Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế

Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn : Sưu tập & giới thiệu. Năm xuất bản: 2009. Số trang: 560.

Chương 7: 1. Sự Tích Đức Phật Thích Ca (Trang 144 - 180)

1
Sự tích ĐỨC PHẬT THÍCH CA (*)


 
Các Đức Phật đã chứng được Phật tánh, không thay, không đổi, xưa nay như một, vẫn không có cái gì đáng gọi là sống mà cũng không có cái gì đáng gọi là chết; nhưng vì thương xót chúng sanh nên phải tùy theo vọng tưởng của chúng sanh, hiện thân ra mà dạy dỗ.
Trong hội Pháp Hoa, các Phật nhóm lại hơn trăm vạn mà Ngài nào cũng là hoá thân của đức Phật Lô-xá- na cả. Như vậy đủ biết Sự tích cửa Đức Thích-ca chỉ là sự tích của một vị hoá thân đức Phật Lô-xá-na mà thôi, chớ chưa phải là đủ cả sự tích của Lô-xá-na Phật.
Tuy nhiên, Đức Phật Lô-xá-na hiện ra thân Thích-ca ở thế giới này mà độ chúng ta. Nhất nhất sự gì việc gì của hoá thân này, đều là cái gương trọn tốt, trọn lành đáng để cho chúng ta soi chung mà tu tập cả. Sự tích là một cái gương tốt soi chung, thời ai ai là tín đồ Phật tử cũng phải cần biết rõ sự tích ấy, thời mới hiểu
___________________________
(*) Do Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám biên soạn.

được lòng từ bi của Phật và mới tin chắc rằng: muốn cho tâm tánh được hiền lành sáng suốt đến cực điểm, thế nào cũng phải tu cho đến chỗ Phật mới được. Đức Phật Thích-ca có dạy: Tất cả chúng sanh ai ai cũng có Phật tánh. Phật tánh chúng ta đã có sẵn, thành Phật hay không là tự nơi chúng ta.
Đức Thích-ca đã làm gương ở trước, chúng ta nên noi dấu theo sau, đến khi tâm trí của chúng ta, hành động của chúng ta đều như Đức Thích-ca thời thế nào lại không chứng quả như Đức Thích-ca được. Ai là người muốn học Phật, nên hãy gắng công.
Huế, ngày 01.12.1933
Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Sự tích ĐỨC PHẬT THÍCH-CA
 
Đức Phật Thích-ca sanh về một họ quý tộc bên Ấn Độ (Inde). Nguyên từ đời thượng cổ (gần 3500 về trước) dân tộc A-ly-an (Aryen) thâu phục nước Ấn Độ, chia trong dân chúng ra làm 4 bậc:
  1. Chủng tộc Bà-la-môn (Brahmana), tức là đạo sĩ học hành rộng rãi, giới hạnh nghiêm chỉnh. Văn hoá học thuật của toàn quốc đều ở trong tay bậc ấy cả.
  2. Chủng tộc Sát-đế-lỵ (Ksatrya) là giòng dõi vua chúa.
  3. Chủng tộc Phệ-xá (Vaisya) là chủng tộc bình dân.
Ba bậc trên nầy đều là giòng giống A-ly-an cả.
  1. Chủng tộc Thủ-đà-la (Soudra) gồm những người làm thuê, làm mướn, giết heo, vật bò...
Ngoài bốn chủng tộc ấy, lại còn một chủng tộc gọi là Ba-ly-a (Pariahs) là các dân mọi rợ ở xứ Ấn Độ.
Theo đạo Bà-la-môn thời chỉ ba chủng tộc đầu có quyền đọc kinh, tế thần mà thôi, còn hai chủng tộc sau thì không được cái quyền ấy.
Về sau chủng tộc quyền quý lần lần khai thác biên địa, dân nhiều, binh đông, thành bền, lũy chắc nên quyền lực càng ngày càng to.
Đến khi Đức Thích-ca ra đời thì chủng tộc Bà-la môn đã trụt về bậc thứ hai mà chủng tộc Sát-đế-lỵ đã thành chủng tộc cao nhất nước Ấn Độ.
Dòng dõi Sát-đế-lỵ chiếm toàn Nam Ấn, Bắc Ấn cho đến đảo Tích Lan (Ceylan), các cứ châu, quận chia ra nhiều nước nhỏ và 16 nước có danh tiếng là:
  1. Ma-kiệt-đà (Magadha)
  2. Tỳ-xá-ly (Vasiali)
  3. Kiều-tất-la (Kosala)
  4. Thất-la-phiệt (Sravasti)
  5. Chiêm-ba (Campa)
  6. Bát-la-ni-ti (Baranassi)
  7. Ka-tỳ-la (Kapilavastu)
  8. Câu-thi-na (Kusinsara)
  9. Kiều-đạm-di (Kausambi)
  10. Bát-đá-ra (Pancala)
  11. Ba-tra-la (Pataliputra)
  12. Mạc-thổ-la (Mathura)
  13. Ô-thi (Usa)
14. Bôn-tra-bạc-đa (Pungavardhana)
15. Đề-bà-bạt-đa (Devatara)
16. Kha-thi (Kasi)
Trong các nước ấy, nước Ma-kiệt-đà là lớn hơn cả. Tuy các nước khi hòa nhau, khi đánh nhau như lối Chiến quốc bên Trung Hoa mà đại thể vẫn ở nơi nước Ma-kiệt-đà, một đại quốc ở phía Nam sông Hằng (Gange) lầm trung tâm điểm cho cả toàn xứ Ấn Độ.
Phật thuộc họ Thích-ca (Cakya), một nhánh của họ Kiều-tát-la (Kosala), là một đại quý tộc ở Ấn Độ.
Lúc bấy giờ hai bên sông Lô-miện-ni (Rohiné), nay gọi là sông Kohana, có hơn 10 nước nhỏ, toàn là người họ Thích làm vua cả. Phật giáng sinh ở thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) phía tây sông Lô- miện-ni. Thành Ca-tỳ-la-vệ nay không còn dấu tích nữa, nhưng theo địa đồ bây giờ, chính là về xứ Piprava, ở phía đông bắc thành Bénarès, phía tây bắc thành Patna, gần thành Gorakhpur phía nam nước Népal, bên bờ phương tây sông Kohana là một chi lưu của sông Hằng (Gange). Lúc ấy phía bên đông sông Lô-miện-ni (Rohiné), có thành Câu- ly (Koli). Mẹ Phật là công chúa của vua A-nâu- thích-ca thành ấy.

  1. Sinh nhật Đức Thích-ca
Khi vua Tịnh Phạn (Suddhodana) được 50 tuổi, mẹ Phật là bà Ma-ha Ma-da (Maha Maya) mới thụ thai. Lúc ấy bà đã 45 tuổi. Theo tục bên Ấn Độ phải về nhà cha mẹ mà đẻ, nên bà sinh Đức Thích- ca ỏ trong vườn Phung-tì-ni (Lumbini) thuộc về nước Câu-lỵ (Koli). Vườn ấy ở phía đông thành Ca- tì-la-vệ chừng 40 dặm, là một huê viên của vua Thiện Giác, cậu ruột Phật. Ngày nay vườn ấy ở xứ Rummindei của nước Tarai. Đức Thích-ca sanh ra khi mặt trời mới mọc, ngày mồng tám tháng hai Ấn Độ, tức là ngày mồng tám tháng tư lịch Trung Hoa, dưới một cây Vô ưu (Asoka) trong vườn Phung-tì-ni (Lumbini). (Khi ngài Huyền Trang qua Ấn Độ còn thấy cây ấy song cũng đã tiêu điều rồi). Năm 1897, ông Docteur A. Fuhrer có đào ở chỗ ấy lên một cái trụ đá của vua A-dục chôn, để làm dấu chỗ Đức Phật Thích-ca giáng sinh.
Đến như niên đại giáng sinh của Phật, theo Trung Quốc truyền qua thì vào năm Giáp Dần, vua Châu Chiêu Vương; điều ấy cũng đã thành tục ở xứ mình, lẽ ra không nên thay đổi nữa; nhưng xét theo các dấu tích thời nhiều chỗ không đúng lắm, nên ngài Thái Hư Đại sư đã quyết định lại như sau nầy: (Hải Triều Âm nguyệt san số 8, quyển 13).
“Niên đại Đức Thích-ca giáng sinh tuy truyền ra nhiều thuyết khác nhau, nhưng ngoài ra các thuyết không có bằng cứ không nói làm gì, đến như các thuyết có bằng cứ thì có thể chia ra hai nhóm:
Nhóm thứ nhất:

  1. Phật sử bên Tây Tạng: 626 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  2. Phật sử bên Tích Lan: 624 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  3. Bia Phật-đà Già-gia: 623 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
Nhóm thứ hai:
  1. Chúng thánh điểm ký: 566 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  2. Bia Phật ở Miến Điện: 561 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  3. Thiện Kiến luật: 559 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
Trong hai nhóm ấy, giá trị khác nhau; nay so với niên đại dịch kinh và biểu ký, các vị Tổ sư ở Ấn Độ sang Trung Hoa thì nên quyết định niên đại giáng sinh của Phật theo sử đảo Tích Lan là đúng hơn cả”.
Theo Phật sử đảo ấy thời năm 1934 nầy, tức là năm thứ 2558, sau khi Đức Thích-ca giáng sinh.

2. Danh tự Đức Thích-ca
Người ta thường gọi tên Phật là Thích-ca Mâu Ni, kỳ thiệt hai chữ “Mâu-ni” không phải tên Phật; hai chữ ấy nghĩa là im lặng, nhơn đức hoàn toàn; thiệt chỉ là hiệu của Phật. Bốn chữ Thích-ca Mâu Ni nghĩa là đức hạnh họ Thích-ca. Thiệt tên Phật là Tất-đạt-đa (Siddhartha), như hiệp cả tên và họ thời là Kiều-tát-la Thích-ca Tất-đạt-đa (Kosala Cakya Siddhartha).
3. Tướng mạo Đức Thích-ca
Sau khi Đức Thích-ca sanh ra được bảy ngày thì bà mẹ mất, bà dì là Ma-ha Ba-xà-ba-đề nuôi dưỡng cho tới lớn. Tướng mạo Phật tốt đẹp khác thường, chuông chắn phúc hậu, không có tướng tốt gì là không có.
Vua Tịnh Phạn mời 500 trăm ông thầy tướng đến xem, thảy đều kinh ngạc, ngợi khen và đoán chắc rằng: “Tướng tốt như vậy nếu ở nhà thời chắc làm vị Chuyển Luân Thánh Vương, mà đi tu thời chắc đến quả vị cực điểm.”
4. Giáo dục Đức Thích-ca
Khi Phật lên bảy tuổi, vua Tịnh Phạn mời ông Bà-la-môn giỏi nhất tên là Tì-xa-mật-đa-la (Visvamitra) làm ông thầy dạy văn và mời một ông
tướng họ Thích giỏi nhất tên là Sằn-đề-đề-bà (Ksantidiva) làm thầy dạy võ.
Học chưa được mầy năm, Đức Thích-ca đã biết các nghề văn, nào thiên văn, nào địa lý, nào sách sử, nào nghị luận, văn chương, thi phú, âm nhạc, hoạ đồ, bói, khoa, phù, chú; nói tóm lại là nghề gì cũng đều thông suốt hết cả; lại thêm tinh thông võ nghệ, sức mạnh hơn người; thiệt là văn võ song toàn, không ai sánh kịp.
Đến khi mười lăm tuổi thì vua Tịnh Phạn làm lễ Quán đảnh mà lập lên làm thái tử.
5. Duyên cớ Đức Thích-ca xuất gia
Duyên cớ thứ nhất: Một bữa vua Tịnh Phạn dắt thái tử đi dạo chơi ngoài thành, thấy các người làm ruộng mình trần thân trụi, đương lo cày cấy; con trâu kéo cày, cổ mang lấy ách; hễ trâu có chậm thời đã có roi có vọt. Khi ấy trời đương nóng nảy, cả người và trâu mệt mỏi thở dốc, mồ hôi đầy mình, đói khát khổ sở, thân thế gầy ốm. Khi cày đất lên, thấy những trùn, sùng, chim trên bay xuống giành nhau mổ ăn, thái tử lấy làm thương xót, ngồi lặng ngẫm nghĩ dưới cây Diêm-phù, nhập định hồi lâu, có ý lo lắng cho đời, muốn tìm cách cứu vớt người và vật ra khỏi những cảnh khổ sở như vậy.
Duyên cớ thứ hai: Vua Tịnh Phạn sợ thái tử xuất gia nên khi 17 tuổi, cưới cho thái tử 3 vị phu nhân:
  1. Cu-tì-gia (Gopika)
  2. Gia-du-đà-la (Yasodhara)
  3. Lộc-đã (Mrganika)
Vua lại lập cung ba mùa; mùa nóng thời có chỗ mát, mùa lạnh thời có chỗ ấm, mùa ôn hoà thời lại có chỗ không nóng không lạnh. Trong cung có 500 thể nữ ca múa, hầu hạ các món vui trong nước, không thiếu món gì.
Hằng lâu thái tử muốn ra ngoài chơi, đi tới cửa đông, vừa gặp một ông già đầu bạc, răng rụng, mặt nhăn, lưng còm, mắt loà, tai điếc, mình mẩy khô khan, vừa chống gậy vừa đi một cách hết sức khổ sở. Thái tử thấy vậy động lòng thương xót; về cung thường nghĩ đến sự già của thế gian mà buồn bực không vui.
Duyên cớ thứ ba: Vua Tịnh Phạn nghe tin thái tử lo buồn, lại ban thêm kỹ nhạc cho thái tử vui dạ. ít lâu thái tử đi chơi ra cửa nam gặp một người bệnh, mặt mày phù thủng, hơi thở hà hệch, rên rỉ khổ sở, nước da huỳnh đảng (vàng), chân tay run rẩy, bụng to cổ trướng, hai người đỡ hai bên mà một buổi lâu mới đi được một bước. Thái tử thấy
vậy thương xót vô cùng, nghĩ đến bệnh hoạn của thế gian rất nên buồn bã.
Duyên cớ thứ tư: Vua Tịnh Phạn thấy thái tử không vui, sợ ngài xuất gia nên càng kiếm cớ mà ràng buộc thái tử. Vua nghĩ phi tần, thể nữ học ít, trí cạn, vụng ăn vụng nói không thể khuyên dỗ được nữa, nên lựa một người con dòng Bà-la-môn tên là Ưu-đà-di, thông minh trí tuệ, lời lẽ khôn ngoan, theo hầu hạ thái tử, đặng khuyên dỗ thái tử hưởng sự sung sướng ở đời và đừng nghĩ đến chuyện tu hành nữa.
Ít bữa sau thái tử ra chơi nơi cửa tây thấy một người chết, nằm ngay trên đường, xung quanh lụa là che phủ, nhiều người đang khiêng đi, lại có bà con thân thích đi theo khóc lóc, vật mình vật mẩy, nước mắt như mưa kể lể thảm thiết, ai nghe cũng phải động lòng. Thái tử thấy vậy thương xót vô hạn, lại muốn trở về. Mấy người thị vệ khuyên gắng đi tới huê viên vì hai lần trước vua Tịnh Phạn đã quở trách mấy người kia không biết hầu hạ, đến nỗi thái tử đi chơi mới nửa đường đã lui về cung cấm. Thái tử nghe vậy cũng gắng tới huê viên, tha hầu cho mấy người thị vệ, ngồi lặng suy nghĩ. Ưu- đà-di khuyên lơn hết sức mà cũng không đỡ được chút nào.
Duyên cớ thứ năm: Vua Tịnh Phạn hằng ngày khiến người đến dụ dỗ thái tử, lại bảo sửa soạn huê viên phía bắc để cho thái tử dạo chơi. Ít lúc thái tử dạo chơi vườn cửa bắc, tha hầu cho thị vệ, ngồi dưới gốc cây suy nghĩ, bỗng thấy một vị Tỳ-kheo, mặc y cầm bát, tay chống tích trượng, uy nghi tề chỉnh, chân đi chậm chạp, mắt ngó thẳng trước mặt. Thái tử kêu hỏi: “Ông là người nào?”
-  Tôi là Tỳ-kheo.
-  Tỳ-kheo là gì?
-  Phá được tất cả phiền não, không cho ràng buộc, về sau không còn chịu thân khác nữa, nên gọi là Tỳ-kheo. Vì tôi thấy trong thế gian nhất nhất việc gì cũng đều là vô thường, còn đó mất đó, nên tôi tu học theo đạo chơn chánh cho khỏi mắc vào cảnh giới vô thường của thế gian và lên được giác ngạn là bờ giải thoát”.
Nói rồi ở trước thái tử, hiện phép thần thông, bay bổng lên không mà đi mất. Thái tử đã thấy ông Tỳ-kheo lại nghe chỉ rõ công đức của người xuất gia rất hợp với tâm lý của Ngài, bèn xướng lên rằng: “Hay lắm, hay lắm, tu như vậy thiệt là quí hóa hết sức, dưới đất trên trời không có gì sánh kịp. Ta nay quyết định tu học đạo ấy”. Từ đó Thái tử không buồn nữa, trong lòng vui vẻ, về cung chỉ lo trù tính việc xuất gia mà thôi.
6. Thái tử xuất gia
Thái tử đã thấy ông Tỳ-kheo biết con đường giải thoát bèn xin với vua Tịnh Phạn cho thái tử xuất gia tu hành. Vua không chịu lại khiến các quan trong ngoài hết sức giữ gìn. Mỗi cửa thành cắt một ngàn quân, canh tuần nghiêm ngặt, không cho thái tử ra thành, nhưng thái tử thừa lúc ban đêm, cùng ông thị giả tên là Xa-nặc vượt thành ra khỏi. Lúc ấy theo lịch Trung Hoa là ngày mồng tám tháng chạp, thái tử vừa 19 tuổi. (Chỗ này có người nói khi ngài xuất gia đã 25 tuổi, có người nói 29 tuổi, vẫn chưa nhất định).
Khi thái tử đến địa phận nước La Mã, bèn tự mình cắt tóc, mặc đồ thầy tu, khiến Xa-nặc về báo tin lại.
7. Thái tử hỏi Đạo lần thứ nhất
Chỗ Đức Phật Thích-ca cắt tóc chính là rừng Khổ Hạnh của các người tiên nhơn tên là Bạc-đà-bà (Bhranama). Khi Xa-nặc đi rồi, thái tử bèn đến nơi các ông tiên ấy mà hỏi về đạo đức. Các ông tiên thấy thái tử đến vội vàng nghinh tiếp. Thái tử xét chỗ tu hành của các tiên nhơn, thấy có người lấy lá cỏ, lấy cỏ cây mà làm áo, người chỉ ăn cỏ cây, hoa, quả; người thì ăn một ngày một bữa. Ngoài ra mấy người tu đói, tu lạnh, lại có người thờ nước, thờ lửa,
thờ mặt trời, mặt trăng: người co thân lên mãi, người nằm dưới đất cát, người nằm ở trên chông gai, người nằm ở bên nước, lửa, nhiều cách khổ hạnh dị kỳ hết sức. Thái tử hỏi các tiên tu khổ, tu cực như vậy sau được việc gì? Các người tiên Bạc-đà-bà mỗi ông đáp lại mỗi cách: người thì muốn sinh lên các cõi trời, người thì muốn làm vua trên trời, người thì muốn thần thông quảng đại, làm ma vương, làm thiên thần. Thái tử than rằng: “Các cõi trời cũng có vui sướng thiệt, nhưng hưởng phước hết rồi cũng phải luân hồi trong lục đạo, cũng vẫn cứ nổi chìm trong bể khổ mà thôi”. Hai bên trò chuyện cùng nhau đến tối, thái tử nghỉ một đêm, rạng ngày từ giã ra đi. Các vị tiên nhơn cầm giữ hết sức, lại nghĩ thái tử trách mình không đủ lễ. Thái tử nói: “Các ông đãi tôi rất hậu, không việc gì phải ngại lòng, nhưng tôi xét lại các ông tu chỉ vun quén cho nguồn gốc khổ ngày càng to chứ chưa phải là chánh đạo. Tôi nay xuất gia học đạo là cốt dứt cho hết chỗ phiền não, nên phải từ mà đi, thật không có ý gì khác”. Các người tiên Bạc-đà-bà bèn khuyên thái tử đến viếng ông tiên A-la-la (Arada-kalama). Thái tử nghe lời bèn nhắm hướng nam mà đi.
8. Thái tử hỏi Đạo lần thứ hai
Khi ông Xa-nặc về báo, vua khiến các quan đại thần theo dỗ thái tử về cung. Thái tử chí đã
quyết định nên chẳng chịu trở về, các quan bèn dặn dò bọn ông Kiều-trần-như năm người lần theo thái tử đặng giúp đỡ trong khi hoạn nạn.
Thái tử đến phía bắc thành Tỳ-xá-lỵ, đi đến thẳng chỗ ông tiên A-la-la (Aradakalama), là một nhà danh sư về phái Số Luận, mà hỏi các phép tu hành. Ông A-la-la bảo rằng:
“Làm người muốn tu hành phải theo phép xuất gia, đi xin ăn cho đủ sống mà thôi. Phải thề rằng khi nào cũng giữ giới hạnh hẳn hoi, áo quần thế nào cũng xong, ăn ngủ thế nào cũng được, tìm chỗ thanh tịnh, đi một mình, ngồi một mình, lánh xa lòng tham, lòng dâm, coi cái vui của thế gian như tro bụi, không ưa muốn gì nữa cả. Rồi chuyên tâm vào một chỗ mà nhập định. Lần lần được định Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, lần đến định Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ. Như vậy cho khi đến đặng định Bất dụng xứ, sanh về cõi trời Vô tưởng thì đặng giải thoát. Định Bất dụng xứ đó tôi đã chứng được; tu đến như vậy mới thiệt là giải thoát”.
Thái tử nghe lời tu tập ít lâu đã chứng tới định Bất-dụng-xứ, bèn lên xin ông A-la-la dạy thêm: “Các phép ông tu thiệt hay hết sức, nhưng tôi xét ra chưa được hoàn toàn cho lắm, ông có phép gì khác xin vẽ thêm cho tôi tu tập”. Ông A-la-la nói rằng: “Chỗ chứng của ngài thiệt đã như chỗ chứng của tôi,

vậy ngài hãy ở đây dạy vẽ học trò với tôi cho vui, chớ tôi không còn biết phép nào hơn nữa cả”.
Tuy ông A-la-la mời thái tử làm thầy đồng bực với ông, nhưng thái tử nghĩ đạo ấy chưa được hoàn toàn nên cáo từ đi chỗ khác.
9. Thái tử hỏi Đạo lần thứ ba
Nguyên khi ấy toàn xứ Ấn Độ có một ông thầy giỏi nhất tên là La-ma. Khi ông chết, ông giao đồ chúng lại cho người con trưởng tên là Uất-đầu-lam-phất (Udraka-ramaputra).
Thái tử nghe danh tiếng, bèn qua sông Hằng, sang thành Vương-xá, tìm đến ông Uất-đầu-lam- phất mà thọ giáo.
Ông ấy dạy rằng: “Phàm người chấp nơi hình tướng muôn sự muôn vật hay nơi không hình tướng đều là lầm lạc cả. Vậy nên cẩn suy xét cho chín chắn, chỉ lãnh thụ cái thể nhiệm mầu của muôn sự muôn vật mà thôi, thời mới chắc đặng quả giải thoát cao nhứt và sanh về cõi trời Phi-tưởng-phi- phi-tưởng. Tôi nay còn đương tu tập phép nhiệm mầu như vậy”.
Thái tử nhập định một hồi đã chứng được định Phi-tưởng-phi-phi-tưởng, liền thưa với ông uất- đầu-lam-phất, xin dạy thêm phép khác. Ông Uất- đầu-lam-phất nói: “Xưa chỉ có phụ thân tôi chứng

tới định ấy, ngày nay ngài lại cũng chứng tới như vậy, thiệt là ít có; xin ngài thay tôi lãnh lấy đồ chúng đây và nhờ ngài chỉ vẽ cho tôi tu tập”. Ông Uất-đầu-lam-phất ân cần hết sức mà Thái tử cũng cáo từ xin đi nơi khác, vị Thái tử cho phép tu của ông Uất-đầu-lam-phất chưa được hoàn toàn.
10. Thái tử tu khổ hạnh
Thái tử đã tìm các bậc đại sư mà chưa đặng phép tu hoàn toàn, nên tạm ở nơi núi Bàn-đồ-bà, gần thành Vương-xá.
Một hôm khi vào thành xin ăn, gặp vua Tần- bà-ta-la thành ấy. Vua thấy thái tử, kính phục hết sức, khuyên thái tử về tục đặng nhường ngôi báu. Thái tử không chịu. Vua bèn thỉnh cầu thái tử, khi đã Thành đạo xin nhớ mà độ vua ra khỏi luân hồi sanh tử. Thái tử từ giã vua Tần-bà-ta-la, qua rừng Khổ hạnh, xóm Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela) ở phía nam núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni-liên- thuyền (Nairanjana), ngày nay gọi là sông Phalgu. Thái tử ở đó tịnh toạ suy xét, định tâm, trì giới mà tu khổ hạnh. Mỗi ngày chỉ ăn một hột mè hay một hột gạo, có khi đến bảy ngày mới ăn một hột.
Bọn ông Kiều-trần-như vẫn cứ theo hầu, cũng bắt chước thái tử tu khổ hạnh; lại cắt người về nước báo tin.
Vua Tịnh Phạn sai Xa-nặc lãnh một ngàn xe lương thực ban cho thái tử. Thái tử không lãnh, ông Xa-nặc ở lại hầu hạ, cho xe về trước. Thái tử tu khổ hạnh như vậy sáu năm.
11. Phật Thích-ca thành đạo
Thái tử tu khổ hạnh sáu năm, hình thể gầy ốm, khí lực suy kém, bèn tự nghĩ rằng: “Ta tu khổ hạnh đã lâu lắm nhưng chưa được giải thoát, vậy ta nên xin ăn như cũ cho đủ sức mà tu tập”.
Lúc bấy giờ trong xóm Tư-na-gia-na, gần xóm Ưu-lâu-tần-loa, có hai người con gái tên là Nan-đà và Bà-la, thường hâm mộ đức hạnh thái tử; hai người nghe thái tử chịu ăn, chịu uống liền thường ngày đem đồ ăn đến dâng cho thái tử.
Bọn ông Kiều-trần-như thấy thái tử chịu ăn uống, tưởng thái tử thối chí không tu nữa, nên bỏ thái tử, qua nước Ba-la-nại, vào vườn Lộc-dã đặng cùng nhau tu khổ hạnh. Khi ấy trong xóm Ưu-lâu- tần-loa, làng Nan-đà-đề, có một người con gái tên là Tu-xà-đa, con ông thôn trưởng làng ấy, đem một thứ sữa bò rất quý báu đến dâng cho thái tử, Thái tử biết đó là một thứ thuốc rất bổ, phát nguyện khi uống sữa ấy, khí lực sung mãn rồi, thời phải gắng công tu hành cho thành chánh quả.
Thái tử bèn từ xóm Ưu-lâu-tần-loa, tịnh tâm nhiếp niệm, đi đến sông Ni-liên-thuyền, cởi áo xuống tắm, tắm rồi uống sữa. Uống sữa xong, thân thể mạnh mẽ, tinh thần tráng kiện, bèn vào núi Tượng Đầu dưới cây Tất-ba-la (Pippala), ngồi kiết- già tề chỉnh, tự thề rằng: “Nếu không thành Phật thời không chịu đứng dậy”. Thái tử ngồi như vậy bốn mươi tám ngày, đến đêm mồng bảy tháng hai theo lịch Trung Hoa, hàng phục tất cả ma chướng, phóng hào quang rực rỡ; đầu hôm đặng Túc mạng minh, biết tất cả quá khứ, vị lai, hiện tại; nửa đêm đặng Thiên nhãn minh, thấy tất cả thế giới trong vũ trụ; cuối đêm đặng Lậu tận minh, nguồn gốc mê đầu dứt sạch cả; đến khi sao mai mọc lên, liền chứng đặng Đạo Vô Thượng của chư Phật.
Khi đức Thích-ca thành Phật thì ngài đã được ba mươi tuổi (có người nói ba lăm, người nói hai mươi chín).
Ngày nay ở phía nam thành Patna chừng 110 km có thành Già-da (Gaya). Xa thành ấy 13 km, có linh địa gọi là Phật-đà-già-gia (Buddhagaya) tức là chỗ Đức Thích-ca thành đạo.
Núi Già-da thiệt tiếng Phạn là Gayasirsa, Trung Hoa dịch là Già-da, Già-xà, Yết-xà-thi-li-xa, dịch nghĩa là Tượng-đầu-sơn: chót núi giống như đầu voi nên đặt tên như vậy. Từ khi Đức Thích-ca thành đạo tại đó, thì chỗ ấy đổi tên lại là Phật-đà-
già-gia, còn cây Tất-bát-la gần chỗ Phật ngồi thì lại đặt tên là cây Bồ-đề. Đến nay cây Bồ-đề vẫn còn; gần đó có một tòa tháp cao kỷ niệm chỗ Phật thành đạo.
12. Đại Phạm và chư Thiên thỉnh cầu Đức Phật Thích-ca thuyết pháp
Đức Thích-ca thành đạo. Hằng hà sa số các vị Bồ-tát ở mười phương thế giới và chư Thiên đều đến cúng dường, Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm, chỉ hẳn Phật tánh để cho các vị Bồ-tát y theo đó mà tu tập cho thành Phật.
Trong hội Hoa Nghiêm, chẳng những phàm phu cho đến các hàng nhị thừa cũng như đui như điếc, không hiểu gì cả. Phật thương xót vô cùng, nến cứ một lòng suy xét phương pháp để hoá độ tất cả chúng sanh. Ngài tự nghĩ rằng: Ngài đã chứng quả Phật, muôn sự đều hoàn toàn cả, nhưng Phật pháp của ngài rất huyền diệu, chúng sanh làm sao hiểu thấu. Chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, nhiều tội ít phước, căn trí thấp hèn, đã bị các phiền não, nào tham, nào sân, nào si, nào tà kiến, vân vân, che lấp bản tánh, nếu cứ đem pháp tuyệt diệu của Phật mà nói cho chúng sanh nghe thì chắc chúng sanh mơ màng không hiểu, không tin, không lãnh được Phật pháp, rồi lại sinh lòng chê bai, khinh rẻ, mang lấy

tội lỗi, về sau phải chịu đọa đày khổ sở vô hạn. Ngài nghĩ như vậy nên ngồi lặng im không thuyết pháp nữa.
Khi ấy ông Đại Phạm Thiên Vương (vua cõi trời Sơ thiền), ông Thích Đề Hoàn Nhơn (vua cõi trời Đao-lợi) và chư thiên đồng đến cúi lạy nơi chân Phật đôi ba lần, cầu Phật thuyết pháp.
Phật bèn chịu lời thỉnh cầu, soi xét căn cơ tất cả chúng sanh, chia giáo pháp ra làm ba thừa mà dạy dỗ.
13. Đức Phật Thích-ca đi thuyết pháp lần đầu
Đức Thích-ca chịu lời thỉnh cầu, ngài liền nghĩ rằng: “Ông A-la-ra (Arada Kalama), ông Uất-đầu- lam-phất (Udraka-ramaputra) là bậc thông minh mau hiểu, nay đã qua đời rồi. Bây giờ chỉ còn năm người, bọn ông Kiều-trần-như (Kaundinya), thường hầu hạ mấy năm trước, chịu lao khổ đặng tu tập đã lâu, cũng nên đến khai thị cho bọn họ trước”.
Phật liền đứng dậy, thân hành qua nước Ba-la Nại đặng tìm năm người ấy. Đi vừa nửa đường, Phật gặp 500 người đi buôn. Hai người chủ tên là Đề-vị và Bà-lỵ đem bánh và mật ong đến cúng Phật. Phật liền dạy pháp Tam quy và Ngũ giới cho những người ấy.
Khi Phật đến sông A-xà-ba-la thì trời đã tối. Ngài nghỉ lại nơi bờ sông ngồi nhập định. Vừa gặp

trận mưa lớn, cảm động đến Long Vương lên ủng hộ 7 ngày. Khi hết mưa, Phật từ giã Long Vương, dạy cho phép Tam quy rồi đi đến thành Ba-la-nại, vào vườn Lộc đã thấy bọn ông Kiều-trần-như đang tu khổ hạnh, liền dạy rằng: “Hình mà khổ lắm thì tâm dễ rối loạn, thân mà vui lắm thì tâm dễ ưa đắm. Sự quá khổ và sự quá vui chưa phải là lối tu hành chân chánh”. Ngài liền vì các ông ấy giảng pháp Tứ đế độ cả 5 người thành bậc A-la-hán. Khi ấy trong thế gian mới có đủ Tam bảo: Phật là Phật bảo; phép Tứ đế là Pháp bảo; 5 ông A-la-hán là Tăng bảo.
14. Phật Thích-ca độ ông Da-xá (Yasas)
Khi ấy trong thành Ba-la-nại, có người con một trưởng giả tên là Da-xá, nhà rất cự phú lại thông minh, trí tuệ khác thường. Một hôm, bỗng nhiên tỉnh ngộ, biết thế gian là bất tịnh, sinh lòng nhàm chán, liền bỏ nhà sang sông Ba-la-nại, đến vườn Lộc Dã ra mắt Phật.
Khi được nghe Phật giảng về Tứ đế thì ông Da- xá liền xin xuất gia theo Phật làm Tỳ-kheo.
Ông thân, bà thân và vợ ông Da-xá đi tìm đến vườn Lộc Đã cũng được nghe Phật thuyết pháp và xin chịu phép Tam quy ngũ giới làm Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di.
Lúc ây có bốn vị trưởng giả thành Ba-la-nại tên là Tỳ-ma-la, Tu-bà-hầu, Phú-lan-na-ca, Dà-bà- bạt-đế, hay tin như vậy, đều đến ra mắt Phật. Nhờ Phật thuyết pháp, ông Da-xá và bốn ông kia liền ngộ đạo, chứng quả A-la-hán.
Về sau lại có 50 ông trưởng giả ở các nước khác, bạn bè với ông Da-xá, cũng đều đến ra mắt Phật, nhờ Phật thuyết pháp, 50 ông liền ngộ đạo và đặng quả A-la-hán.
15. Phật Thích-ca độ ông Phú-lâu-na
Gần thành Ca-tỳ-la (Kapilavastu) có một nước tên là Kiều-tát-la (Kosala). Trong nước ấy có một vị đại Bà-la-môn, nhà rất cự phú, làm Quốc sư vua Tịnh Phạn. Vợ vị Quốc sư ấy tên là Di-đà-la-ni, sinh được một người con, đặt tên là Phú-lâu-na Di-đà-la- ni Tử. Dịch nghĩa theo tiếng Trung Hoa là Mãn-từ- tử. Ông Mãn-từ-tử sinh đồng một giờ với Đức Thích-ca. Người nghiêm chánh thông minh, có tài hiểu mau và biện bác hơn đời; bản tánh lại không ưa việc thế gian, chỉ muôn cầu quả giải thoát.
Khi Đức Thích-ca xuất gia, ông Mãn-từ-tử cùng với 30 người bạn cũ xuất gia tu theo pháp Ba- lê Bà-da-ca ở núi Tuyết Sơn (Himalaya). Khi Đức Thích-ca thành đạo, thì anh em ông Phú-lâu-na đã tu đặng pháp Tứ thiền và Ngũ thông. Các ông ấy
dùng phép thiên nhãn thông xem thấy Phật thuyết pháp tại vườn Lộc Dã, liền cùng nhau bay đến chỗ Phật, xin xuất gia tu học theo Phật. Ít lâu anh em ông Mãn-từ-tử đều chứng đặng quả A-la-hán.
16. Phật Thích-ca độ ông Đại Ca-chiên-diên
Lúc bấy giờ trong nước A-bàn-đề, về Nam Thiên Trúc có một vị đại Bà-la-môn là Quốc sư, nhà cửa giàu có, sanh đặng hai người con. Người con thứ nhất tên là Na-la-đà, tư chất thông minh khác thường, nên ông thân cho đến chỗ ông tiên A- tư-đà học đạo. Ông Đại Ca-chiên-diên Na-la-đà học đạo ít lâu được phép Tứ thiền và Ngũ thông. Đến khi ông tiên A-tư-đà từ trần thì người nước Ma-già-đà rước ông về làm đạo sư, danh tiếng lừng lẫy trong nước.
Sau vì không hiểu nghĩa hai câu kệ, nên ông đi tìm Đức Thích-ca đặng nhờ Ngài chỉ bảo. Đến nơi, ông mới biết Phật ra đời. Ông liền quy y theo Phật làm đệ tử. Ít lâu, nhờ Phật, chứng đặng quả A-la-hán.
17. Phật Thích-ca độ ông Ta-tỳ-da
Ông Ta-tỳ-da (Kapila?) là một ông thầy ngoại đạo ở Nam Thiên Trúc, tu học với cha mẹ đã đặng phép Tứ thiền, Ngũ thông. Cha mẹ đã từ trần. Một
hôm nghe tiếng của bà mẹ ở trên không bảo rằng: “Phật đương thuyết pháp nơi vườn Lộc Dã”; ông bèn tìm đến chỗ Phật, xin làm đệ tử, tu học ít lâu, cũng đặng quả A-la-hán.
Khi ấy ở thế gian, được 92 ông A-la-hán.
Phật cùng với 92 vị A-la-hán an cư tại vườn Lộc Dã, thành Ba-la-nại từ 16 tháng 6 cho đến rằm tháng 9. Lễ an cư trong đạo Phật bắt đầu từ đó.
18. Phật Thích-ca độ cho ba ông Ca-diếp
Người đến cầu xuất gia càng ngày càng đông; Phật liền khiến các vị A-la-hán lãnh chúng đi tán ra các nước khác mà tuyên truyền Phật pháp. Rồi Phật đi một mình xuống xóm Ưu-lâu-tần-loa trong nước Ma-già-đà, là chỗ Phật tu khổ hạnh ngày xưa. Qua làng binh tướng, Phật thuyết pháp độ cho 30 ông trưởng lão, 6 người họ “Văn Chưởng” và một người chủ thuyền trên sông Hằng đều đặng quả A- la-hán. Phật lại thuyết cho hai vợ chồng ông Đề-bà và hai người con gái dâng đồ ăn lúc trước đều đặng quả Tu-đà-hoàn. Phật biết trong xóm Ưu-lâu-tần- loa có ba anh em người Bà-la-môn, họ Ca-diếp, thông minh trí tuệ; tu theo đạo thờ lửa, đã nổi tiếng trong nước Ma-già-đà, trên vua dưới dân đều quy ngưỡng theo cả. Phật biết các ông ấy đều có tính kiêu mạn nên hiện ra phép thần thông 18 lần làm
cho ông Ca-diếp thứ nhất tên Ưu-lâu-tần-loa phải quy phục làm đệ tử. Ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp cùng 500 đệ tử nhờ Phật thuyết pháp đều chứng đặng quả A-la-hán. Thầy và trò đều theo Phật, bỏ những đồ thờ lửa khi xưa xuống sông Ni Liên Thuyền. Cả ông em thứ hai tên là Na-đề Ca-diếp và ông em thứ ba tên là Đà-xà Ca-diếp. Mỗi ông có 250 người đệ tử đồng tu ở giữa bờ sông Ni-liên- thuyền, bỗng nhiên thấy các đồ lửa của anh em mình trôi trên dòng nước. Hai ông lấy làm kỳ quái, lập tức đi qua thăm anh đặng dò hỏi duyên cớ. Ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp thuật lại những phép mầu nhiệm của Phật, thì hai ông em của ông đều kính phục, dẫn cả các đệ tử đến quy y theo Phật. Nhờ Phật giảng pháp Tứ đế, tất cả đều chứng được quả A-la-hán.
  1. Phật Thích-ca thuyết pháp tại thành Vương-xá
Phật thành đạo hơn một năm, vừa nhớ lại khi trước vua Tần-bà-ta-la nước Ma-kiệt-đà đã cầu Phật độ mình sau khi thành đạo, liền cùng anh em ông Ca-diếp và các đệ tử đến thành Vương-xá, tức là kinh thành nước Ma-kiệt-đà. Vua cùng thần dân thấy các ông Ca-diếp cũng làm đệ tử Phật, đều sinh lòng tín ngưỡng. Phật vì vua tôi thành Vương-
xá thuyết pháp, thảy thảy đều biết bỏ lối mê vọng, theo chánh pháp của Phật. Vua liền lập ra già lam trong một vườn trúc bên thành, rước Phật đến ở. Khi ấy mới có một vị quốc vương quy y theo Phật và cũng bắt đầu mới có già lam cho tăng chúng ở.
20. Phật độ cho ông Xá-lợi-phất và ông Mục-kiền-liên
Năm thứ 4 sau khi Phật thành đạo, trong thành Vương-xá có một thầy Bà-la-môn, khi gần lâm chung, phú chúc cho hai vị đại đệ tử là ông Xá-lợi- phất và ông Mục-kiền-liên, quản lãnh 250 người học trò của mình. Hai vị này thông minh xán lán, rất có trí tuệ, cả nước đều kính mến. Hai người lại yêu nhau, trọng nhau, thường thề với nhau rằng nếu người nào biết được diệu pháp thì phải giác ngộ cho nhau. Một ngày kia ông Xá-lợi-phất giữa đường gặp ông Mã Thắng Tỳ-kheo, tức là một người trong bọn ông Kiều-trần-như, thấy uy nghi khác thường, hỏi ra mới biết là học trò Đức Thích- ca. Khi nghe ông Mã Thắng thuật lại 4 câu kệ nhân duyên, ông Xá-lợi-phất liền biết đó là chánh pháp, về thuật lại với ông Mục-kiền-liên, cùng nhau dắt cả đệ tử đến vườn trúc, xin xuất gia theo Phật.
Phật thấy các ông ấy đến xin xuất gia, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Hai người này là đệ tử trí tuệ đệ
nhất, thần thông đệ nhất trong pháp ta đó”. Phật liền rộng nói pháp Tứ đế, các ông kia nghe rồi đều được quả A-la-hán.
  1. Phật Thích-ca độ ông Kim sắc Đại Ca-diếp
Trong nước Da-la-kiết-xoa có một vị Bà-la- môn tên là Ca-diếp, đủ cả 32 tướng, thông minh, trí tuệ, thông suốt tất cả mọi sự, nhà lại giàu có, thường hay bố thí. Bà vợ ông Ca-diếp rất đoan chánh, cả nước không ai bì kịp.
Năm thứ tư, sau khi Phật thành đạo, hai vợ chồng nhờ có căn lành đời trước, tự nhiên thoát khỏi tình dục, không ưa ở nhà, đều vào rừng núi, cắt tóc tu hành. Vừa khi ấy nghe trên không có tiếng bảo phải ra mắt Phật, hai người liền đến vườn trúc qui y theo Phật. Phật thuyết pháp cho hai người nghe đều đặng quả A-la-hán.
Ông Ca-diếp này có oai đức, đã được Phật truyền y bát, nên có hiệu là Đại Ca-diếp. Phật diệt độ rồi, giữ gìn Phật pháp, hóa độ chúng sanh đến 6 vạn năm, về sau đều nhờ sức của ông ấy.
Vua Tịnh Phạn nghe Phật thành đạo, khiến ông Ưu-đà-di mời Phật trở về nước cho được thấy mặt Phật, lại lập Thích Thị tịnh xá trong rừng Ni-câu- luật chờ Phật về.
Phật liền từ thành Vương-xá trở về thành Ca- tỳ-la, ngày ngày thuyết pháp độ chúng sanh vô lượng. Vua Tịnh Phạn chứng được đạo quả, cung nhân người lớn kẻ nhỏ thảy đều thọ giới, giữ phép ăn chay hoặc một tháng sáu ngày, hoặc một năm ba tháng không hề trễ nãi. Chỉ vì Phật độ em khác mẹ của Phật là ông Nan Đà và con Phật là ông La- hầu-la xuất gia, làm cho vua Tịnh Phạn thương tiếc vô hạn, nên từ đó về sau Phật mới chế luật: Hễ cha mẹ có cho phép mới được xuất gia.
Phật ở nước Ca-tỳ-la 7 ngày rồi lại trở về Trúc viên. Khi mới đi đến làng A-nậu-tỷ-gia thì thấy có nhiều người trong họ Thích-ca như ông A-nậu-lâu- đà, A-nan-đà, Đề-bà-đạt-đa, Kim-tỳ-la, vân vân, đều nối gót theo Phật xin làm đệ tử; lại có một ông dòng Thủ-đà-la làm việc hớt tóc trong họ Thích-ca tên là Ưu-bà-di cũng đến xin xuất gia. Phật cũng y theo lời xin và đem lẽ “tứ dân bình đẳng” giáo hóa các đệ tử.
22. Phật qua nước Tỳ-xá-ly cứu bệnh ôn dịch
Khi ấy trong nước Tỳ-xá-ly, ôn dịch hoành hành người chết vô số. Bọn Lục sư ngoại đạo đã dùng phù phép; vua Tần-bà-ta-la vì vậy thỉnh Phật đến nước Tỳ-xá-ly mà cứu nạn. Phật đem cả tăng chúng đến nước ấy cứu trị ôn dịch; bệnh ôn dịch
vừa cứu trị hết thì Phật cùng đại chúng trở về thành Vương-xá, an cư nơi Trúc Lâm tịnh xá.
23. Phật khai giáo tại thành Xá-vệ
Khi ấy phía tây bắc sông Hằng có thành Xá-vệ là kinh đô nước Kiều-tát-la. Vua nước Kiều-tát-la hiệu là Ba-tư-nặc có một vị đại thần tên là Tu-đại- đa. Vị đại thần ấy nhà giàu, ưa bố thí, ưa cứu giúp kẻ cùng khổ nên được tặng cái hiệu là cấp Cô Độc trưởng giả. Vị trưởng giả ấy trợ cấp cho người mồ côi, kẻ góa bụa. Ông Cấp Cô Độc có người em gái lấy chồng ở thành Vương-xá, nhơn khi đi thăm em, ông được nghe thuyết pháp tức liền chứng quả Tu- đà-hoàn. Ông bèn xin Phật qua giáo hoá bên thành Xá-vệ, Phật bảo bên nước ấy không có tinh xá, tức thời ông Cấp Cô Độc liền tình nguyện về nước làm tinh xá. Ông về nước, nhắm được rừng cây của thái tử Kỳ-đà liền hỏi mua, Thái tử muốn thử bụng ông Cấp Cô Độc, bắt phải lấy vàng lướt đất, lướt được bao nhiêu thì bán bấy nhiêu. Ông Cấp Cô Độc liền lấy vàng lướt một khoảng rộng. Thái tử thấy cái chỗ thành tâm mà cảm động nên phát nguyện bấ thí cả rừng, cùng với ông Cấp Cô Độc lập tịnh xá rộng lớn. Ngày nay trong các kinh, hoặc nói Kỳ Viên tịnh xá, Kỳ Hoàn tịnh xá hay Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên, tức là tịnh xá ấy. Trong ấy có 12 toà
tháp, giảng đường, 3.600 phòng ở, 500 nhà lầu, trang nghiêm tột bực. Từ đó Đức Phật Thích-ca thường ở nơi ấy thuyết pháp mà vua Ba Tư Nặc cũng quy y theo Phật.
24. Phật trở về thành Ca-tỳ-la-vệ
Nông dân thành Ca-tỳ-la-vệ và nông dân thành Câu Nhơn đại hạn, cùng nhau dành nước rất dữ dội. Phật hay được liền bỏ thành Xá-vệ, trở về Ca-tỳ-la hòa giải hai bên và giáo hóa dân chúng, 250 người trong quý tộc hai thành đều xuất gia theo Phật.
25. Phật trở về Tinh xá Đại Lâm thành Tỳ-xá-ly
Về sau, Phật nghe vua Tịnh Phạn đau nặng liền trở về thành Ca-tỳ-la-vệ thăm vua. Vua nhờ Phật thuyết pháp, hết sự đau đớn, tinh thần thư thái an lành mà băng; có sách nói vua hưởng thụ được 79 tuổi. Tống táng xong, Phật lại về Đại Lâm Tịnh xá.
Lúc ấy bà Ma-ha Ba-xà-bà-đề, bà Da-du-đà-la và nhiều người đàn bà con gái trong dòng họ Thích buồn rầu không xiết, đều đến xin xuất gia theo Phật. Phật không cho, sau nhờ ông A-nan hết sức xin cho bà di mẫu của Phật, nên Phật bất đắc dĩ mới cho, và tuyên giới Bát kỉnh. Từ đó trong Phật pháp mới có hàng Tỷ-kheo-ni và mới đủ tứ chúng.
26. Phật chế giới luật
Cùng năm ấy, Phật đương ở trong nước Tỳ-xá- ly, có một Tỳ-kheo tên Tu-đề-na Tử về nhà hành dâm với vợ mình. Các Tỳ-kheo bạch Phật về lỗi ấy, Phật nhóm cả đại chúng quở trách và chế ra dâm giới. Đó là lần đầu Phật chế giới luật, về sau thấy đệ tử phạm điều gì thì chế giới ấy, như vậy trong 12 năm thì đủ giới luật đạo Phật.
27. Phật hóa độ trong cấc nước khác
Về sau nhiều nước lập tinh xá rước Phật đến thuyết pháp, lại có các vị đại đệ tử đi truyền pháp mọi nơi, nên Phật giáo đồ mỗi ngày càng nhiều, cho đến những kẻ hung hãn như ông Ương Quật A La cũng quy y theo Phật.
Có ông Đề-bà-đạt-đa bà con với Phật và thường ganh ghét Phật. Phật dạy ông tu hành tại gia nhưng ông không chịu, lại xin xuất gia nơi khác; ông học với ông A-nan-đà được ít phép thần thông, đã sanh lòng kiêu mạn, mưu hãm hại Phật mà kế vị. Ông bèn dụ thái tử A-xà-thế, con vua Tần-bà- sa-la, giam cấm cha mẹ mà đoạt ngôi vua. Bà mẹ của ông A-xà-thế tên là Vi-đề-hy, thấy con bất hiếu, nhàm chán những việc dữ, cầu Phật dạy phép tu hành đặng sanh về các thế giới không có kẻ dữ.
Phật bèn nói kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, dạy bà tu hành để vãng sanh về Cực Lạc thế giới.
Về sau ông Đề-bà-đạt-đa cũng có mưu hại Phật vài lần nữa như thả voi dữ, lăn đá lớn vân vân, nhưng không hiệu quả gì. Hằng lâu vua A-xà- thế biết ăn năn, thân hành đến Trúc viên mà sám hối và trở nên một vị đại hộ pháp.
Những xứ Phật đã thân hành đến giáo hoá rất nhiều, xin lược ra như sau này:
  1. Ba-la-nại thành (Lộc Đã uyển);
  2. Vương-xá thành (Trúc Lâm Tịnh xá, Linh Thứu sơn, Ôn Tuyền lâm);
  3. Xá-vệ thành (Kỳ Hoàn tinh xá);
  4. Tỳ-xá-ly thành (Đại Lâm Trùng Các giảng đường, Yêm-la Thọ viên, Ngưu Giác lâm);
  5. Ca-tỳ-la thành (Ni Câu Luật lâm);
  6. Kiều-thưởng-di thành (Cù Sử La viên);
  7. Câu-thi thành (Sa-la lâm).
28. Các vị đại đệ tử của Phật
Trong hàng đệ tử của Phật, có 10 vị gọi là thập đại đệ tử:
Bốn vị về dòng Bà-la-môn:
  1. Ông Xá-lợi-phất là vị trí tuệ đệ nhất;
  2. Ông Mục-kiền-liên là vị thần thông đệ nhất;
  3. Ông Đại Ca-diếp là vị tu định đệ nhất;
  4. Ông Ca-chiên-diên là vị luận nghị đệ nhất.
Ba vị về dòng Sát Đế Lỵ:
  1. Ông A-nan-đà là vị đa văn đệ nhất;
  2. Ông A-nậu-lâu-đà là vị thiên nhãn đệ nhất;
  3. Ông La-hầu-la là vị mật hạnh đệ nhất.
Hai vị về dòng Phệ Xá:
  1. Ông Tu-bồ-đề là vị giải không đệ thất;
  2. Ông Phú-lâu-na là vị biện tài đệ nhất.
Một vị về dòng Thủ-đà-la:
Ông Ưu-ba-ly tức là vị trì luật đệ nhất.
Đến như những bậc trưởng lão như ông Ca- diếp, ông Nan-đà, ông Kiều-trần-như v.v... đến mấy ngàn người đều là những bậc Tỳ-kheo có danh tiếng cả.
Về hạng Tỳ-kheo-ni thì có bà Ma-ha Ba-xà-bà Đề, bà Da-du-đà-la, bà Liên Hoa sắc, bà Khoán Dã, v.v...
 
Về Ưu-bà-tắc thì có vua Ba-tư-nặc, vua Tần- bà-sa-la, vua A-xà-thế, Thái tử Kỳ-đà, ông Tu-đạt- đa, ông Duy-ma-cật v.v...
Về Ưu-bà-di thì có hoàng hậu Vi-đề-hy, hoàng hậu Mạt-lỵ, công chúa Thắng Man, bà Thiện Sanh, bà Tỳ-xá-khư, bà Y-ma-la v.v...
Đó là những vị thường thấy tên trong kinh điển, đến như số đệ tử của Phật thành đạo chứng quả thì không thể kể xiết.
Phật nhập diệt nơi rừng Xà-la (Salavana)
Trong lúc Phật đi giáo hoá, các thầy ngoại đạo thấy đệ tử mình theo Phật, thường cũng có sanh lòng ganh ghét, tìm mưu này kế khác để ngăn trở nhưng vì đức lớn của Phật nên phần nhiều đều được ăn năn sám hối, trở lại quy y theo Phật. Lúc Phật tuổi đã 80, sau khi kiết hạ ngoại thành Tỳ-xá- lỵ ở rừng Trúc Phương, Phật xét cơ duyên giáo đã viên mãn, nên đến tháng 11 Phật bảo trước với đại chúng rằng, trong ba tháng nữa Phật sẽ bát Niết- bàn. Phật vẫn vào thành khất thực, nhóm chúng thuyết pháp như thường. Gần nhập diệt, Phật qua thành Câu-hy, đến ngày 14 tháng 2, Phật thụ trai lần chót do ông Thuần-đà cúng dường rồi đi tắm nơi sông Câu-tôn và vào nghỉ trong rừng Sa-la nơi bờ phía tây sông A-ly-la-bạt-đề. Nửa đêm có ông
Bà-la-môn gia tên là Tu-bạt-đà-la đến xin yết Phật. Ông Nan-đà biết Phật gần nhập diệt không muốn cho vào, song Phật thương xót bảo cho ông đến tận nơi và giảng dạy cho ông nghe pháp Tứ đế. Ông Tu-bạt-đà-la liền xin xuất gia, đó là vị đệ tử cuối cùng của Phật.
Trong lúc ấy cả đại chúng biết Phật gần nhập diệt thảy đều than khóc. Phật tập chúng lại, dạy lần cuối cùng, cho cả đại chúng ai nghi chỗ nào đều phải hỏi cho cặn kẽ cho đến khi trong chúng không còn ai nghi ngại gì nữa thì Phật mới thong thả nhập diệt. Phật nhập diệt ngày rằm tháng hai, thọ 81 tuổi.
Lúc ấy ông Mục-kiền-liên, ông Xá-lợi-phất đã tịch rồi, ông Ca-diếp đi hoằng pháp phương xa, duy có ông A-nan, ông A-nậu-lâu-đà cùng các đệ tử lo việc tẩm liệm, tu pháp yếu bảy ngày cho thanh tịnh, rồi đưa quan tài Phật vào cửa hướng đông thành Câu-thi, rồi ra cửa hướng bắc đến chùa Thiên Quang đặng làm lễ Trà-tỳ. Ông Ca-diếp về kịp, thấy đang đưa quan tài, tỏ lòng thương tiếc và ước ao thấy đặng cái tay hay cái chân gì của Phật cho thỏa dạ. Phật liền đưa chân ra ngoài quan tài trong giây lát để an ủi lòng ái mộ của ông Ca-diếp.
Khi Trà-tỳ, các nước xung quanh nước Câu-thi như nước Già-la-phả, La-ma-ca, Tỳ-lư-đề, Ca-tỳ-la, Tỳ-xá-
ly, Ma-già-đà... đều đến thành xin Xá-lợi của Phật gần muốn gây chiến tranh, nhờ ông Hương Tịnh điều đình mới yên. Sau khi Trà-tỳ, các nước cùng nhau chia cân những Xá-lợi ra từng phần, mỗi phần ba viên để trong những thá nhỏ và phân bố cho các nước.
Hiện nay ở Trung Quốc, tỉnh Quảng Đông, trong một tháp nhỏ trước bàn Phật mới hiện ra ba viên Xá-lợi của Phật, đó chắc cũng là một cái tháp của vua A-dục vậy.
*
*          *

/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »