2
VANG BÓNG ĐỨC TỪ PHỤ (*)
Lời nói đầu. — Cuộc đời linh động bực nhất là đời Đức Phật. Nhưng đây không phải là bài lịch sử về cuộc đời ấy. Nó chỉ có một hy vọng nhỏ, là làm sao cho những người sơ cơ xem qua nó, có thể còn như nghe thấy một vài vang bóng của đức Từ phụ, vang bóng mà ai cũng có thể nghe thấy được.
Cuộc đời Đức Phật có thể chia ra 4 giai đoạn: Ở đời, tu hành, độ sanh, Niết-bàn.
Đoạn 1. - Ở đời
(I)
Lịch sử chép cách nay trên 25 thế kỷ, dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, đức Giáo chủ của Phật giáo vĩ đại đã xuất hiện. Hy Mã Lạp Sơn, hòn núi cao nhất của xứ Ấn Độ, quy tụ xung quanh nó tất cả đặc sắc văn hóa và mọi nguồn sinh lực khác của xứ này.
_____________________________
(*) Vang bóng đức Từ phụ do Hòa thượng Trí quang biên soạn, Tâm ảnh lục tập 3 - 1962.
Thân phụ của Ngài là Hoàng đế Tịnh Phạn, thân mẫu là Hoàng hậu Ma Gia, quê hương là Ca Tỳ La Vệ, một tiểu quốc của Ấn Độ, tức Nepal ngày nay.
(2)
Ngài là một vị Hoàng tử danh tiếng, danh hiệu Tất Đạt Đa, đủ 32 tướng quý, hiếu thảo và thông minh; đức tính nổi nhất là từ bi, trí tuệ và vô úy.
Ngài kết hôn với Công chúa Gia Du Đà La, người sau này nổi tiếng khoan hồng nhất trong Giáo hội của Phật giáo.
(3)
Một hôm Ngài ra ngoài hoàng thành, thấy một nông phu đang cày ruộng khô dưới nắng bức. Dõi theo đường cày, những con quạ tranh nhau với mấy con sáo, bắt ăn những côn trùng bị cày lên với đất. Cảnh tượng này gợi cho Ngài suy nghĩ trong một buổi tịnh: “Chúng sanh lớn ăn nhỏ, mạnh hiếp yếu; sự sống đáng lẽ giúp nhau thì đằng này trái lại, sự sống đánh đổi bằng cái chết”.
Ngài đã ý thức rõ rệt về đời sống.
(4)
Ngài có một người em con chú bắn rơi một con thiên nga nhưng chưa chết. Ngài bắt được, nhổ tên,
cho thuốc và vỗ về nó. Người em giành lại, lấy lý đã bắn nó; nhưng Ngài không trả, lấy lý đã bắt được. Cuộc tranh chấp phải nhờ một vị lão thần uy tín phân xử. Kết quả Ngài thắng, khi vị ấy bảo:
“Nếu sự sống là quý nhất thì ai cứu sống con thiên nga người ấy đáng được làm chủ nó”.
(5)
Tâm trạng của Ngài chỉ nhìn xuống, không nhìn lên; luôn luôn Ngài suy nghĩ đến những nỗi khổ về sự sinh hoạt, sự già yếu, sự bịnh tật và sự chết chóc mà Ngài đã mục kích. Ngài cũng chỉ nhìn sự thật, không nhìn bề ngoài; Ngài bảo Công chúa Gia Du Đà La: “Ta nghe trong ta, trong em và trong hết thảy mọi người một sự tàn phá đang rầm rộ phát triển”.
“Sự bình đẳng hoàn toàn của tất cả mọi người cũng như mọi loài chính là đau khổ; ta có nghĩa vụ giải thoát nỗi đau khổ đó”, đó là sự quyết định xuất gia của Ngài.
Đoạn 2. - Tu hành
(1)
Rồi một hôm Ngài từ bỏ gia đình, ngôi vua và tất cả, cùng người hầu cận phi ngựa đến dòng A Nô Ma. ở đấy Ngài đã cắt ngang đầu tóc, cởi áo
hoàng bào: Ngài đã từ bỏ cuộc sống cao sang nhưng đổ vỡ của Đế vương, bước qua con đường tuy gai góc nhưng huy hoàng của Đức Phật.
(2)
Sau đó, Ngài khiêm tốn tìm học với các vị Đạo sĩ thủ lãnh các tôn giáo, học thuyết, nhưng bất mãn vì xét họ không ai thoát khỏi tư tưởng hệ của bản ngã. Ngài lại khổ hạnh 6 năm nhưng kết quả chỉ thấy sự suy nhược mà thôi. Nên không ép xác mà cũng không trụy lạc, Ngài bước vào đoạn đầu tiên của con đường trung đạo: Sau khi nhận sữa cúng dường của một mục nữ, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Tất Bát La, với nắm cỏ của một tiều phu cúng, thề rằng:
“Nếu không giác ngộ, tan xương nát thịt ta cũng không đứng dậy khỏi chỗ ngồi này”.
(3)
Dưới gốc cây Tất Bát La, Ngài làm một cuộc chiến đấu quyết liệt với ma quân, hiện thân của sự tham lam, tàn bạo và đầu óc của hai thứ đó là ngu si. Bọn ma quân đến khủng bố Ngài dữ dội, khi chúng cảm thấy lực lượng tàn ác của chúng sẽ thất bại vĩnh viễn bởi sự giác ngộ của Ngài.
Nhưng chúng đã bại trận; chính 3 tâm lý gây ra sự thù ghét của chúng cũng bại trận vì đức từ bi, đức trí tuệ và đức vô úy.
(4)
Lịch sử của Ngài có ghi rằng cuộc chiến đấu với ma quân cho đến một buổi sáng nọ, khi vừng sao mai vừa rạng rỡ thì Ngài đại giác ngộ. Diễn đạt một cách khác đi, thì Ngài đã giác ngộ bởi sự tận trừ tham, sân, si, sự giác ngộ đó mệnh danh là lậu tận minh: Tâm trí thanh tịnh đến tuyệt đối, biểu lộ một tuệ giác tuyệt vời.
Cạnh khía trước hết của lậu tận minh là thiên nhãn minh: Giác ngộ tính chất không gian của vạn vật, tính chất ấy là “tính chất tương quan”. Chính tương quan tạo ra sự “có” của vạn vật.
Thiên nhãn minh giác ngộ cùng tính chất vô biên của không gian.
(5)
Cạnh khía thứ hai của lậu tận minh là túc mạng minh, giác ngộ tính chất thời gian của vạn vật, tính chất ấy là “tính chất liên tục”. Chính liên tục thể hiện sự “còn” của vạn vật.
Túc mạng minh giác ngộ tận cùng tính chất vô tận của thời gian.
Sau khi viên mãn lậu tận minh, thiên nhãn minh và túc mạng minh, Hoàng tử Tất Đạt Đa đã thành Đức Phật Thích-ca. Ngài đã giác ngộ. Tất
Bát La, cái cây mà Ngài ngồi dưới gốc nó cũng được đổi tên là cây Giác Ngộ (cây Bồ-đề).
Đoạn 3. - Độ sanh
(1)
Bấy giờ, đối với đức Từ phụ, vấn đề quan trọng bậc nhất là vạch cho mọi người thấy:
Bánh xe Chánh pháp của Ngài được Ngài quay mạnh mẽ trong thế giới đen tối của đau khổ. Khởi sự từ vườn Lộc Uyển, Ngài vận dụng bánh xe Chánh pháp ấy cứu độ đủ mọi hạng người.
(2)
Đây là Thiện sanh, một người mê tín, người mà Đức Phật gặp trong lúc đang cúc cung bái lạy thần thánh 6 phương trời. Ngài bảo thần thánh 6 phương mà con người cần phải phụng sự không ai đâu khác hơn là cha mẹ, vợ con, bằng hữu, thân quyến, người phụ tùng và người cao thượng, những người đang ở ngay trong 6 hướng xung quanh con người. Nghĩa vụ về gia đình và xã hội được Ngài quy định trong lần
này. Lần này, lời dạy quan trọng nhất, còn ở chỗ dạy cho Thiện sanh ý thức kiếm của và dùng của. “Hãy học nghề nghiệp rồi kiếm của và dùng của một cách hợp lý”, đó là nguyên văn tiếng vang của lời Ngài nói với Thiện sanh.
Cũng lần này, địa vị căn bản của con người đối với bản thân, gia đình và xã hội của nó, được Ngài xác nhận và thành chủ trương của nền Phật giáo nhân gian. Năng lực tư tưởng và hành động là nguyên động lực tư tưởng và hành động là nguyên động lực của đời sống, nên con người phải tự cải thiện bản thân bằng cách thanh tịnh hóa nguyên động lực ấy để tạo nên cho mình một nhân cách tương đối, đó là lý luận thực tiễn của nền Phật giáo nhân gian.
(3)
Một anh chàng hung ác tên Vô Não. Vốn là kẻ quyền thế, Vô Não lại làm tín đồ của Bà-la-môn. Nghe lời thầy dạy, Vô Não ra đường thấy ai giết nấy, để lấy mỗi người một ngón tay kết lại mà mang cho được sanh lên thiên đàng. Khi mọi người khủng khiếp và lẫn trốn, Vô Não về nhà định tâm giết mẹ. Đúng lúc đó Phật đi ngang qua do sự cố ý của Ngài. Anh chàng bỏ mẹ chạy đuổi theo, nhưng chạy hết sức vẫn không kịp. Tức giận, Vô Não thét hỏi: “Sao Ngài đi tôi chạy mà không kịp?”.
“Chỉ vì anh động, tôi tĩnh, nên tôi đi mà anh không thể nào chạy kịp”. Chỉ một lời đó đã làm cho Vô Não hồi đầu.
(4)
Một hôm trên đường hóa độ, Ngài gặp một người gánh phân mình nhơ bẩn và hôi hám. Ngài liền đến nắm tay, nhẹ nhàng bảo: “Anh có thể trở thành một vị Thánh giải thoát”. Người ấy cố thoát tay Ngài, miệng thưa: “Xin đấng Thanh tịnh đừng gần con, gần con sẽ làm bẩn Ngài khiến con thêm tội lỗi; con một kẻ hạ tiện, không thể nào trở thành một vị Thánh được”. Nhưng Đức Phật bảo:
“Củi mục mới dễ bắt lửa; thành một vị Thánh hay không là do trí tuệ ở trong con người chứ không phải bề ngoài của con người ấy”.
Lời ấy đã làm cho người gánh phân trở thành một vị Giải thoát hữu danh sau này thực.
(5)
Đức Từ phụ không hề để phớt qua một việc lành nào đến với Ngài. Ký sự đời Ngài có ghi Ngài đã phục dịch người bịnh và đề cao sự phục dịch bịnh tật. Ngài đã đánh đuổi một con sói để cứu một con nai ngờ nghệch. Bà già hành khất lờ mắt, Ngài xâu kim giúp để bà vá áo. Một hôm gặp đám cừu
trong đó có con cừu non bị thương nơi chân, Ngài liền cúi ẩm đi theo mẹ nó.
Mọi cạnh khía việc làm của Đức Phật như thế này, với người có, với vật có, tổng hợp lại, xây đắp nên hình ảnh đức Từ bi cao vòi vọi như núi Hy Mã Lạp Sơn vậy.
(6)
Trước một tịnh xá Ngài tạm trú, một hôm dân chúng rủ nhau thắp mỗi người một cây ánh sáng, nến có, đèn có, đuốc cũng có, đa số đẹp và sáng lòa. Nhưng chỉ đầu hôm, càng về khuya những cây ánh sáng ấy yếu dần và tắt hẳn. Tất cả chỉ còn lại một ngọn đèn dầu đặt trong chiếc đĩa xấu và nhỏ, nhưng càng khuya càng rực rỡ. Cho đến sáng, Tôn giả A Nan quạt cũng không tắt. Ngài biết đó là cây đèn của một bà lão hành khất khốn khổ đã dốc hết tiền xin được mua hiến đức Thế Tôn. Ngài an ủi rất nhiều bà lão thành thực và bảo Ngài A Nan:
“Bà tha thiết cầu ánh sáng nên cây đèn của bà không có sức gì thổi tắt được đâu”.
(7)
Một thiếu phụ chết một đức con cưng. Nàng ôm xác đứa con đến xin Phật cứu sống. Ngài, trước sự đau đớn quay cuồng của người mẹ, nhẹ nhàng
bảo: “Con hãy đi tìm cho ta một nắm tro của một gia đình nào không có một người đã chết, ta sẽ dùng nắm tro ấy cứu sống cho cháu”.
Thiếu phụ rảo tìm khắp nơi. Nhưng đến gia đình nào nàng cũng nghe nói đến người chết. Và có nơi sự đau buồn than khóc còn thảm hơn nàng. Nàng hiểu ra, nỗi đau đớn của nàng nhờ vậy vơi đi. Nàng chôn cất xác con và bắt đầu khẩn thiết hướng về nẻo Thiện. Bằng cách đó, nàng nghĩ, nàng có thể bày tỏ lòng trìu mến vô tận đối với đứa con xấu số.
(8)
Một trong số những ông Vua hiếu thắng và hiếu chiến đã đến với Ngài, được Ngài khuyên dạy thâm thiết về tội ác của sự âm mưu và chinh chiến, tính chất cần thiết của hòa bình cũng được Ngài đề cao. Đời tư, những cuộc đời xa hoa, đọa đày dân tộc của vua chúa, cũng được Ngài cảnh giác. Ngài đề ra những nguyên tắc về chính trị và quân lực mà theo đó quốc gia không thể bị thù ghét, dân tộc có thể tiến bộ - một sự tiến bộ đúng theo quan niệm từ bi và tri giác, phù hợp ý nguyện chân thực của loài người. Và Ngài tổng kết ý mình như sau:
“Trị dân là hướng dẫn chứ không phải hành hạ; làm Vua, làm người cầm đầu, là làm bằng tài đức chứ không phải bằng con người của mình”.
(9)
Một nhà trí thức gặp Đức Phật trong trường hợp muốn được tỏ tài hùng biện và sự hiểu biết của ông về những vấn đề vũ trụ hữu hạn hay vô hạn? Bản ngã có hay không có? Sau khi chết còn hay không còn gì cả? Tác phong tự hào tự mãn thì khỏi nói, ông không quên mang theo. Nhưng Đức Phật chỉ nhẹ bảo:
“Nếu muốn suy luận thì sự thực cần phải suy luận nhất là sự đau khổ, nguyên nhân đau khổ và phương pháp hủy diệt nguyên nhân ấy. Những vấn đề trên không ảnh hưởng gì được trong công việc cần thiết này. Những người được mạng danh là trí thức, là phải hiểu cái lẽ đó”.
Lời dạy của đức Từ bi đã làm cho nhà trí thức được con đường trí tuệ.
(10)
Đức Phật, sau khi thuyết pháp giáo hóa cho đủ mọi hạng người, thanh niên và trí thức cũng chiếm số tương đương trong đó, Ngài tổng kết tư tưởng hệ của Ngài mà ta có thể tóm tắt lại như sau:
- Hệ thống giáo lý “căn bản” nhắm vào việc đào tạo một nhân cách tương đối để làm cơ sở cho mọi sự tốt đẹp của con người, trong đó có sự hướng thượng.
- Hệ thống giáo lý “hướng thượng nhắm vào việc tiến dẫn con người bước tới một nhân cách viên mãn, một Đức Phật.
Ngài tự hình dung giáo lý của Ngài như một lâu đài cao lớn, được xây cất trên một nền móng vững chắc. Và Ngài tuyên bố “phương pháp tự lợi tự tha ta đã nói đầy đủ”.
Đoạn thứ 4. - Niết-bàn
(1)
Sau khi tuyên bố như trên, đức Từ phụ báo tin sắp Niết-bàn của Ngài. Tôn giả A Nan lạy khóc, khẩn cầu Ngài lưu lại thêm nữa ở thế gian này. Ngài bảo:
“Không có lý cho đến bây giờ mà sự thực về vô thường vẫn chưa thay đổi được mọi cảm nghĩ của ông? Ta đã từng chứng minh vạn vật đều sinh diệt, trong đó kể cả cái thân xác phàm của các vị Thánh Giải thoát.
“Nhưng xác thân Ta nhập diệt mà pháp thần Ta vẫn thường trú. Pháp thân đó là Chánh pháp mà Ta đã thuyết minh một cách đầy đủ”.
(2)
Ngài lại huấn thị những lời cuối cùng này cho Giáo hội thanh tịnh của Ngài, trong lúc đêm đã khuya, bốn bề thanh vắng:
“Ta diệt độ rồi các con phải tôn kính giới luật. Giới luật là đức thầy cao cả của các con. Ta có còn cũng không khác gì giới luật ấy.
“Phải giữ niềm tự độ. Hãy quan niệm sự tinh tiến như những giọt nước tuy nhỏ nhưng rơi xuống liên tục thì có thể xuyến thủng tảng đá to lớn.
“Người ta có thể làm cho mặt trăng nóng lên, mặt trời lạnh đi, nhưng khổ là khổ, nguyên nhân của khổ có tiêu diệt khổ mới không còn: Những định lý ấy không ai có thể đổi khác đi được.
“Toàn thể vũ trụ nằm trong sự hư rã. Các con phải dùng ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Phải nghĩ rằng một đời trôi qua chỉ kết liễu trong ân hận”.
(3)
Tiếp theo những lời giáo huấn tối hậu đó, Ngài trịnh trọng nói lớn, tiếng Ngài được diễn tả như sóng hải triều:
“Ta dùng con mắt tuệ giác mà nhìn thì thấy hết thảy mọi người và muôn loài đều đã là hoặc sẽ là cha mẹ bà con của nhau. Vì vậy từ nay các con hãy đình chỉ việc ăn các thứ thịt”.
Rồi an nhiên đến mức độ tuyệt đối, Ngài nhập Niết-bàn.
(4)
Đức Từ phụ nhập Niết-bàn rồi, Tôn giả Ca Diếp Ba, người được Ngài giao trách nhiệm cầm đầu Giáo hội của Ngài, triệu tập các vị Thánh Thanh tịnh lại, kết tập giáo lý của đức Từ phụ đã truyền dạy, Ngài tuyên bố:
“Chúng ta có bổn phận gìn giữ pháp thân của đức Thế Tôn tồn tại vĩnh viễn giữa cuộc đời đổi thay không lường”.
Giáo lý được các vị Thánh Thanh tịnh kiết tập chia ra làm ba loại: Những bài thuyết pháp phổ thông của Phật gọi là Kinh tạng, những quy luật được Phật chế định gọi là Luật tạng, những diệu pháp thuộc tư tưởng hệ của Phật gọi là Luận tạng.
(5)
Trước khi các vị Thánh Thanh tịnh kết tập giáo lý, bảo tồn cái mà ta gọi là “pháp thân xá lợi” thì các vị vua chúa và mọi tầng lớp nhân dân quy tụ “sanh thân xá lợi”, tức xương cốt như ngọc của xác thân Đức Phật, dựng tháp tôn thờ.
Tháp đó, từ ngày ấy, song song với giáo lý, được dựng lên khắp nơi, từ nước này qua nước khác, thế hệ này truyền cho thế hệ sau, càng ngày càng cao và to, quy tụ lại cho lòng người bao nhiêu là ý niệm thanh tịnh.
15.06.2499