được nhất tâm. Tệ nạn này phổ biến là do sự lẫn lộn ở trong các tông còn sót lại đến ngày nay. Trong thư, Đại sư phúc đáp cư sĩ Bộc Đại Phàm có trình bày rõ nghĩa lý này:
 Pháp môn niệm Phật, chỉ nương nhờ Phật lực, để ra khỏi ba cõi, được vãng sanh Cực Lạc. Nay chúng ta đã
không phát nguyện, làm sao có tín tâm! (Người thật sự có tín tâm thì nhất định có nguyện thiết), tín nguyện đều không, chỉ niệm danh hiệu Phật, vẫn thuộc tự lực. Vì không có tín nguyện, nên không thể cảm ứng được sức thệ nguyện rộng sâu Phật A-di-đà. Nếu đoạn sạch kiến, tư, hoặc thì mới có thể vãng sanh. Nếu chưa đoạn được kiến, tư, hoặc, cho đến đoạn chưa sạch thì nghiệp báo vẫn còn, làm sao có thể ra khỏi luân hồi? Chúng ta phải biết rằng: Dựa vào tự lực thì còn một mảy may ác nghiệp, liền không thể ra khỏi sanh tử, huống gì ác nghiệp dẫy đầy! Lại nữa, nếu không có tín nguyện mà niệm Phật đạt đến nhất tâm thì trong vô lượng vô biên người hành trì, hầu như chỉ có một hai người vãng sanh. Chúng ta nhất quyết không thể đem cách này để giáo hóa, vì sẽ làm đoạn mất thiện căn của tất cả những người vãng sanh Tịnh độ đời sau. Vì sao vậy? Vì dựa vào tự lực, niệm Phật đạt đến nghiệp hết tình không, chứng vô sanh nhẫn thì toàn thể thế gian hiếm có một hai người. Giả sử mỗi người đều nương pháp này mà tu trì, xả bỏ tín nguyện, không theo đường lối Tịnh độ mà hành, thì muôn nghìn chúng sanh vĩnh viễn ở trong biển khổ sanh tử, không có cách gì ra khỏi, đây đều là một trong những lời nói khiến cho chúng sanh lầm lạc. Thế nhưng, những người này còn dương dương tự đắc, cho lời nói của mình là cao siêu mà không biết lời nói ấy làm đoạn mất huệ mạng Phật, đây là lời nói ngông cuồng khiến chúng sanh nghi ngờ lầm lạc. Thật rất đáng thương thay! (Nghiệp thiện ở thế gian, không ra khỏi luân hồi. Nếu đối với vãng sanh Tịnh nghiệp đầy đủ tín nguyện thì thiện nghiệp kia vẫn thuộc ác nghiệp).
Pháp môn Tịnh Độ cần con mắt sáng suốt, không được đem giáo nghĩa Phổ thông để đánh đồng với pháp môn Tịnh Độ. Giả sử, Đức Như Lai không khai thị pháp môn này thì chúng sanh đời mạt pháp không thể ra khỏi sanh tử, không thể được giải thoát.
       Tổ Ấn Quang tinh thông tông và giáo, nhưng ngài không nhiễm các pháp môn khác, mà chỉ tiếp nhận ‘tôn chỉ nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ và chân thật niệm Phật. Tổ khen ngợi phán giáo ‘Chánh và Tạp’ của Đại sư Thiện Đạo là ‘lời dạy muôn đời không thay đổi’. Hơn nghìn năm đến nay, Đại sư là người đầu tiên triển khai mặt lợi hại của hạnh chuyên tu và tạp tu, đồng thời khai thị điểm cốt yếu của vãng sanh Tịnh độ. Tổ Ấn Quang nói:
 Hòa thượng Thiện Đạo là hóa thân của Đức Phật A-di-đà, có đại thần thông, có đại trí huệ. Hòa thượng hoằng dương pháp môn Tịnh Độ, không chuộng nghĩa lý huyền diệu, chỉ chân thành khẩn thiết giáo hóa mọi người tu trì. Còn về việc khai thị hai hạnh chuyên tu và tạp tu, lợi ích ấy không thể cùng tận. Chuyên tu nghĩa là thân chuyên lễ lạy Đức Phật A-di-đà, miệng chuyên xưng danh hiệu Đức Phật A-di-đà, ý chuyên nhớ danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Như thế thì muôn người tu muôn người vãng sanh Tây phương Cực Lạc, không sót một người nào. Tạp tu nghĩa là tu thêm các pháp môn khác rồi hồi hướng vãng sanh Tịnh độ, do dụng tâm không chuyên nhất, nên rất khó được lợi ích; trong trăm người tu thì hiếm có được một hai người, trong nghìn người tu thì hiếm được ba bốn người vãng sanh Cực Lạc. Đây là lời nói chân thật từ kim khẩu của Thế Tôn, là lời dạy muôn đời không thay đổi vậy.
Xem đoạn văn trên, chúng ta liền thông hiểu tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Ấn Quang là mạch nước đầu nguồn tuôn chảy thấm nhuần sâu rộng. ‘Một đời giáo hóa của Đại sư, đều là cước chú pháp môn Tịnh Độ’. Nếu thấu hiểu sâu sắc tự lực là khó, Phật lực là dễ, thì nhất định sẽ dốc lòng trân quý một hạnh này. Song có người chấp lý mà chưa thông nghĩa, đa số họ xem thường câu danh hiệu Phật là quá đơn giản, không có gì đặc biệt mà không muốn tu học pháp môn niệm Phật. Đại sư quán sát sâu xa căn cơ và thời thế của chúng sanh trong thời mạt pháp mà hết lời khen ngợi công đức danh hiệu Đức Phật A-di-đà, dẫn dắt mọi người cùng quy hướng chuyên tu niệm Phật. Tổ Ấn Quang dạy:
 Một câu danh hiệu Phật, bao trùm cả tạng giáo, thu hết không cùng tận. Người thông tông và thông giáo, mới có thể làm người chân thật niệm Phật; nhưng người không biết gì, người không có tài năng gì, chỉ cần miệng xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà cũng có thể làm người chân thật niệm Phật. Trừ hai hạng người này ra, thì chân hay chẳng chân, đều do nỗ lực của chính mình có y vào giáo hay không?
Ở thế gian có người thích cầu cao, hiếu thắng, thường dùng lời lẽ khoa trương tự lực, miệt thị Phật lực. Họ không biết rằng từ khi sanh, đến khi chết, không có việc gì là không nương nhờ sức lực của người khác mà lại không lấy làm hổ thẹn. Đâu riêng gì đối với việc lớn sanh tử, ngay cả Phật lực họ cũng không muốn tiếp nhận, mắc bệnh tâm cuồng loạn đến mức như thế. Hành giả tu tập pháp môn Tịnh Độ cần phải hết sức cẩn thận đối với điều này.
Ở đây, Đại sư Ấn Quang rất quan tâm đối với những hành giả chấp vào tu tự lực, nên đã hết lời khuyên bảo, dốc sức chỉ dạy pháp môn Tịnh Độ. Thông thường, những người có tâm, ai lại không ngay lời dạy này, mà nhất quyết làm người chân thật niệm Phật! Nhưng phải thật sự chân thật niệm Phật mới thật có thể buông xuống các thứ tri kiến suông. Người an tâm niệm Phật, do đâu không nhiều, đó là do không có ai không bị các tập khí làm chướng ngại, không bị tri kiến vây hãm. Rốt cuộc gốc của các tập khí ấy, chúng ta không thể tự mình thấu rõ điểm then chốt của nó. Quán sát tệ nạn đương thời, ngài nói:
Tập khí của chúng sanh, mỗi người thiên về một tính. Người ngu thì thiên về thấp hèn, người trí thì thiên về cao thượng. Nếu người ngu an phận là mình ngu, không dụng tâm tạp, chuyên tu tịnh nghiệp, thì hiện đời nhất định vãng sanh Cực Lạc, người ngu ấy được gọi là không ai sánh bằng. Nếu người trí mà không ỷ lại trí mình, lại còn hành theo một môn ‘nương nhờ từ lực của Phật A-di-đà, cầu vãng sanh Tịnh độ’, người trí đó gọi là đại trí. Nếu người trí ỷ lại kiến giải của mình, xem thường pháp môn Tịnh Độ, thì sẽ bị đắm chìm trong các đường ác, từ kiếp này đến kiếp khác, muốn trở lại học theo bọn người ngu hôm nay, nhưng không thể được. Những người tinh thông tông, giáo, tướng, tánh kia, tôi thật sự rất quý mến và ngưỡng mộ họ, song không dám nghe theo! Tại sao? ‘Vì dây gàu ngắn không thể múc nước ở giếng sâu (Vì căn cơ thấp kém không thể diệu ngộ tự tâm), tấm giấy nhỏ không thể gói được vật lớn, (Phàm phu tội nghiệp sâu nặng không thể ra khỏi sanh tử)’. Ấn Quang tôi không thể kêu gọi tất cả mọi
người đều phải tu tập pháp môn niệm Phật theo tôi. Nếu người thấp kém như tôi, lại muốn học hạnh tu của bậc đại thông gia, ngay đó muốn diệu ngộ tự tâm, vượt qua biển học, tôi e rằng bậc đại thông gia kia không thể giải quyết xong sanh tử, trở lại bị bọn đàn ông, đàn bà ngu dốt, chân thật niệm Phật vãng sanh Tây phương Cực Lạc xót thương. Chẳng lẽ không phải ‘muốn khéo lại trở thành vụng, muốn bay lên cao mà lại rơi vào vực thẳm’. Than ôi! Một lời khai thị mà bao trùm hết, đó là tự mình phải hiểu căn cơ của mình mà thôi.
        Từ lời khai thị này, cho chúng ta thấy con mắt tinh tường, nhạy bén, cảm nhận sâu sắc của Đại sư, cho đến lòng từ bi tột cùng, công lao nhiếp hóa của Đại sư, ở nơi đây có thể thấy được một phần nào tư tưởng Tịnh độ của Đại sư.
      Nhìn chung, tư tưởng Tịnh độ của Tổ sư đều là do xem xét kĩ về mặt thời tiết và nhân duyên, quán sát căn cơ của chúng sanh trong hiện đời mà xiển dương giáo pháp. Đại sư Ấn Quang sống vào thời loạn lạc, nên đối với điều này ngài có cảm xúc rất sâu đậm. Đại sư nói:
 Thế giới hiện nay, dẫu cho Cổ Phật thị hiện thành Chánh giác, nhất định cũng không dạy điều gì khác hơn là giữ trọn luân thường, làm hết bổn phận, ngoài việc chú trọng pháp môn Tịnh Độ ra thì cũng không đề xướng pháp môn nào khác. Giả sử, Đại sư Đạt-ma thị hiện vào thời đại này, cũng phải dùng pháp môn Phật lực để giáo hóa chúng sanh. Thời cơ và nhân duyên quả thật là căn bản, trái với thời cơ, nhân duyên thì cũng như mùa đông mặc áo vải, mùa hè mặc áo lông, đói thì uống nước, khát lại ăn cơm, chẳng những không có lợi ích mà còn bị tổn hại.
Nhờ một tiếng kêu gọi của Đại sư, tông Tịnh Độ và hàng phàm phu thời mạt pháp càng được tiếp thêm sức mạnh, quạt gió chất phác, thật thà đến khắp thiên hạ, mọi người trong và ngoài nước đều vâng lời chỉ dạy của Đại sư. Một pháp môn xưng danh cắm sâu gốc rễ trong biển khổ bùn lầy, nở hoa Chánh giác ở khắp mọi nơi.
        Một đời tu học của Đại sư mộc mạc, chất phác, mặc cho mọi người trên toàn thế giới đều làm bậc đại thông gia, ngài vẫn dốc chí tu Tịnh độ. Ngài nói:
Chúng ta đã không dựng cờ đại pháp, chỉ nhặt được cơm thừa canh cặn bỏ trước cửa nhà của ông trưởng giả giàu có để tự nuôi thân. Có kẻ không chê hôi chua, không ngần ngại mà chia cho nhau ăn, bằng không thì mặc cho y dùng gan rồng, tủy phượng để tự bồi bổ tấm thân. Tôi đâu dám kêu gọi mọi người đều phải nghe lời tôi, mọi người đều ăn cơm thừa canh cặn như tôi, mới thỏa lòng tôi! Nhiều người vào chợ mua bán hàng hóa, đi khắp nơi để lập nghiệp; các loại hàng hóa họ mua bán, hoặc cũng có khi lỗ vốn. Hoằng pháp làm lợi ích cho chúng sanh, lẽ nào không phải như thế? Muôn nghìn căn cơ đều được dạy đó là việc xuất hiện ở thế gian của Như Lai. Đức Như Lai giáng sanh làm bậc thiện tri thức cũng không lấy điều này làm tiêu chuẩn. Pháp nào tôi cũng không thông, chỉ cần bằng lòng niệm Phật, cũng có thể nương nhờ Phật lực giải quyết xong việc sanh tử. Tôi không thông, cũng không có gì xấu hổ! Điều đáng xấu hổ là lời nói và việc làm của chúng ta không phù hợp với nhau, chỉ có danh mà không có thật.
Đại sư nói bình dị rõ ràng, đó là nói niệm Phật thì thành Phật. Ngài biết rõ ‘một pháp trì danh, chính là môn vi diệu để nhập đạo, là con đường tắt để thành Phật’. Vì thế, Đại sư một đời cực lực hoằng dương pháp môn Tịnh Độ, phân biệt rõ ràng mặt khó, dễ của tự lực và tha lực, xét kĩ đặc tính hơn kém của pháp môn Phổ Thông và Đặc biệt. Ngài tiếp nhận lời giáo huấn của các bậc Tổ sư đi trước, chuyên đề xướng một hạnh xưng danh, mong muốn khôi phục bản lai diện mục của tông Tịnh Độ đã bị lu mờ hàng nghìn năm, bây giờ được sáng sủa. Đại sư tiếp nối sở học bị thất truyền, trong thời loạn lạc, trùng hưng pháp môn Tịnh Độ, công lao ấy chẳng thể dùng lời để khen ngợi. Đại sư được ca tụng là người bậc nhất trong khoảng ba trăm năm nay, lời này thật có căn cứ. Hàng hậu học chúng ta sống vào thời mạt pháp, có được vận may một lần nghe qua phong cách, mô phạm chuyên tu của Đại sư, không ai chẳng cảm kích sâu xa sự ân cần giáo hóa của Đại sư:
Vô thường mau chóng,
Đường hiểm luân hồi;
Chân thật niệm Phật,
Đừng đổi pháp tu.
/13
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »