Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Bản Nguyện Niệm Phật

Bản Nguyện Niệm Phật

Tác giả: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ Quang - Nhiều Tác Giả - Nhóm Biên. Dịch giả: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ Quang - Nhiều Tác Giả - Nhóm Biên. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 451.

Chương 9: 6. Tư Tưởng Tinh Độ Của Đại Sư Đạo Xước - Nguyên Tác: Nghiệp Lộ Hoa Nhuận Hà dịch (Trang 265 - 296)

6. TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ CỦA ĐẠI SƯ ĐẠO XƯỚC
                                                          Nguyên tác: Nghiệp Lộ Hoa Nhuận Hà dịch

        Phật giáo Trung Quốc sau khi được truyền vào từ thời nhà Hán đã trải qua sự phát triển của thời kỳ Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều đến đời Tùy, Đường bắt đầu bước vào thời kỳ hưng thạnh tột đỉnh. Các tông phái như tông Thiên Thai[1], tông Hiền Thủ[2], tông Pháp Tướng[3], Thiền tông[4],


[1] Tông Thiên Thai 天台宗 Cg: Tông Pháp Hoa. Tông phái Phật giáo Trung Quốc do ngài Huệ Văn khai sáng, Đại sư Trí Khải hoàn thành việc lập tông. Tông này lấy kinh Pháp hoa làm tông chỉ.
[2] Tông Hiền Thủ 賢首宗 Cg: Tông Hoa Nghiêm, tông Pháp Giới, tông Viên Minh Cụ Đức. Tông Hoa Nghiêm do ngài Đỗ Thuận, căn cứ vào yếu chỉ của kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm sáng lập vào đời Đường, Trung Quốc.
[3] Tông Pháp Tướng 法相宗 Cg: Tông Hữu Tướng, tông Duy Thức, Tướng tông, tông Hữu tướng Đại thừa. Tông phái chủ trương cảnh ngoài tâm là không, pháp trong tâm là có, do Đại sư Huyền Trang đời Đường sáng lập, đệ tử Khuy Cơ hoàn thành việc lập tông.
[4] Thiền tông 禪宗: Tên khác của tông Phật Tâm, tông Đạt-ma, tông Vô Môn. Tông phái tông ngài Bồ-đề Đạt-ma làm Sơ tổ, tham cứu cội nguồn tâm tánh, để được ‘kiến tánh thành Phật’ một trong 13 tông của Trung Quốc. Danh từ này xuất phát từ câu “Phật ngữ tâm vi tông” của kinh Lăng già.

tông Tịnh Độ[1], Luật tông[2] lần lượt được hình thành. Trong đó, điểm nổi bật của tông Tịnh Độ chính là Tha lực, Dị hành, được các giai tầng trong xã hội rộng rãi đón nhận thực hành, và trở thành một trong những tông phái có ảnh hưởng lớn nhất của Phật giáo Trung Quốc.
      1. Sự truyền nhập tư tưởng Tịnh độ và cuộc đời hoạt động của Đại sư Đạo Xước[3]
        Tín ngưỡng Tịnh độ xuất hiện ở Ấn Độ cổ đại. Ấn Độ vào thời xưa, quan niệm về cuộc đời là khổ, được đông đảo dân chúng tin nhận, từ đó nảy sanh ra tư tưởng hy vọng
 

[1] Tông Tịnh Độ 淨土宗: Tông phái lấy việc vãng sanh Tịnh độ Cực Lạc làm mục đích. Tông này do ngài Huệ Viễn đời Đông Tấn, Trung Quốc sáng lập.
[2] Luật tông 律宗: Một tông phái Đại thừa của Phật giáo Trung Quốc, do luật sư Đạo Tuyên (596-667) ở Nam Sơn thành lập vào thế kỷ thứ 5. Bộ luật căn bản của tông này là Tứ phần luật.
[3] Đạo Xước 道綽 (562-645) Cg: Tây Hà Thiền sư. Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Đường, họ Vệ, người Vấn Thủy, Tinh Châu, huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây. Sư là Tổ thứ 2 của tông Tịnh Độ Nhật Bản. Sư xuất gia năm 17 tuổi, thông suốt kinh luận, chuyên nghiên cứu kinh Niết-bàn và từng giảng dạy kinh này 24 lần. Sau đó, Sư ở chùa Huyền Trung nhân đọc văn bia của Đại sư Đàm Loan mà chuyển sang tín ngưỡng Tịnh độ, lúc đó Sư 48 tuổi, từ đó mỗi ngày Sư đều niệm Phật 70000 biến. Sư giảng Quán kinh đến 200 lần, chủ trương bất luận người xuất gia hay tại gia đều nên lấy niệm Phật làm thiết yếu. Năm 629, Sư biết trước ngày thị tịch nên tập hợp tứ chúng từ biệt, bỗng thấy ngài Đàm Loan hiện thân bảo là dư báo chưa hết, nên Sư vẫn tiếp tục trụ thế. Vua Thái Tông từng đến Thái Nguyên thăm Sư và ban cho nhiều châu báu vô giá. Đến năm 80 tuổi, sức khỏe Sư vẫn tốt, giảng thông suốt nghĩa lý pháp môn Tịnh Độ. Sư có các vị đệ tử: Đại sư Thiện Đạo, Đạo Phủ, Tăng Diễn, Đạo Ngân. Sư thị tịch năm 645, thọ 84 tuổi. Tác phẩm: Luận Tịnh độ (2 quyển), An lạc tập (2 quyển).
 
thoát khỏi khổ đau hiện tại, tìm kiếm Tịnh độ Cực Lạc. Trong kinh điển Phật giáo Đại thừa, có rất nhiều chỗ bàn về Tịnh độ của chư Phật, như kinh Đại bát-nhã[1] nói: “Có vị đại Bồ-tát tu hành bố thí ba-la-mật… nguyện rằng: Ta sẽ siêng năng tinh tấn, không hề hối tiếc, tu hành bố thí ba-la-mật-đa, giáo hóa chúng sanh được thành thục để làm trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật”. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm[2] nói về tu Niệm Phật tam-muội, ‘đều có thể nhìn thấy tất cả chư Phật và quyến thuộc của họ’. Phẩm Dược Vương Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa[3] nói nếu có người nào nghe kinh này và y cứ theo kinh này mà tu hành, ‘đến lúc mạng chung liền vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Phật A-di-đà và các đại Bồ-tát vây quanh bảo hộ…’.
        Thế kỷ thứ 2-3 TL, tư tưởng Tịnh độ của Ấn Độ được
 

[1] Kinh Đại bát-nhã 大般若經 Gđ: Đại bát-nhã ba-la-mật-đa kinh, 600 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, từ tập 5 đến tập 7. Đại bát-nhã nghĩa là trí huệ đạt đến bờ giải thoát. Tôn chỉ toàn bộ kinh thuyết minh rằng tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, giả dối không thật.
[2] Kinh Hoa nghiêm 華嚴經 Gđ: Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh. Gt: Tạp hoa kinh. Bộ kinh này dịch ra Hán văn dưới ba dạng: 40 quyển của Pháp sư Bát-nhã, 60 quyển của Phật-đà-bạt-đà-la (Giác Hiền), 80 quyển của Thật-xoa-nan-đà. Bộ kinh trọng yếu của Phật giáo Đại thừa, cũng là pháp môn tự nội chứng mà Như Lai tuyên thuyết cho các Bồ-tát thượng vị như Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền, sau khi ngài thành đạo 14 ngày dưới cội cây bồ-đề. Tông Hoa Nghiêm Trung Quốc đã y cứ vào kinh này mà lập ra các diệu nghĩa: Pháp giới duyên khởi, Sự sự vô ngại v.v. làm tông chỉ.
[3] Kinh Pháp hoa法華經 Gđ: Diệu pháp liên hoa kinh, 7 hoặc 8 quyển, gồm 28 phẩm, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Hậu Tần, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 9. Đây là một trong bộ kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa.
 
phát triển mạnh mẽ. Bồ-tát Long Thọ[1] trứ tác Thập trụ luận[2] đề cập đến bản nguyện Phật A-di-đà và Đức Phật Di-lặc ở đời vị lai…, gọi phương pháp tu hành cầu sanh Tịnh độ là ‘Dị hành đạo’. Ngoài ra, những tác phẩm Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận[3] của ngài Kiên Huệ[4] và Vô Lượng Thọ ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ[5] của Bồ-tát Thế
 

[1] Long Thọ 龍樹 (tk2-3) Hâ: Na-già-ứ-thích-thọ-na, Na-già-a-chân-đà-na. Cg: Long Mãnh, Long Thắng. Tổ của phái Trung Quán ở Ấn Độ, Ngài sanh vào khoảng thế kỷ 2, 3 thuộc dòng dõi Bà-la-môn, Nam Ấn Độ. Ngài trước tác rất nhiều bộ luận nên người đời tôn xưng là Thiên Bộ Luận Chủ.
[2] Thập trụ luận 十住論 Gđ: Thập trụ tì-bà-sa luận, 17 quyển, do Bồ-tát Long Thọ soạn, ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Hậu Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 26. Luận này được soạn ra nhằm mục đích giải thích đại ý phẩm Thập địa (kinh Thập địa) trong kinh Hoa nghiêm.
[3] Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận 究竟一乘寶性論 Cg: Bảo tính phân biệt nhất thừa tăng thượng luận, Phân biệt bảo tính chi Đại thừa tối thắng yếu nghĩa luận. Gt: Bảo tính luận. Luận, 4 quyển, 11 phẩm, do ngài Lặc-na-ma-đề dịch vào đời Hậu Ngụy, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng tập 31. Nội dung luận về giáo nghĩa Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh.
[4] Kiên Huệ 堅慧(?-?): Cao tăng Ấn Độ, thuộc dòng sát-đế-lợi, trụ ở chùa Na-lan-đà. Sư thông minh lanh lợi, Sư chuyên nghiên cứu giáo lý Đại Tiểu thừa, có được huệ giải, nhưng lại khế hợp với tư tưởng Đại thừa hơn. Tác phẩm: Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính, luận Pháp giới vô sai biệt.
[5] Vô Lượng Thọ kinh Ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ 無量壽經優婆提舍願生偈 Cg:Vãng sanh luận, Vãng sanh Tịnh độ luận, Vô Lượng Thọ kinh luận, Vô Lượng Thọ Ưu-ba-đề-xá kinh luận. Luận, 1 quyển, do ngài Thế Thân soạn, ngài Bồ-đề-lưu-chi đời Bắc Ngụy dịch, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 26. Luận này y theo kinh Vô Lượng Thọ soạn các bài kệ Nguyện sanh, khen ngợi sự trang nghiêm của Tịnh độ Cực Lạc, nói về Ngũ niệm môn.
 
Thân[1]…, đều tán dương chư Phật, đặc biệt tuyên dương Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà. Tịnh độ được lưu hành đương thời thì có Tịnh độ Đâu-suất của Bồ-tát Di-lặc, Tịnh độ Diệu Hỉ ở phương Đông của Phật A-súc và Tịnh độ Cực Lạc ở Tây Phương của Phật A-di-đà. Nhưng kinh điển Đại thừa trình bày tư tưởng Tịnh độ tương đối có hệ thống thì có ba bộ kinh liên quan đến Tịnh độ của Phật A-di-đà, đó là kinh vô Lượng Thọ[2], kinh Quán Vô Lượng Thọ[3] và kinh A-di-đà[4].
 

[1] Thế Thân世親 (316-396) Cg: Thiên Thân. Đại luận sư Ấn Độ, sống vào khoảng thế kỉ 4-5 người thành Phú-lâu-sa-phú-la, nước Kiện-đà-la thuộc Bắc Ấn Độ, là con thứ tư của Quốc sư Bà-la-môn Kiều-thi-ca. Lúc đầu Sư cùng với anh là Vô Trước học Tát-bà-đa bộ, ngài Vô Trước học thẳng vào Đại thừa, ngài Thế Thân học kinh Lượng bộ, lập chí cải thiện giáo nghĩa Hữu bộ. Sau đó Sư nghiên cứu luận Đại tì-bà-sa. Tác phẩm của Sư, gồm hơn 40 loại.
[2] Kinh Vô Lượng Thọ 無量壽經 Cg: Song quyển kinh, Lưỡng quyển Vô Lượng Thọ kinh, Đại Vô Lượng Thọ kinh, Đại kinh, 2 quyển, do ngài Khương Tăng Khải dịch vào đời Tào Ngụy, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 12. Nội dung kinh này nói về thời Phật Thế Tự Tại Vương có một vị quốc vương xuất gia làm tăng, hiệu là Pháp Tạng, thệ nguyện hóa độ tất cả chúng sanh đến thế giới Cực Lạc.
[3] Kinh Quán Vô Lượng Thọ 觀無量壽經 Cg: Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh, Vô Lượng Thọ Phật Quán kinh, Vô Lượng Thọ Quán kinh, Thập lục quán kinh, Quán kinh, 1 quyển, do ngài Cương-lương-da-xá dịch vào đời Lưu Tống, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 12. Đây là 1 bộ kinh nói về Y báo, Chánh báo cõi tịnh độ. Nội dung thuật lại việc Đức Phật nhận lời thỉnh cầu của phu nhân Vi-đề-hi, thị hiện Tịnh độ Tây phương Cực Lạc, đồng thời nói về tu tam phước, Thập lục quán là pháp để được vãng sanh.
[4] Kinh A-di-đà 阿彌陀經Hd: Kinh Nhất thiết chư Phật sở hộ niệm, kinh Chư Phật sở hộ niệm, kinh Tiểu Vô Lượng Thọ, Tiểu kinh, Tứ chỉ kinh, 1 quyển, được xếp vào Đại chánh tạng tập 12, 1 trong 3 bộ kinh Tịnh độ, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào thời Dao Tần, Trung Quốc (năm 402 TL). Nội dung kinh nói về cõi Cực Lạc niệm danh hiệu Phật cầu vãng sanh.
 
Kinh Vô Lượng Thọ chủ yếu trình bày bốn mươi tám lời nguyện do tỳ-kheo Pháp Tạng phát ra khi Ngài chưa thành Phật. Căn cứ theo nguyện này, hễ chúng sanh nào tin theo Đức Phật A-di-đà đều có thể nương vào nguyện lực của Ngài mà vãng sanh Tây phương Tịnh độ, đây chính là nền tảng cốt lõi của thuyết Tha lực vãng sanh của tông Tịnh Độ. Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói về mười sáu pháp quán[1], đây là phương pháp tu hành cầu vãng sanh Tây Phương. Kinh A-di-đà tuyên dương sự trang nghiêm tráng lệ của Tịnh độ Tây phương Cực Lạc và sự hạnh phúc vui mừng của việc vãng sanh Tịnh độ. Ba bộ kinh này, trình bày theo nhiều góc độ về nguồn gốc của Tịnh độ Tây phương, tình trạng của thế giới Cực Lạc, và phương pháp tu hành để vãng sanh Tây Phương, tạo thành hệ thống tín ngưỡng Tịnh độ tương đối hoàn chỉnh.
        Theo sử ghi chép, thì đầu thời kỳ Tây Tấn (265-317), Trung Quốc đã có người tín ngưỡng Tây phương Tịnh độ, mong muốn được vãng sanh thế giới Cực Lạc. Thời kỳ đầu có tăng nhân Huệ Viễn[2] thời Đông Tấn (317-420) tín
 

[1] Mười sáu pháp quán (Thập lục tưởng quán十六想觀) Cg: Thập lục quán pháp, Thập lục quán, Thập lục diệu quán, Thập lục chánh quán, Thập lục quán môn. Mười sáu pháp quán ghi trong kinh Quán Vô Lượng Thọ giúp cho hành giả niệm Phật được vãng sanh Tây phương đó là: 1. Nhật tưởng quán. 2. Thủy tưởng quán. 3.  Địa tưởng quán. 4. Bảo thụ quán. 5. Bảo trì quán. 6. Bảo lâu quán. 7. Hoa tọa quán. 8. Tượng quán. 9. Chân thân quán. 10. Quán Âm quán. 11. Thế Chí quán. 12. Phổ quán. 13. Tạp tưởng quán. 14. Thượng bối quán. 15. Trung bối quán. 16. Hạ bối quán.
[2] Huệ Viễn 慧遠 (334-416): Cao tăng Trung Quốc, sống vào thời Đông Tấn, họ Giả, người Lâu Phiền, Nhạn Môn (huyện Quách, tỉnh Sơn Tây), là Sơ tổ tông Tịnh Độ Trung Quốc. Năm 402, Sư và hơn
 
ngưỡng Tịnh độ rất là nổi tiếng. Sư từng ở Lô Sơn kiến lập đài bát-nhã và tượng Phật A-di-đà, và cùng với một trăm hai mươi ba người đồng đạo, ở trước tượng Phật phát lời thệ nguyện vãng sanh Tịnh độ Tây phương Cực Lạc.
        Vào thời Tuyên Vũ Đế Bắc Ngụy (386-534) có vị tăng Bồ-đề-lưu-chi[1] ở Thiên Trúc đến Lạc Dương (508), phiên dịch tác phẩm Vô Lượng Thọ kinh Ưu-bà-đề-xá nguyện sanh kệ của Bồ-tát Thế Thân. Kinh này nói về năm môn vãng sanh (năm môn là Lễ bái môn, Tán thán môn, Tác nguyện môn, Quán sát môn, Hồi hướng môn). Về sau, Đại sư Đàm Loan[2] chú giải một cách tỉ mỉ hơn, đồng thời dựa vào thuyết Nan hành đạo và Dị hành đạo trong tác phẩm Thập-trụ-tỳ-bà-sa luận của Bồ-tát Long Thọ để phát huy, chủ trương bản nguyện Tha lực, và bắt đầu xiển dương tư tưởng của Tịnh độ. Trong thời gian dài, Đại sư Đàm Loan hoạt động ở chùa Huyền Trung, Thạch Bích, Bắc Sơn tại Phần Châu, do
_____________________________
100 vị như ông Lưu Di Dân v.v., sáng lập Bạch Liên xã, chuyên dùng Tịnh Độ niệm Phật làm pháp môn tu hành. Tác phẩm của Sư như Lô sơn tập (10quyển), Vấn Đại thừa trung thâm nghĩa thập bát khoa (Đại thừa đại nghĩa chương (3 quyển)...
[1] Bồ-đề-lưu-chi 菩提流支 Hd: Đạo Hi. Cao tăng thời Bắc Ngụy, người Bắc Thiên Trúc, là học giả hệ Du-già của Đại thừa, bẩm tính thông minh, thông cả Tam tạng, tinh thông chú thuật, sớm có chí hoằng pháp. Sư dịch tự Phạn sang Hán gồm có 39 bộ, 127 quyển như Thập địa kinh luận, kinh Kim cương bát-nhã, kinh Phật danh, kinh Pháp tập…
[2] Đàm Loan 曇鸞 (476-542): Cao tăng Trung Quốc, thuộc tông Tịnh Độ, sống vào đời Nam Bắc Triều, người Nhạn Môn huyện Đại, Sơn Tây. Nhật Bản tôn Ngài làm Sơ tổ trong 5 vị tổ của tông Tịnh Độ. Sư trụ trì ở chùa Huyền Trung, Phần Châu. Sư thường đến núi phía Nam núi Giới Sơn giảng kinh, xiển dương pháp môn niệm Phật. Sư là học giả nổi tiếng về Tứ luận. Tác phẩm: Vãng sanh luận chú 2 quyển, Tán A-di-đà kệ.



phương Bắc lấy Phần Châu và Tinh Châu… làm trung tâm, xuất hiện số lượng người theo tín ngưỡng Tịnh độ rất đông.
        Thời kỳ Nam Bắc Triều trở về sau, tín ngưỡng Tịnh độ lại được lưu truyền khắp các nơi. Đồng thời, công tác nghiên cứu kinh điển Tịnh độ cũng bắt đầu phát triển. Như các Sư Tịnh Ảnh Huệ Viễn[1], Linh Hựu, Cát Tạng[2], Pháp Thường[3]… lần lượt biên soạn các bộ sớ cho kinh Vô Lượng Thọ và Quán kinh; các sư Trí Khải[4], Đạo Cơ[5], Trí Nghiễm[6]… cũng soạn sách bàn về cuộc đời và sự nghiệp
 

[1] Tịnh Ảnh Huệ Viễn 淨影慧遠 (523-592) Cg: Tùy Viễn, Tiểu Viễn, Đại Viễn, Bắc Viễn. Danh tăng Trung Quốc, thuộc phái Nam Đạo, tông Địa Luận, sống vào đời Tùy, họ Lí, người Đôn Hoàng. Vì Sư trụ trì chùa Tịnh Ảnh nên còn gọi là Tịnh Ảnh tự  Huệ Viễn. Tác phẩm của Sư như Đại thừa nghĩa chương…
[2] Cát Tạng吉藏 (549-623): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Tùy, họ An tên Thế, quê ở Kim Lăng, tổ tiên là người An-tức, dân tộc Hồ, sau dời về đất Kim Lăng, nên gọi là An Cát Tạng hay Hồ Cát Tạng. Suốt cuộc đời Sư giảng Tam luận hơn 100 lần, kinh Pháp hoa hơn 300 lần, các kinh Đại phẩm, Hoa nghiêm, Duy-ma, luận Trí độ, mỗi thứ mấy mươi lần. Sư trước tác rất nhiều tác phẩm.
[3] Pháp Thường 法常 (567-645): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường họ Trương, người Bạch Thủy, Nam Dương (nay tỉnh Hà Nam). Tác phẩm: Nhiếp Đại thừa luận nghĩa sớ (8 quyển), Quán Vô Lượng Thọ kinh sớ (1 quyển)…
[4] Trí Khải 智顗 (537-597): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Tùy người ở Hoa Dung, thuộc Kinh Châu, họ Trần, tự Đức An, người đời gọi là Trí Giả Đại sư, là khai Tổ tông Thiên Thai. Tác phẩm: Pháp hoa sớ, Tịnh Danh sớ, Ma-ha-chỉ quán, Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh sớ…
[5] Đạo Cơ 道基 (?-637): Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Đường, họ Lữ, người huyện Đông Bình, tỉnh Hà Nam. Tác phẩm: Tạp tâm huyền chương tinh sao, Đại thừa chương sao.
[6] Trí Nghiễm智儼 (602-668): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người ở Thiên Thủy, họ Triệu, Tổ thứ 2 tông Hoa Nghiêm,
 
của Đức Phật. Các Sư trong các tông phái khác như tông Địa Luận[1], tông Nhiếp Luận[2]… đã triển khai trình bày các vấn đề về tín ngưỡng Tịnh độ như  phân loại Tịnh độ, các bậc vãng sanh, có thể vãng sanh được hay không và nhân vãng sanh, phương pháp tu hành của Tịnh độ… thúc đẩy hình thành tông Tịnh Độ và lưu truyền tư tưởng Tịnh độ.
        Đại sư Đạo Xước là một trong những vị sáng lập tông Tịnh Độ, đã triển khai hoạt động truyền giáo trong thời điểm đó.
        Đạo Xước họ Vệ, người Tinh Châu, Vấn Thủy (nay huyện Văn Thủy, Sơn Tây). Năm 14 tuổi, Sư xuất gia, tôn thờ ngài Huệ Toản[3] chùa Khai Hóa, Thái Nguyên, nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Về sau, Sư ở chùa Huyền Trung, Thạch Bích gặp được tấm bia của pháp sư Đàm Loan, sanh tâm ngưỡng mộ rồi mới chuyên hoằng dương Tịnh Độ. Bấy
_________________________
hiệu là Chí Tướng Đại sư, Vân Hoa Tôn giả. Tác phẩm: Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh thám huyền phận tể thông trí phương quỉ (10 quyển), Vô tính nhiếp luận sớ…
[1] Tông Địa Luận 地論宗 Cg: Địa Luận gia, Địa Luận học phái Một tông phái thuộc Đại thừa, y cứ vào Thập địa kinh luận của ngài Thế Thân mà chủ trương thuyết Như Lai tạng duyên khởi. Người hoằng dương tư tưởng của tông này gọi là Địa Luận sư, Địa nhân.
[2] Tông Nhiếp Luận 攝論宗: Tông phái được thành lập dựa theo lậu Nhiếp Đại thừa, là tiền thân của tông Pháp Tướng. Tông này do ngài Chân Đế làm khai tổ.
[3] Huệ Toản 慧瓚: Họ Vương, người Thương Châu, sanh vào niên hiệu Thiên Bình thứ 2, thời Đông Ngụy (536), Sư xuất gia ở Định Châu (nay tỉnh Hà Bắc), sau đó Sư hoằng pháp ở chùa Khai Hóa, đệ tử của Sư có các vị nổi tiếng như Đạo Xước, Đại sư Thiện Đạo…, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 3 đời Tùy (607) Sư viên tịch ở chùa Long Trì, thọ 72 tuổi.
 
giờ, Đạo Xước hoằng dương giáo nghĩa Tịnh Độ ở vùng này. Nghe nói Sư giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ gần hai trăm lần, ‘lời chỉ rõ ý, nói rất hợp duyên, so sánh dẫn dụ, nghe nhận không sót’. Sư còn khuyên mọi người niệm danh hiệu Phật A-di-đà, dùng hạt mè, hạt đậu để đếm số, mỗi niệm mỗi tiếng đếm một hạt. Đại sư miệng tụng danh hiệu Phật, mỗi ngày được bảy vạn biến. Qua sự dốc sức hoằng dương của Sư mà hàng tu sĩ, kẻ tại gia, ngay cả đứa trẻ lên bảy ở các vùng Tấn Dương, Thái Nguyên, Vấn Thủy cũng biết niệm A-di-đà Phật.
        Trứ tác chủ yếu của Đại sư Đạo Xước có tác phẩm An lạc tập[1], 2 quyển. Tập sách này tổng cộng chia thành mười hai môn, trong mỗi môn lại chia ra nhiều mục nhỏ, dùng tư tưởng kinh Quán Vô Lượng Thọ thống nhất lại với nhau. Toàn tập sách chú trọng những luận chứng trong kinh điển, dẫn nhiều điển tích, để chứng minh tư tưởng Tịnh độ của ngài, đồng thời khuyên người đời tin theo Tịnh độ. Tông chỉ của tập sách này, một mặt muốn quét sạch các tư tưởng lý luận gây bất lợi cho việc phát triển tông Tịnh Độ, mặt khác trình bày tư tưởng Tịnh độ của ngài, để thu hút càng nhiều người tin theo. Nhưng hệ thống của tập sách này tương đối lộn xộn, về sau sư Ca Tài[2] không đồng ý đối với
 

[1] An lạc tập 安樂集: Tác phẩm có 2 quyển, do ngài Đạo Xước soạn vào đời  Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Nội dung sách này gồm 12 môn, chia giáo pháp của Đức Phật làm Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. Vì Tịnh độ môn thích ứng với chúng sanh độn căn ở đời mạt pháp, nên soạn giả đề xuất pháp môn Niệm Phật.
[2] Ca Tài迦才: Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Đường, khoảng năm 627-649, Sư đến trụ chùa Hoằng Pháp ở Trường An. Sư là tác giả của cuốn Tịnh độ luận.
 
tập sách này, cho rằng tập sách này ‘tuy dẫn rộng về các kinh, trình bày sơ lược về đạo lý nhưng văn nghĩa hỗn tạp, chương phẩm thì xáo trộn khiến cho người sau khi đọc đâm ra do dự’. Dù như thế, nhưng tập sách này vẫn là tài liệu chủ yếu để hôm nay chúng ta căn cứ nghiên cứu về tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Đạo Xước.       
      2. Thời giáo tương ưng giữa Thánh đạo môn và Tịnh độ môn
        Thuyết thời giáo tương ưng là điểm xuất phát quan trọng trong tư tưởng Tịnh độ của sư Đạo Xước. Sư cho rằng ‘thời’ và ‘giáo’ phải phối hợp lẫn nhau thì sự tu hành của Phật giáo mới đạt được thành quả. Sư phân toàn bộ Phật giáo thành Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, nhằm khích lệ cổ vũ chúng sanh trong đời ngũ trược không có Phật hiện nay, nên bỏ đi Thánh đạo môn mà quy hướng về Tịnh độ môn.
       Nguồn gốc của thuyết Thời giáo tương ưng được lưu hành từ tư tưởng đời mạt pháp. Cái gọi là tư tưởng đời mạt pháp, căn cứ theo kinh Đại tập nguyệt tạng[1] thì sau khi Đức Phật nhập diệt có năm cái năm trăm năm, phương pháp tu hành trong thời gian đó đều khác nhau.
       Trong năm trăm năm thứ nhất, các đệ tử cần phải tu
 

[1]Kinh Đại tập nguyệt tạng大集月藏經 Gt: Nguyệt tạng phần, Nguyệt tạng kinh. Cg: Đại phương đẳng Đại tập nguyệt tạng kinh, 10 quyển, do ngài Na-liên-đề-da-xá dịch vào đời Tùy, được xếp vào Đại phương đẳng Đại tập kinh, quyển 46-56 và Đại chánh tạng, tập 13. Nội dung kinh này nói về Đức Phật giáo hóa các tỳ-kheo Bồ-tát ở núi Khư-la-đế và những sự tích Đức Phật hóa độ Ma vương, Ba-tuần, a-tu-la, trời, rồng, quỉ thần, giúp họ qui y Phật pháp.
 
tập bát-nhã trí huệ, năm trăm năm thứ hai cần phải tu tập thiền định, năm trăm năm thứ ba cần phải thường đọc tụng kinh điển, nghe pháp của Phật, năm trăm năm thứ tư thì cần phải tạo lập chùa tháp, tu phước sám hối, năm trăm năm thứ năm thì trăm pháp ẩn mất, có nhiều tranh luận, rất khó tu hành.
       Tư tưởng mạt pháp đời Tùy (581-618) rất thịnh hành trong xã hội. Căn cứ theo những nghiên cứu của tăng nhân lúc đó cho rằng đời Tùy đúng là lúc bắt đầu bước vào năm trăm năm thứ tư được nói trong kinh Đại tập[1]. Đây được gọi là ‘đời ác năm trược, thời đại không có Phật’, căn cơ của chúng sanh cạn mỏng, sự tham lam của con người tràn lan, phỉ báng chánh pháp, phạm các loại tội ác. Lúc đó bắt đầu lưu hành Tam giai giáo[2], lại còn chủ trương thuyết ba thời chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp, cho rằng giáo pháp của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni có chánh pháp năm trăm năm, tượng pháp một nghìn năm năm, mạt pháp mười nghìn năm. Thời kỳ mạt pháp các kinh đều diệt hết, không còn pháp Phật ở thế gian này nữa, chúng sanh trong thế giới mờ
 

[1]Kinh Đại tập大集經 Gđ: Đại phương đẳng Đại tập kinh. Kinh, 60 quyển, do ngài Đàm-mô-sấm dịch vào thời Bắc Lương, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 13. Nội dung tập hợp những bài kinh thuộc Đại tập bộ. Trong đó ghi chép về việc Phật thuyết cho hàng Bồ-tát trong mười phương cõi Phật và các trời, rồng, quỉ thần nghe về các pháp nghĩa sâu xa vi diệu như 16 Đại bi, 32 nghiệp.
[2]Tam giai giáo三階教 Cg: Đệ tam gia thông, Tam giai thông, Phổ pháp tông. Tông phái Phật giáo do ngài Tín Hành (540-594) sáng lập vào đời Tùy, Trung Quốc, đến thời Trung Đường thì bị cấm lưu hành. Ngài Tín Hành tự xưng là Nhất thừa Bồ-tát, khởi xướng giai đoạn thứ 3 của Phật giáo, bỏ Cụ túc giới, chủ trương khổ hạnh nhẫn nhục, làm việc nặng nhọc, sống bằng việc khất thực, ngày ăn một bữa.
 
 
mịt này xem như không có một chút ánh sáng. Căn cứ theo sự suy tính này thì lúc đó cũng chính là thời kỳ mạt pháp chủ trương của Tam giai giáo.
        Từ giai đoạn thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều  trở về sau, xã hội rối ren, chia cách trong thời gian dài, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc, cho đến việc tranh quyền đoạt lợi diễn ra ác liệt trong nội bộ giai cấp thống trị. Vùng Trung Nguyên là một trong những nơi khởi nguồn của văn minh Trung Hoa, nhưng chiến tranh khói lửa trong thời gian dài gần như đã tàn phá sạch hết. Phần lớn người dân như đang sống trong địa ngục trần gian, cho đến một nhóm người thuộc giai cấp thống trị cũng thấy rằng tình hình hết sức nguy cấp nên suốt ngày lo âu sợ hãi. Thời Tùy Văn Đế tuy dốc lòng vì nước, mong muốn cai trị nhằm tạo ra bộ mặt mới, nhưng từ thời Tùy Dượng Đế thuộc đời Tùy về sau thì triều đình càng tàn bạo khốc liệt hơn nữa, cực kì xa xỉ hưởng thụ, hơn nữa lạm dụng vũ lực, không ngừng phát động chiến tranh, làm gia tăng mâu thuẫn dữ dội, sau cùng dẫn đến cuộc khởi nghĩa vĩ đại của nông dân cuối đời Tùy. Trong tình huống này, thì sự miêu tả của Phật giáo về thế giới trong thời kỳ mạt pháp, phản ánh một cách khách quan về sự đen tối trong xã hội hiện thực, vì thế dễ dàng được mọi người tiếp nhận.
        Thái Vũ Đế thời Bắc Ngụy (408-452) và thời Bắc Chu Vũ Đế  (543-578) hai lần áp dụng biện pháp nghiêm khắc diệt Phật, trong trí óc của một vài tăng nhân ký ức vẫn còn mới mẻ, nhớ lại làm cho họ vô cùng sợ hãi, cảm thấy rằng ngày diệt vong của Phật giáo sắp đến. Cảm giác sợ hãi này chính là nhân tố tâm lý để họ tiếp nhận tư tưởng mạt pháp.
Khi Đại sư Đạo Xước xuất gia gặp đúng lúc Bắc Chu Vũ Đế ra sắc lệnh phế bỏ Phật giáo và Đạo giáo. Chùa chiền tháp tượng đều bị đốt rụi, các kinh sách luận điển không còn sót lại một thứ gì cả, tăng ni bị ép phải hoàn tục số này đến mười vạn người. Tình hình này giống như thời kỳ mạt pháp đã đến, làm cho thiếu niên Đạo Xước vô cùng xúc động. Vì lẽ đó, ngay phần đầu trong tác phẩm An lạc tập, Đại sư kết hợp tư tưởng thời mạt pháp nêu ra thuyết Thời giáo tương ưng. Ngài cho rằng giáo pháp phải hợp với thời cơ thì mới dễ tu dễ ngộ, trái lại thì khó tu khó nhập. Cho nên, thời và giáo cần phải tương ưng chứ không thể trái nhau. Ngài cho rằng lúc này đúng là năm trăm năm thứ tư sau khi Đức Phật diệt độ, cho nên việc tu hành Phật đạo nên lấy tu phước, sám hối diệt tội làm chính. Nhưng phương pháp tu phước sám hối có hiệu quả nhất chính là niệm danh hiệu Phật. Ngài nói: “Nếu như cách Phật gần thì việc trước tu định, tu huệ là chánh học, việc sau (sám hối, tu phước) là kiêm; nếu như cách Phật xa thì việc sau (xưng danh) là chánh, việc trước (tu định, tu huệ) là kiêm”. Đây là bởi vì chúng sanh hiện nay cách xa thời Đức Phật, căn cơ cạn mỏng ngu muội nên không thể tu định, tu huệ được. Căn cứ theo kinh Đại tập nguyệt tạng, Ngài nói chư Phật xuất hiện ở đời có bốn phương pháp độ khắp chúng sanh: Một là dùng pháp độ chúng sanh, tức là lấy giáo nghĩa giáo hóa người thế gian. Hai là dùng thân nghiệp độ chúng sanh, tức là Đức Phật dùng các loại hình tướng của bản thân và hành động của bản thân để cảm hóa chúng sanh. Ba là dùng sức thần thông để độ chúng sanh, tức là Phật dùng các loại thần thông sẵn có của Ngài làm cho chúng sanh được độ. Bốn là dùng danh hiệu để độ chúng
sanh, tức là chúng sanh chuyên tâm niệm danh hiệu Phật khiến cho nghiệp chướng tiêu trừ và được lợi ích. Ngài cho rằng xưng niệm danh có hiệu quả rất lớn, ‘nếu niệm một câu A-di-đà Phật thì có thể trừ được tám mươi ức kiếp tội trong sanh tử’. Một niệm mà còn có công năng như vậy thì huống gì thường tu niệm? Vì thế, vào đời ác ngũ trược, ‘thời’ không có Phật và ‘giáo’ là xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hy vọng vãng sanh Tây phương Tịnh độ là tương ưng với nhau.
        Nói theo thuyết Thời giáo tương ưng thì ngài Đạo Xước đưa ra quan điểm Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, chia tất cả giáo pháp của Phật ra làm hai môn lớn là Thánh đạo và Tịnh độ. Ngài cho rằng ở trong thế gian này nương vào tự lực mà tu hành để đoạn hoặc chứng lý, nhập thánh chứng quả, đây gọi là Thánh đạo môn. Nhưng nếu xưng niệm danh hiệu Phật và nương vào sức bản nguyện của Phật A-di-đà thì được vãng sanh Tịnh độ, được bất thoái chuyển, sau đó tiến lên một bước nữa là thành Phật chứng quả, đây gọi là Tịnh độ môn.
        Kinh Đại tập nguyệt tạng nói: “Trong đời mạt pháp, ức vạn chúng sanh khởi hạnh tu hành chưa có một người đắc đạo, chỉ có một môn Tịnh độ mới có thể là con đường lớn cho tất cả mọi người vào”. Căn cứ theo kinh này, Đại sư Đạo Xước cho rằng đời hiện tại cách Phật rất xa, hơn nữa nghĩa lý của pháp Phật thì rất vi diệu sâu xa, chẳng phải kẻ có căn cơ cạn mỏng ngu muội mà có thể hiểu được, cho nên chúng sanh thời nay rất khó tu chứng Thánh đạo môn.
        Các tông phái Đại thừa của Thánh đạo môn, yêu cầu
hành giả phải tu tâm chứng ngộ được lý Chân như[1], Thật tướng[2], Đệ nhất nghĩa không[3], nhưng chúng sanh căn cơ thấp kém ngu muội như hiện nay thì hoàn toàn không có tâm trí huệ này.
        Tông phái Tiểu thừa thì yêu cầu hành giả phải kiến đế[4] tu đạo[5], cần phải đoạn trừ năm loại kết hoặc của Dục giới như tham, sân, thân kiến, giới thủ, nghi; đoạn trừ năm loại phiền não của Sắc giới là Sắc ái, Vô sắc ái, điệu, mạn, vô minh, thì mới có thể vượt thoát ba cõi, chứng quả A-la-hán[6]. Nhưng thời mạt pháp, bất luận là người xuất gia
 

[1] Chân như眞如Cg: Như như, Như thật, Pháp giới, Pháp tánh, Thật tế, Thật tướng, Như Lai tạng, Pháp thân, Phật tánh, Tự tánh thanh tịnh tâm, Nhất tâm, Bất tư nghị giới. Bản thể chân thật trùm khắp cả vũ trụ, nguồn gốc của tất cả vạn hữu.
[2] Thật tướng實相: Bản thể, thật thể, chân tướng, bản tính… của sự vật, sau chuyển sang chỉ cho thể tướng chân thật bất hư của tất cả vạn pháp hoặc lí pháp chân thật, lí bất biến, chân như, pháp tánh.
[3] Đệ nhất nghĩa không第一義空Cg: Thắng nghĩa không, Chân thật không. Nghĩa không tột cùng của các pháp, là 1 trong 8 không.
[4] Kiến đế見諦 Cg: Kiến đạo, Kiến đế đạo. Giai vị tu hành dùng trí vô lậu quán sát Tứ đế để thấy được chân lý. Một trong Tam đạo. Từ  Kiến đạo trở về trước là phàm phu, từ Kiến đạo trở về sau là bậc Thánh.
[5] Tu đạo 修道 Cg: Hữu học đạo. Tu hành theo pháp môn để đoạn trừ phiền não và được an lạc. Theo Tiểu thừa giải thích về từ ngữ Tu đạo: sau khi đoạn hết các hoặc ở giai vị Kiến đạo, hành giả khởi trí vô lậu, sơ chứng chân lý Tứ đế, rồi đoạn trừ 81 phẩm Tu hoặc trong 3 cõi, gọi là Tu đạo.
[6] A-la-hán阿羅漢 Hd: Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sanh, Vô sanh, Vô học, Chân nhân. Cg: A-lô-hán, A-la-ha, A-lê-ha, Át-la-hạt-đế. Gt: La-hán, La-ha. Bậc thánh đã đoạn hết kiến hoặc, tư hoặc trong 3 cõi, chứng được Tận trí, xứng đáng nhận tất cả sự cúng dường của thế gian; 1 trong 4 quả thanh-văn, 1 trong 10 đức hiệu của Như Lai.
 
hay kẻ tại gia đều khó đạt đến trình độ tu hành này. Vì thế, ngài chủ trương tất cả chúng sanh đều nên quay về với Tịnh độ. Bởi vì pháp môn Tịnh Độ hoàn toàn chẳng dựa vào tự lực để tu hành mà là nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà mà tu. ‘Dù cho cả đời tạo ác chỉ cần có thể buộc ý chuyên tinh, thường xuyên niệm Phật thì tất cả các tội chướng tự nhiên tiêu trừ, nhất định được vãng sanh’. Pháp môn Tịnh Độ này là phương pháp dễ thực hành thích hợp với căn cơ thấp kém ngu muội trong thời mạt pháp. Ngài nói: “Nay tôi khuyên tất cả mọi người nên quy hướng về Cực Lạc, đem tất cả việc làm của mình đều hồi hướng về cõi kia, chỉ cần chuyên tâm, khi mạng sống hết thì chắc chắn vãng sanh Cực Lạc, rốt ráo thanh tịnh, thế sao không gọi là pháp môn dễ thực hành được chứ?”.
       Thuyết Nan hành đạo[1] và Dị hành đạo[2] có nguồn gốc từ tác phẩm Thập trụ tỳ-bà-sa luận của Bồ-tát Long Thọ. Bộ luận này nói, cầu được A-tì-bạt-trí (tức là bất thoái chuyển), thì có hai con đường: Nan hành và Dị hành. Nhưng trong đời ác ngũ trược này, lúc không còn Phật nữa mà cầu A-tì-bạt-trí gọi là Nan hành đạo. Đây là do thời này có ngoại đạo lưu hành, làm nhiễu loạn chánh pháp của Bồ-tát lưu hành ở thế gian; pháp tu tự lợi của hàng Thanh văn Tiểu thừa làm trở ngại hạnh đại từ bi của Bồ-tát; lại
 

[1] Nan hành đạo 難行道: Đạo khó tu, là một trong hai đạo do Bồ-tát Long Thọ phán định, đối lại với Dị hành đạo. Ở cõi này tinh tấn tu hành tích công lũy đức, trải qua hàng nghìn kiếp mới đắc quả, nên gọi là Nan hành đạo.
[2] Dị hành đạo易行道: Đạo dễ tu, chỉ cần nương vào bản nguyện tha lực của Phật A-di-đà mà niệm thì nhất định vãng sanh Tịnh độ, ở cõi kia một đời thành Phật, gọi là Dị hành đạo.
 
có những người ác phá hoại thắng đức của Bồ-tát…, cho nên không nương vào tha lực mà hoàn toàn dựa vào tự lực để tu hành thì rất khó chứng đắc. Trái ngược với tự lực thì nhờ tin vào nhân duyên Phật mà phát nguyện vãng sanh Tịnh độ, niệm danh hiệu Phật, nương vào nguyện lực của Phật mà được vãng sanh Tịnh độ, nhờ Phật lực mà được bất thoái chuyển, đây gọi là Dị hành đạo. Căn cứ theo Bồ-tát Long Thọ nói, thì Nan hành đạo giống như người đi bộ trên đường rất là gian nan, còn Dị hành đạo tựa như người đi thuyền rất là dễ dàng.
       Trong tác phẩm Vãng sanh luận chú của Đại sư Đàm Loan có trích dẫn và phát huy thuyết Nan hành đạo này. Hai con đường Nan hành và Dị hành mà Bồ-tát Long Thọ nói, đều tu hành trong cõi này. Đại sư Đàm Loan thì nhấn mạnh sự khác biệt giữa cõi Ta-bà và cõi Tịnh độ, lấy Tịnh độ làm điều kiện tất yếu để đắc bất thoái chuyển, bởi thế xuất hiện tính trọng yếu của việc vãng sanh Tịnh độ. Niệm danh hiệu Phật của Bồ-tát Long Thọ là xưng danh hiệu của các vị Bồ-tát và các Đức Phật trong mười phương như Phật Thiện Đức ở phương Đông. Đại sư Đàm Loan nói cần phải qui hướng về một Đức Phật A-di-đà, lại còn nhấn mạnh nương vào bản nguyện tha lực của Phật A-di-đà, do nguyện lực của Phật A-di-đà nên chúng sanh chắc chắn được vãng sanh và được bất thoái chuyển. Như vậy, Đại sư Đàm Loan đưa ra thuyết bản nguyện tha lực, khiến cho nó trở thành đặc trưng rất lớn trong Tịnh Độ giáo.       
        Đại sư Đạo Xước kế thừa thuyết Nan hành đạo và Dị hành đạo của ngài Đàm Loan. Đại môn thứ ba trong tác
phẩm An lạc tập, Đại sư chuyên luận về thuyết Nan hành đạo và Dị hành đạo, ở đại môn thứ năm, ngài còn so sánh về hai đạo này để khuyên chúng sanh tu theo Dị hành đạo. Ngài còn tiến thêm một bước nữa là đem thuyết Nan hành, Dị hành và thuyết Thời giáo tương ưng để phối hợp lại với nhau, nêu ra ý nghĩa của hai môn Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, từ đó phát triển tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Đàm Loan.
      3. Luận về Báo thân Tịnh độ, phàm thánh đều được vãng sanh
       Trong kinh điển Phật giáo Đại thừa có trình bày về Tịnh độ của chư Phật, nhưng các tông phái của Phật giáo có quan điểm khác nhau đối với Tịnh độ, vì thế mà có những tranh luận. Việc vãng sanh Tịnh độ, hy vọng cuối cùng tu đạo thành Phật ở trong Tịnh độ, đối với những người không tin giáo pháp của Phật mà nói thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Nhưng mà, đối với người tín ngưỡng tư tưởng Tịnh độ mà nói thì đây chính là vấn đề rất quan trọng. Mục đích cao nhất trong sự tu tập của Phật giáo Đại thừa là để thành Phật, thành Bồ-tát. Tông Tịnh Độ cho rằng vãng sanh Tịnh độ là điều kiện trọng yếu để đạt đến mục đích này. Vì thế, những vấn đề như vãng sanh Tịnh độ rốt ráo phải chăng có thể được, loại Tịnh độ này thuộc về tính chất gì, Phật làm giáo chủ trong Tịnh độ này có thân phận gì, những người nào có thể vãng sanh Tịnh độ…tạo nên rất nhiều sự quan tâm của tín đồ Phật giáo.
        Trước Đại sư Đạo Xước có rất nhiều tăng nhân từng trình bày và phân tích qua những vấn đế đề này. Thời Nam
Triều có tăng nhân nổi tiếng là Trúc Đạo Sanh[1] đã từng tuyên dương về quan điểm ‘pháp thân không sắc, Phật không Tịnh độ’. Xuất phát từ góc độ Thật tướng Bát-nhã, Sư cho rằng pháp thân Phật chính là sự thể hiện của Thật tướng Bát-nhã, ngoài ra thì không có sự tồn tại của năm ấm hòa hợp, để tạo nên Đức Phật của thực thể tự ngã. Tất cả chúng sanh đều có thể tính này, chỉ cần Phật tánh chúng sanh hòa hợp bản thể với Thật tướng Bát-nhã thì chúng sanh tức là Phật, nếu lìa hai cái này thì chẳng có vị Phật khác nào cả. Vì thế, nên cũng không có sự ‘tồn tại’ cái gọi là ‘Tịnh độ’ lìa khỏi thế giới hiện thực (uế độ). ‘Tịnh không ô nhiễm chính là nghĩa vô Độ (không có cõi Tịnh độ), tạm thời nói Độ là vô hình vô tướng, cho nên gọi là Tịnh độ’. Đạo Sanh cho rằng cái gọi là Tịnh độ là do Đức Phật vì giáo hóa chúng sanh nên mới dùng phương tiện hiện ra, khiến cho chúng sanh tôn kính, khởi tâm tín ngưỡng mà nói có Tịnh độ.
        Vào thời Tùy Đường, các tông phái trong Phật giáo có quan điểm như sau về Phật thân và Tịnh độ: 1. Coi Tịnh độ chư Phật là ‘Sự tịnh thô quốc’ là nơi hàng phàm phu vãng sanh, như các ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Thiên Thai Trí Khải, Tam Luận Cát Tạng... đều chủ trương như vậy. 2. Coi Tịnh độ chư Phật là Báo độ, là cõi nước của Phật và Bồ-tát đang sanh hoạt, chúng sanh thường không thể vãng sanh. Phần lớn các nhà Nhiếp luận sư đều chủ
 

[1] Trúc Đạo Sanh竺道生Cg: Đạo Sanh. Cao tăng trung Quốc, sống vào đời Đông Tấn, người Cự Lộc (nay là huyện Bình Dương, tỉnh Hà Bắc), họ Ngụy, cư ngụ ở Bành Thành, là một học giả kinh Niết-bàn. Tác phẩm: Luận Nhị đế, luận Pháp thân vô sắc, luận Phật tánh đương hữu…
 
trương cách nói này. 3.Cho rằng các cõi Tịnh độ có Báo độ và Hóa độ, hàng thánh nhân ở các Địa sanh về Báo độ, hàng phàm phu và Nhị thừa đều sanh về Hóa độ. Quan điểm này tuy có chỗ khác nhau nhưng cùng có một điểm giống nhau chính là không thừa nhận hàng phàm phu có thể vãng sanh về Báo độ.
         Rõ ràng là, những quan điểm này khác biệt rất lớn đối với ý chỉ lập tông của tông Tịnh Độ. Những quan điểm này tồn tại đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển và lưu hành của tín ngưỡng Tịnh độ. Đại sư Đạo Xước là hành giả Tịnh độ, trong tình huống này, Sư muốn có điểm tựa vững chắc trên mặt lý luận, đồng thời muốn thu hút nhiều tín đồ trong xã hội hơn nữa, ắt phải quét sạch những sự trở ngại cản trở sự phát triển lưu hành tư tưởng Tịnh độ, xây dựng Tịnh độ luận và Phật thân luận của riêng mình. Vì thế, trong tác phẩm An lạc tập, Đại sư Đạo Xước đã nêu ra thuyết Báo thân Tịnh độ mà hàng phàm phu và thánh nhân đều được vãng sanh.
         Căn cứ vào kinh Đại thừa đồng tính[1], Đại sư Đạo Xước phân Phật thân thành Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Pháp thân là Chân thân Như Lai không sắc không hình, không hiện không ẩn, không sanh không diệt. Hóa thân là chỉ cho Phật thân đã thành hoặc sẽ thành ở ‘trong đời
 

[1] Kinh Đại thừa đồng tính 大乘同性經 Cg: Đồng tính kinh, Phật thập địa kinh, Nhất thiết Phật hạnh nhập trí Tỳ-lô-giá-na tạng kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Xà-na-da-xá dịch vào đời Bắc Chu, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 16. Nội dung việc Đức Phật khi ở núi Tinh Diệu Đại-ma-la-đa giảng cho vua La-sát thành Lăng-già nghe về pháp môn Thập địa Đại thừa đồng tính của Như Lai, nhân vua hỏi về danh nghĩa và nghiệp của chúng sanh.
 
uế trược này’ là Phật thân hiện ra để giáo hóa chúng sanh. Báo thân tức là Đức Phật trụ trong cõi thanh tịnh như Phật A-di-đà, Phật Bảo Đức… Trong kinh Đại thừa đồng tính nói: “Bậc thành Phật trong Tịnh độ là Báo thân, bậc thành Phật trong Uế độ là Hóa thân”. Đại sư Đạo Xước cho rằng Tây phương Tịnh độ là cõi nước được thành tựu do nguyện hạnh của tỳ-kheo Pháp Tạng. Phật A-di-đà là tỳ-kheo Pháp Tạng sau khi thực hành viên mãn hạnh nguyện đã thành Phật. Vì thế, ‘hiện tại Phật A-di-đà là Báo Phật, cõi báu trang nghiêm Cực Lạc là Báo độ’. Đại sư Đạo Xước không đồng ý với quan điểm của các Sư xưa nay cho rằng Phật A-di-đà là Hóa thân, Tịnh độ Cực Lạc là Hóa độ. Đại sư nói: “Xưa kia tương truyền đều nói Phật A-di-đà là Hóa thân, Tịnh độ  là Hóa độ. Đấy là một sai lầm lớn”. Ngài cho rằng nếu như Uế độ cũng là chỗ cư trú của Phật Hóa thân, thì Tịnh độ cũng là chỗ cư trú của Phật Hóa thân, như vậy thì Báo thân của Như Lai rốt cuộc ở cõi nước nào vậy?           
        Báo thân thường trụ không diệt, nhưng trong kinh Quán Thế Âm Bồ-tát thọ ký[1] nói: “Khi tuổi thọ hết, Phật A-di-đà nhập Niết-bàn[2], thì Bồ-tát Quán Âm tiếp nối chỗ Ngài mà thành Phật”. Phật A-di-đà cũng có lúc nhập diệt, chẳng phải
 

[1] Kinh Quán Thế Âm Bồ-tát thọ ký 觀世音菩薩授紀經: Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm-vô-kiệt dịch vào đời Lưu Tống, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 12. Nội dung kinh này trước là nói Đức Phật ngự trong vườn Lộc uyển nước Ba-la-nại nói về việc dùng pháp vô y chỉ để được tam-muội Như Huyễn cho Bồ-tát Hoa Đức tạng nghe, các ngài Di Lặc, Văn-thù… và 2 vị Bồ-tát Quan Âm và Thế Chí ở cõi nước An Lạc đều chứng được tam-muội này.
[2] Niết-bàn 涅槃 Cg: Nê-hoàn, Niết-bàn-na, Nê-phạ-nam, Nặc-phạ-nam, Nế-viết. Hd: Diệt, Tịch, Vô danh, Tịch diệt, An lạc, Giải thoát, Vô vi. Có nghĩa là ngọn lửa phiền não đã bị dập tắt, để đạt đến cảnh giới giác ngộ.
 
là mâu thuẫn với thuyết Báo thân đấy sao? Đối với vấn đề này, ngài Đạo Xước cho rằng đây là Phật A-di-đà thị hiện ‘tướng ẩn mất’, hoàn toàn chẳng phải Báo thân Phật diệt độ. Bởi vì kinh này còn nói, sau khi Đức Phật A-di-đà nhập Niết-bàn thì người có căn cơ sâu dày vẫn có thể nhìn thấy được Ngài, chứng minh Ngài hoàn toàn không diệt độ. Đạo Xước còn dẫn Bảo tính luận nói: Báo thân có năm tướng, trong năm tướng này, có tướng ‘nghỉ ngơi ẩn mất’, vì thế Phật A-di-đà chỉ tạm thời ‘nghỉ ngơi’ mà thôi.
        Lại kinh Cổ âm[1] từng nói Đức Phật A-di-đà có cha mẹ, nếu như là Báo Phật, Báo độ thì không nên có những việc thọ thai và giáng sanh. Đối với vấn đề này, Đạo Xước giải thích rằng Phật A-di-đà đồng thời có đủ ba loại thân như Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, thân xuất hiện trong Tịnh độ là Báo thân, trong Uế độ thì thị hiện tướng Hóa thân, cho nên có cha mẹ, thọ thai, giáng sanh… Như Phật Thích-ca-mâu-ni ở trong Tịnh độ thành Báo Phật, đến thế giới chúng ta thì thị hiện Hóa thân, cho nên có cha mẹ, có giáng sanh…    
        Đạo Xước cho rằng do nguyện lực rộng lớn của Phật A-di-đà, nên Tây phương Tịnh độ ‘bao gồm cả căn cơ thượng hạ, phàm thánh đều được vãng sanh’, ‘khiến cho hàng phàm phu thiện và Bồ-tát ở các Địa trở lên đều được vãng sanh’.
 

[1] Kinh Cổ âm 鼓音經 Gđ: Kinh A-di-đà cổ âm thanh vương đà-la-ni. Kinh, 1 quyển, được xếp vào Đại chánh tạng tập 12. Nội dung kinh này trình bày việc Đức Phật ở đại thành Chiêm-ba nói cho các vị Tỳ-kheo nghe về thế giới Cực Lạc ở phương Tây cùng công đức trang nghiêm của Phật A-di-đà. Cõi nước Phật A-di-đà tên là Thanh Thái, cha tên là Nguyệt Thượng, mẹ tên là Thù Thắng Diệu Nhan, con tên là Nguyệt Minh, thị giả tên Vô Cấu Xưng, đệ tử trí huệ tên là Hiền Quang.
 
        Đạo Xước cho rằng Tịnh độ Cực Lạc là Báo độ, phê bình thuyết Hóa Phật Hóa độ của các vị Sư trước đây, xác lập địa vị của tín ngưỡng Tịnh độ trong Phật giáo Đại thừa, đặt nền tảng tư tưởng lý luận cho tông Tịnh Độ. Ngài chủ trương Tịnh độ Cực Lạc bao gồm cả căn cơ thượng hạ, phàm thánh đều được vãng sanh, khiến cho dân chúng trong xã hội đều có sự hy vọng vãng sanh Tịnh độ như nhau, mở rộng cơ sở quần chúng về tín ngưỡng Tịnh độ. Về sau đệ tử của ngài là Đại sư Thiện Đạo tiến thêm một bước nữa phát huy tư tưởng này, nêu ra thuyết Phàm nhập Báo độ, cho rằng nhờ nguyện lực mạnh mẽ của Phật A-di-đà nên khiến cho Năm thừa[1] đều vào, dù cho hàng phàm phu tội ác sâu nặng cũng có thể sanh về Báo độ của Phật. Do đó đẩy mạnh việc truyền bá tông Tịnh Độ đến với người dân ở những giai cấp thấp, sau cùng trở thành một tông phái lớn trong Phật giáo Trung Quốc.         
       4.  Thuyết sanh nhân Phát bồ-đề tâm và Niệm Phật tam-muội
         Nói ‘sanh nhân’ tức là chỉ cho điều kiện và phương pháp tu hành cần thiết cho việc vãng sanh Tịnh độ. Phật giáo nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả, gọi cảnh giới tôn giáo và địa vị tu hành đạt được thông qua thực tiễn tu tập trong tôn giáo là ‘chứng quả’, ‘đắc quả’, điều kiện để đạt được ‘quả’ này thì gọi là ‘nhân’. Do nhân mà được quả, quả nhất định
 

[1] Năm thừa (Ngũ thừa五乘): Năm pháp môn tu hành dẫn dắt, dụ cho 5 phương tiện vận chuyển chúng sanh đến thế giới an lạc, có rất nhiều thuyết nói về Ngũ thừa. Theo nghĩa thông thường, Ngũ thừa: Nhân thừa, thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa.
 
phải có nhân. Vì thế, muốn được quả vãng sanh Tịnh độ, thì nhất định phải có nhân vãng sanh. Đạo Xước cho rằng muốn vãng sanh Tịnh độ, ngoài việc thường tu hành ra thì Phát bồ-đề tâm và Niệm Phật tam-muội là điệu kiện quan trọng nhất.
        ‘Phàm muốn vãng sanh Tịnh độ, cần phải phát bồ-đề tâm là cội nguồn’. Bồ-đề tâm tức là chỉ cho tâm vô thượng cứu cánh Phật đạo. Đạo Xước cho rằng tâm này vô cùng rộng lớn, biến khắp vũ trụ giống như hư không. Nếu có thể phát tâm bồ-đề này thì sẽ vượt qua hàng phàm phu nhập vào bậc thánh, giải thoát sanh tử luân hồi từ vô thỉ đến nay. Ngài cho rằng bồ-đề có Pháp thân bồ-đề, Báo thân bồ-đề và Hóa thân bồ-đề. Pháp thân bồ-đề tức là Chân như Thật tướng, Đệ nhất nghĩa không, thể ấy là tự tánh thanh tịnh, không có nhiễm ô. Báo thân bồ-đề tức là quả báo do tu đầy đủ lục độ vạn hạnh mà cảm được, thể ấy là viên thông vô ngại. Hóa thân bồ-đề tức là dụng của báo thể, hợp với muôn căn cơ, làm lợi ích chúng sanh. Người tin theo tông Tịnh Độ, do căn cơ của họ khác nhau, phát bồ-đề tâm cũng có ba loại tương ưng với ba thân bồ-đề này. Một là hiểu được nghĩa lý tự tánh xưa nay vốn thanh tịnh, tương ưng với Pháp thân bồ đề. Hai là nhờ vào tu lục độ vạn hạnh và tám vạn bốn nghìn ba-la-mật, tương ưng với Báo thân bồ đề. Ba là lấy đại từ bi làm gốc, luôn độ chúng sanh, tương ưng với Hóa thân bồ đề. Ngài cho rằng nhân của ba loại phát tâm này tương ưng với đại bồ-đề, cho nên gọi là Phát bồ-đề tâm. Phát bồ-đề tâm chính là tâm nguyện làm Phật, tâm độ chúng sanh, vãng sanh Tịnh độ ắt phải phát tâm tương ưng với ba thân  bồ đề này.
Đạo Xước cho rằng Phát tâm bồ-đề là chánh nhân vãng sanh Tịnh độ, hơn nữa yêu cầu mọi người phải hiểu, chánh thể của Bát-nhã không thể lấy tướng để cầu, nhưng dùng giả danh để tu tập vạn hạnh. Ngài dẫn chứng trong Đại trí độ luận[1] nói: “Nếu người nào thấy Bát-nhã thì trói buộc, nếu không thấy Bát-nhã thì cũng bị trói buộc. Nếu người thấy Bát-nhã thì giải thoát, nếu không thấy Bát-nhã thì cũng là giải thoát”, nêu ra ‘chỉ có thể tu hành như vậy thì tức là không tu mà tu. Người không tu mà tu thì không trái với đạo lý Nhị đế’[2]. Do đó có thể thấy, ngài Đạo Xước tuy đem giáo pháp của Phật chia làm hai môn Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, đồng thời coi Tịnh độ môn là Dị hành đạo hợp với căn cơ thời thế để khuyên mọi người quy hướng về Tịnh độ môn, nhưng ngài vẫn chưa hoàn toàn bài xích Thánh đạo môn. Quan điểm Phát bồ-đề tâm của ngài là chánh nhân của Tịnh độ, chính là nói rõ ngài vẫn chưa thoát khỏi sự ảnh hưởng của Thánh đạo môn. 
         Đạo Xước cho rằng tu trì Niệm Phật tam-muội cũng là điều kiện trọng yếu của sự vãng sanh Tịnh độ. Nói Niệm Phật tam-muội, chính là loại bỏ tất cả tạp niệm, chuyên tâm buộc niệm vào hình tướng Phật, hoặc là miệng xưng niệm danh hiệu Phật thì liền có thể thấy được Đức Phật hiện ra trước mắt, sau khi chết vãng sanh cõi nước của Phật A-di-đà. Niệm Phật tam-muội thì vào được nước Tôi tương đối
 

[1] Luận Đại trí độ大智度論 Cg: Đại trí độ kinh luận, Ma-ha bát-nhã thích luận, Đại trí thích luận, Thích luận, Trí độ luận, Trí luận, Đại luận, 100 quyển, do Bồ-tát Long Thọ soạn, ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Hậu Tần, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 25. Nội dung luận này giải thích kinh Đại phẩm bát-nhã.
[2] Nhị đế二:諦Chân đế và Tục đế.
 
sớm hơn. Trong kinh Bát chu tam-muội[1]được dịch từ thời Hán, có nói Bồ-tát Bạt-đà-hòa, do thường niệm Phật A-di-đà nên sau đó thấy Phật hiện ra trước mắt. Căn cứ theo kinh này, “hoặc một ngày một đêm cho đến bảy ngày bảy đêm một lòng niệm chư Phật trong mười phương, thì có thể ở trong định thấy được Phật”.
         Pháp sư Huệ Viễn đời Đông Tấn theo kinh này mà tu hành Niệm Phật tam-muội. Niệm Phật tam-muội vào thời Nam Bắc Triều có ảnh hưởng rất lớn. Trong tác phẩm An lạc tập, ngài Đạo Xước dẫn chứng nhiều kinh điển như kinh Niết-bàn, Quán kinh, kinh Bát-chu, kinh Hoa nghiêm, kinh Hải long vương[2], kinh Bảo vân[3] và Đại trí độ luận…để nói rõ tầm quan trọng của Niệm Phật tam-muội đối với việc vãng sanh Tịnh độ. Đạo Xước còn cho rằng Niệm Phật tam-muội so
 

[1] Kinh Bát-chu tam-muội 般舟三昧經 Cg: Thập phương hiện tại Phật tất tại tiền lập định kinh, 3 quyển, do ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch vào thời Đông Hán, đời vua Linh Đế, năm 179, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 13. Toàn bộ kinh phân thành 16 phẩm. Nội dung nói Đức Phật thuyết pháp môn niệm Phật thuận theo lời thỉnh cầu của Bồ-tát Hiền Hộ.
[2] Kinh Hải Long vương 海龍王經: Kinh, 4 quyển, 20 phẩm do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 15. Nội dung kinh này nói sơ lược về việc Đức Phật ở núi Linh Thứu, thành Vương Xá thuyết giảng cho Hải Long vương nghe về pháp tu của Bồ-tát như Lục độ, thập đức… Phật còn dạy tất cả phụ nữ, rồng, a-tu-la v.v., đều được thành Phật.
[3] Kinh Bảo vân 寶雲經: Kinh, 7 quyển do ngài Mạn-đà-la-tiên dịch vào thời Lương, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 16. Nội dung kinh này nói rõ về những đức hạnh mà Bồ-tát cần phải có đầy đủ, như Bồ-tát Trừ Chướng Cái đến thế giới Ta-bà này đem 102 câu hỏi để thỉnh giáo Đức Phật, Phật mới dùng 10 pháp để đáp lại và chỉ dạy cho hàng Bồ-tát.
 
với các loại tam-muội khác thì có rất nhiều lợi ích. Các loại tam-muội khác đều có tính phụ trợ, hoặc là để đối trị tham dục, hoặc đối trị sân si. Niệm Phật tam-muội không những trị tất cả các chướng ngại mà còn có thể tiêu trừ tất cả các tội chướng ở thời quá khứ và vị lai. Ngoài ra, ngài Đạo Xước còn cho rằng công dụng của Niệm Phật tam-muội có đầy đủ tứ nhiếp pháp[1], lục độ[2], vạn hạnh, thông bạn[3] và công dụng kéo dài tuổi thọ. Vì thế, ngài cực lực khuyên mọi người tin hành Tịnh độ cần phải tu tâm Niệm Phật tam-muội.
        Đạo Xước rất coi trọng việc xưng danh niệm Phật. Khi giải thích ‘mười niệm tương tục’, ngài nói ‘niệm niệm nối nhau, không có tâm tưởng khác xen tạp… thì việc xưng danh cũng như vậy, chỉ cần chuyên tâm tương tục không gián đoạn thì nhất định sanh ở trước Phật’. Căn cứ theo sự ghi chép trong ‘Cao tăng truyện[4]’ thì lúc ngài Đạo Xước đang thuyết pháp, thính chúng ‘mỗi người tay lần chuỗi, miệng đồng niệm danh
 

[1] Tứ nhiếp pháp 四攝法 Cg: Tứ nhiếp sự, Tứ sự nhiếp pháp, Tứ tập vật. Gt: Tứ nhiếp, Tứ sự, Tứ pháp. Bốn phương pháp mà hàng Bồ-tát dùng để nhiếp thọ chúng sanh, khiến cho họ khởi tâm thân ái mà dẫn dắt họ vào Phật đạo để đạt đến khai ngộ. 1. Bố thí nhiếp, 2. Ái ngữ nhiếp, 3. Lợi hành nhiếp, 4. Đồng sự nhiếp.
[2] Lục độ 六度: Sáu phương tiện tu của hàng Bồ-tát từ bờ mê qua bờ giác. Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
[3] Thông bạn 通伴 Có nghĩa là sanh về Cực Lạc được gần gũi bậc Bồ-tát bất thoái chuyển làm bạn của nhau, không còn lui sụt, thẳng tiến đến thành Phật.
[4] Cao tăng truyện 高 僧傳: Những truyện ghi chép về các vị cao tăng được gọi là Tứ triều Cao tăng truyện. Cao tăng truyện (14 quyển) do ngài Huệ Kiểu soạn vào đời Lương, Tục Cao tăng truyện (30 quyển) do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường, Tống Cao tăng truyện (30 quyển) do ngài Tán Ninh soạn vào đời Tống, Đại Minh Cao tăng truyện (8 quyển) do ngài Như Tỉnh soạn vào đời Minh.
 
hiệu Phật, khi kết thúc buổi giảng, âm thanh niệm Phật vang cả núi rừng’. Ngài khuyên mọi người niệm danh hiệu Phật, bằng cách dùng hạt đậu để tính số câu. Ngài tự mình ‘miệng tụng danh hiệu Phật, mỗi ngày lấy bảy vạn câu làm kỳ hạn’. Do đây có thể biết, Đạo Xước cho rằng ngoài việc ức niệm quán tưởng ra, niệm Phật còn bao gồm xưng danh niệm Phật, tức là miệng tụng danh hiệu Phật. Về sau Đại sư Thiện Đạo chuyên đề xướng xưng danh niệm Phật, khiến nó trở thành phương pháp tu hành chủ yếu của tông Tịnh Độ.      
      5. Địa vị của Đại sư Đạo Xước trong giáo sử Tịnh độ Trung Quốc
        Tông Tịnh Độ khác với các tông khác, không có mối quan hệ thầy truyền trò, hay Tổ sư truyền y bát. Thuyết bảy vị Tổ, chín vị Tổ của tông Tịnh Độ, chính là do hành giả Tịnh độ sau này biên tập những người có tầm ảnh hưởng tương đối lớn trong lịch sử đối với việc phát triển lưu hành tư tưởng Tịnh độ. Ngài Tông Hiểu[1] từng lấy các vị Huệ Viễn, Đại sư Thiện Đạo[2],
 

[1] Tông Hiểu 宗曉(1151-1214): Cao tăng Trung Quốc, sống vào thời Nam Tống, người Tứ Minh (nay là huyện Ngân, tỉnh Chiết Giang), họ Vương, tự Đạt Tiên, hiệu Thạch Chi. Tác phẩm của Sư như Pháp hoa hiển ứng lục, Lạc bang văn loại, Minh lương sùng thích chí…
[2] Đại sư Thiện Đạo 善導 (631-681): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người ở Lâm Truy, tỉnh Sơn Đông, hiệu Chung Nam Đại sư, họ Châu. Sư là Tổ thứ 3 của tông Tịnh Độ. Tông Tịnh Độ do Sư xiển dương rất mạnh mẽ, và xác lập, đặc biệt được gọi là Đại sư Thiện Đạo Lưu, là một trong những điểm đặc sắc của Phật giáo đời Đường. Trứ tác của Sư: Quán kinh sớ (4 quyển), Tịnh độ Pháp sự tán (2 quyển), Quán niệm pháp môn (1 quyển), Vãng sanh lễ tán kệ (1 quyển), Bát-chu tán (1 quyển), Ngũ chủng tăng thượng duyên nghĩa (1 quyển).
 
Pháp Chiếu[1], Thiếu Khang[2], Tỉnh Thường[3], Tông Trách[4] lập ra các đời Tổ sư vãng sanh Tịnh độ. Về sau Đại sư Chí Bàn[5] trứ tác Phật Tổ thống kỷ[6] ở trong ‘Tịnh độ lập giáo chí[7]’ đổi thành các vị Huệ Viễn, Đại sư Thiện Đạo, Thừa Viễn[8], Pháp Chiếu,
 

[1] Pháp Chiếu 法照 (747-821) Cg: Ngũ Hội Pháp Sư. Cao tăng Trung Quốc, Tổ sư thứ 4 thuộc tông Tịnh Độ, sống vào đời Đường. Tác phẩm: Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi (3 quyển), Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán (1 quyển)…
[2] Thiếu Khang 少康 (?-805): Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, Tổ sư thứ 5 thuộc tông Tịnh Độ, họ Chu, người ở núi Tiên Đô thuộc Tấn Vân (nay là tỉnh Chiết Giang). Tác phẩm: Nhị thừa tứ tán (1 quyển), Thụy ứng san truyện (1 quyển).
[3] Tỉnh Thường 省常 (959-1020): Cao tăng Trung Quốc, thuộc tông Tịnh Độ, sống vào đời Tống, người ở Tiền Đường (nay là tỉnh Chiết Giang), họ Nhan, tự Tạo Vi, là Tổ thứ 7 của Liên tông.
[4] Tông Trách 宗賾 (1027-1090): Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Tống, thuộc tông Vân Môn, người ở Tương Dương, họ Tôn, thụy hiệu Từ Giác Đại sư. Tác phẩm: Thiền uyển thanh qui (10 quyển), Niệm Phật hồi hướng phát nguyện văn, bài tựa Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh…
[5] Chí Bàn 志 磐 (?-?): Danh tăng, Trung Quốc, sống vào thời Nam Tống, hiệu Đại Thạch. Sư soạn 1 thiên Tông môn tôn tổ nghi, Phật tổ thống kỷ…
[6] Phật tổ thống kỷ佛祖統紀Gt: Thống kỷ. Sử biên niên, 54 quyển, do ngài Chí Bàn soạn vào đời Nam Tống, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 49. Sách này nói rõ về truyền thống của giáo học Thiên thai, lấy 2 quyển Tông nguyên lục của ngài Cảnh Thiên đời Nam Tống và Thích môn chính thống của ngài Tông Giám làm cơ sở. Nội dung sách này viết theo thể Biên niên sử như: Bản kỉ (8 quyển), Thế gia (2 quyển), Liệt truyện (12 quyển), Biểu (2 quyển).
[7] Tịnh độ lập giáo chí 净土立教志: Phần này nằm  trong Phật tổ thống kỷ, từ quyển 26 đến quyển 28, cộng lại thành 3 quyển.
[8] Thừa Viễn 承遠 (712-802): Tổ thứ 3 của tông Tịnh Độ, Trung Quốc, sống vào đời Đường, người ở Hán Châu (nay là huyện Quảng Hán, tỉnh Tứ Xuyên), Trung Quốc, họ Tạ.
 
Thiếu Khang, Diên Thọ[1], Tỉnh Thường, thuyết này sau này thường được nhiều người y theo, và diễn biến phát triển thành bảy vị Tổ đầu tiên của tông Tịnh Độ.
        Có lẽ do sau khi sự kiện ‘Hội Xương pháp nạn’[2] thì kinh điển trong Phật giáo mấy lần bị diệt phá, khiến cho những vị Tông Hiểu, Chí Bàn không thể biết được tình huống hoạt động và tư tưởng của Đạo Xước đã từng sống ở những nơi như Trường An, Bắc bộ Sơn Tây tại Trung Quốc. Lúc họ sắp xếp thứ tự Tổ sư vãng sanh Tịnh độ, hoàn toàn chưa đề cập đến sự tích và con người của Đạo Xước, khiến cho mọi người đời sau y theo thuyết này, không mấy coi trọng ở địa vị của ngài Đạo Xước trong tông Tịnh Độ.
        Theo tên của các Tổ sư tông Tịnh Độ được Tông Hiểu và Chí Bàn sắp xếp thì đầu tiên là Huệ Viễn, kế đến là Đại sư Thiện Đạo. Nhưng Huệ Viễn ở Lô Sơn, căn cứ theo kinh Bát-chu Tam-muội hết sức đề xướng tu Niệm Phật tam-muội. Đại sư Thiện Đạo căn cứ theo Tịnh độ tam kinh mà chuyên môn chủ trương xưng danh hiệu Phật, lấy kì hạn để vãng sanh Tịnh độ. Tư tưởng Tịnh độ của hai vị hiển
 

[1] Diên Thọ 延壽 (904-975): Thiền sư Trung Quốc, sống vào thời Ngũ Đại cuối đời Đường. Tổ thứ 6 của tông Tịnh Độ, Tổ thứ 3 của tông Pháp Nhãn, họ Vương, tự Trọng Huyền, hiệu Bảo Nhất Tử, quê ở Dư Hàng, phủ Lâm An, huyện Hàng, tỉnh Chiết Giang. Tác phẩm: Tông cảnh lục (100 quyển), Vạn thiện đồng qui tập (6 quyển), Duy tâm huyết (1 quyển)…
[2] Hội Xương pháp nạn 會昌法難: Sự kiện phế bỏ Phật giáo xảy ra trong niên hiệu Hội Xương (841-846) đời Đường Vũ Tông, Trung Quốc.
 
nhiên không giống nhau. Pháp Nhiên thượng nhân[1] của Nhật Bản từng chia tông Tịnh Độ Trung Quốc thành ba trường phái lớn như phái Huệ Viễn, phái Đại sư Thiện Đạo, phái Từ Mẫn[2]. Có thể thấy rằng hệ thống tư tưởng của các ngài Huệ Viễn và Đại sư Thiện Đạo là có sai biệt. Tư tưởng Tịnh độ từ giai đoạn đầu chú trọng đến Niệm Phật tam-muội, nhưng đến sau này chuyên tuyên dương xưng tụng danh hiệu Phật, trong khoảng thời gian đó có quá trình diễn biến. Ngài Đạo Xước hoạt động ở thời kỳ nhà Đường, Tùy vừa coi trọng Niệm Phật tam-muội ức niệm quán tưởng, lại vừa dốc sức đề xướng xưng danh niệm Phật bằng cách tụng niệm danh hiệu, hai vị này cùng dung hòa với nhau, quả đúng là thời kỳ chuyển tiếp từ người trước diễn biến đến người sau. Nhìn từ sự phát triển tư tưởng Tịnh độ thì ngài đã nêu ra hàng loạt lý luận về tín ngưỡng Tịnh độ và phương pháp vãng sanh, không ngừng phá trừ các loại tư tưởng chướng ngại gây bất lợi đến sự phát triển của tông Tịnh Độ, làm cho tông Tịnh Độ trở thành tông phái trong Phật giáo được mọi tầng lớp trong xã hộ đều tiếp nhận, đặt nền tảng cho sự sáng lập và phát triển tông Tịnh Độ.
 

[1] Pháp Nhiên thượng nhân 法然上人 (1133-1212) Cg: Hắc Cốc Thượng Nhân. Pháp danh Nguyên Không, là vị tăng sinh ở cuối thời Bình An, trước thời kỳ Liêm Thương. Ngài là Tổ sư khai sơn tông Tịnh Độ ở Nhật Bản, người Mĩ Tác (nay là huyện Cương Sơn). Tác phẩm: Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, Hắc Cốc thượng nhân ngữ đăng lục (18 quyển) do Sư Liễu Huệ Đại Quang, người Nhật soạn.
[2] Từ Mẫn 慈愍 (680-748) Cg: Huệ Nhật. Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Tịnh Độ, sống vào đời Đường, họ Tân, người Đông Lai, tỉnh Sơn Đông. Tác phẩm: Vãng sanh Tịnh độ tập (3 quyển), Bát- chu Tam-muội tán. 
/13
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »