4
LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA (*)
Lời nói đầu
Lịch sử Đức Phật Thích-ca là lịch sử một con người, nhờ công phu tu tập bản thân, đã trở thành một con người hoàn thiện, một bậc Thánh giữa thế gian; “con người vĩ đại nhất sinh ra ở đời này”, nếu dùng lại lời của Thi hào Ấn Độ Tagore.
Bằng cuộc đời của Ngài, và bằng những lời dạy của Ngài được kết tập lại trong ba tạng kinh điển, Đức Phật đã khai thị cho loài người biết rằng, bất cứ một người nào, với sự nỗ lực của bản thân, đều có thể vươn lên tới đỉnh cao nhất của giác ngộ và giải thoát, như chính Đức Phật vậy.
Có thể nói, không có một tôn giáo nào, một hệ tư tưởng nào đề cao con người và đặt niềm tin vào con người như là Đạo Phật. Tính nhân bản tuyệt vời của Đạo Phật chính là ở chỗ đó.
___________________________
(*) Do Hòa thượng Thích Minh Châu biên soạn.
Tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành, gội sạch nội tâm để trở thành bậc Thánh, một con người hoàn thiện về đức hạnh và trí tuệ. Mỗi người chúng ta đều có khả năng và bổn phận thực hiện lời dạy đó, bức thông điệp mà Đức Phật đã trao cho loài người chúng ta, cho mỗi chúng ta. Đó là ý nghĩa chân chính của nhân sinh, giá trị chân thực của cuộc sống. Không thể có ý nghĩa nhân sinh nào cao quý hơn, khích lệ hơn đối với cuộc sống của chúng ta hiện nay.
Chúng tôi từ lâu vẫn cho rằng đời sống của Đức Phật Thích-ca, trong nét đại cương cũng như chi tiết, đều thể hiện và truyền đạt một cách vô cùng sinh động lời dạy đó của Đức Phật. Tin tưởng ở Đức Phật, đảnh lễ Ngài và niệm danh hiệu Ngài, chủ yếu là để học tập Ngài về cả hai mặt đức hạnh và trí tuệ, dù chỉ là trong muôn một. Người nào tuy ở xa Phật, nhưng sống có giới hạnh, theo lời Phật dạy, thì cũng như sống gần Phật. Người nào tuy sống bên cạnh Phật, nhưng sống không có giới hạnh, thì cũng không khác gì ở cách xa Phật muôn trùng.
Những người Phật tử Việt Nam chúng ta, tuy sống cách thời Đức Phật 2.500 năm, nhưng hãy giữ vững niềm tin rằng chúng ta vẫn sống bên cạnh Đức Phật nếu chúng ta sống có giới hạnh, theo đúng lời dạy trong con đường đạo tám ngành (Bát Chánh Đạo).
Sống trong vũ trụ này, được làm người là một chuyện khó. Đức Phật dạy: “Được làm người khó như
một con rùa chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên khỏi mặt biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Đông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến phương khác”. Được làm người cũng khó như con rùa chột mắt đó muốn chui qua được lỗ nhỏ của khúc gỗ như thế. Trong kinh Tương Ưng V, Đức Phật đã dạy: “Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần. Các ngươi nghĩ thế nào? Này các Tỷ-kheo, con rùa ấy, sau mỗi trăm năm, nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc cây có một lỗ hổng hay không?”
- “Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài”.
“Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có lỗ hổng ấy. Còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ, để được làm người trở lại. Vì cớ sao? Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có kẻ yếu bị ăn thịt...” (Tương Ưng V, 485).
“Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người. Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được Như lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp và luật
này do Thế Tôn thuyết giảng, chiếu sáng trên đời...” (Tương Ưng V, 459 - 460).
Đức Phật xuất hiện ở đời cũng là chuyện khó như thế. Pháp và Luật được Đức Phật truyền bá ở đời cũng là chuyện khó như thế. Chúng ta có ba cái may mắn hiếm có là được sống làm người, được biết Đức Phật Thích-ca và Pháp, Luật do Đức Phật dạy, ấy thế mà chúng ta lại không biết tranh thủ tối đa ba cái may mắn đó hay sao? Chúng ta lại có thể sống không giới hạnh, trái với lời Phật dạy, để rồi bị nghiệp ác lôi cuốn vào những cõi sống khác thấp hơn, khổ hơn cõi người, và cuối cùng phải phấn đấu trở lại làm người như con rùa chột mắt trong câu chuyện ví dụ của Đức Phật hay sao?
Rất mong quý vị Phật tử suy ngẫm về bài học của lịch sử Đức Phật, về ảnh dụ con rùa chột mắt chơi vơi trên đại dương, về ý nghĩa của nhân sinh, về giá trị chân thực của cuộc sống, về cuộc sống hiện thực hiện nay của mỗi chúng ta, làm sao để cho cuộc sống đó thật sự an lạc, hướng thượng, lợi cho mình, lợi cho người, lợi cho đời, lợi cho Đạo.
Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu Ni Phật.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 01/12/1988
Tỷ-kheo THÍCH MINH CHÂU
Lịch sử ĐỨC PHẬT THÍCH-CA
-
Thái tử Tất Đạt Đa(*) ra đời
Vào ngày rằm tháng 4, năm 623 trước Công nguyên(1) tại vườn Lumbinì (Lâm-tỳ-ni) gần thành Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ), một nơi hiện nay là vùng biên giới giữa Népal và Ấn Độ, Đức Phật Thích-ca đã giáng sinh, làm Hoàng tử con Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Mahà
___________________________
(*)Ghi chú về cách phiên âm: Các chữ Pàli đều phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt. Như Lumbini = Lum Bi Ni. Cách phiên âm theo chữ Hán, nếu quen thuộc, cũng được ghi kèm: Lumbini (Lâm Tỳ Ni). Còn nếu không quen thuộc thì thôi.
(1) Có các thuyết khác nhau về ngày sanh của Đức Phật:
-
Năm 565 trước công nguyên (theo sách: Chúng thánh điểm ký)
-
Năm 563 trước công nguyên (theo một số các khảo cổ học phương Tây)
-
Năm 624 trước CN (theo Phật sử Tích Lan và theo quyết định của Hội Phật giáo Thế giới qua tham cứu nhiều nguồn sử liệu khác nhau).
-
Năm 620 trước CN (Phật sử Tây Tạng)
-
Năm 623 trước CN (theo bia ký ở Buddha Gaya - Bồ-đề Đạo Tràng ở Ấn Độ).
Màyà (Ma Da). Vua Suddhodana trị vì một vương quốc nhỏ của bộ tộc Sakya (Thích-ca).
Vì Hoàng hậu Mahà Màyà qua đời 7 ngày sau khi Thái tử sinh ra, cho nên Thái tử được Bà dì Mahà Pajàpati Gotamì (Ma-ha Ba-xà-ba-đề), trực tiếp nuôi nấng, dạy dỗ, còn người con trai của Bà dì là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi dưỡng.
Tên riêng của vị Phật tương lai là Si Đác Ta (Tất Đạt Đa), tên dòng họ Ngài là Gotama (Cồ Đàm). Vì dòng họ này thuộc bộ lạc Sakya (Thích- ca), cho nên sau này Ngài có danh hiệu Sakya Muni (Thích-ca Mâu Ni). Muni là bậc Thánh, Sakya Muni là bậc Thánh thuộc bộ lạc Thích-ca.
2. Đạo sĩ A Tư Đà và Thái tử
Ngày Thái tử Si Đác Ta đản sanh là ngày hội vui lớn của toàn vương quốc. Dân chúng xa gần kéo về kinh đô Kapilavastu ăn mừng. Một vị Đạo sư già tên là Asita (A Tư Đà) cũng từ nơi ông tu hành trên núi Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn) đến cung Vua để chào mừng và xem tướng Thái tử. Gặp Thái tử, Đạo sĩ Asita bỗng nhiên chắp tay vái chào với thái độ hết sức cung kính. Đạo sĩ tuy cười mà vẻ mặt thoáng buồn. Được hỏi vì cớ sao, Đạo sĩ Asita trả lời là ông mừng vì Thái tử tương lai sẽ
thành Phật, bậc giác ngộ vô thượng, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua đời mà không được vị Phật tương lai trực tiếp giáo huấn, giác ngộ.
Trong kinh Sutta - Nipata (Kinh Tập, 101), có kể truyện Đạo sĩ Asita đang tu trên Tuyết Sơn, được chư Thiên mách bảo, bèn xuống núi, đến thành Kapilavastu xem tướng cho Thái tử.
“Thấy Thái tử chói sáng
Rực rỡ như vàng chói,
Trong lò đúc nấu vàng,
Được thợ khéo luyện thành
Bừng sáng và rực rỡ,
Với dung sắc tuyệt mỹ...
Sau khi thấy Thái tử,
Chói sáng như lửa ngọn,
Thanh tịnh như sao Ngưu,
Vận hành giữa hư không,
Chói sáng như mặt trời,
Giữa trời thu mây tạnh.
Ân sĩ tâm hân hoan
Được hỷ lạc rộng lớn. “
Và Đạo sĩ Asita nói là Thái tử tương lai sẽ tu chứng Phật quả, vì lòng từ thương xót chúng sanh mà truyền bá chánh pháp trên thế gian này.
“Thái tử này sẽ chứng,
Tối thượng quả Bồ-đề
Sẽ chuyển bánh xe Pháp,
Thấy thanh tịnh tối thắng
Vì lòng từ thương xót,
Vì hạnh phúc nhiều người,
Và đời sống phạm hạnh,
Được truyền bá rộng rãi.”
Nhưng vì nghĩ mình đã già, không còn sống được bao lâu nữa, để có thể trực tiếp nghe Đức Phật thuyết pháp, cho nên Đạo sĩ buồn và nói:
“Thọ mạng ta ở đời,
Còn lại không bao nhiêu,
Đến giữa đời sống Ngài
Ta sẽ bị mệnh chung.
Ta sẽ không nghe Pháp,
Bậc tinh cần vô tỷ,
Do vậy ta sầu não,
Bất hạnh và khổ đau...”
(Kinh Tập, 103)
3. Cuộc sống của Thái tử trong thời niên thiếu
Thái tử Si Đác Ta được nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục một cách toàn diện về hai mặt: Văn chương và Võ nghệ.
Khi Thái tử lên bảy tuổi, những thầy giáo giỏi nhất trong xứ được mời đến hoàng cung dạy cho Thái tử các môn học thế gian như Thanh minh (Ngôn ngữ học và Văn học), Công xảo minh (Công nghệ học), Y phương minh (môn học chữa bịnh), Nhân minh (Luận lý học) và Nội minh (Đạo học). Về Đạo học, Thái tử được dạy về 4 sách Thánh Veda, là các sách Thánh của Bà-la-môn giáo. Sách kể rằng: Chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên và 4 sách Thánh Veda. Đến năm 13 tuổi, Thái tử học võ thuật, theo truyền thống dòng dõi đẳng cấp võ tướng (Ksatryas - Sát đế ly). Nhờ có sức khỏe phi thường, Thái tử học môn võ gì cũng giỏi, về môn bắn cung, sách kể rằng, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên 7 lớp trống đồng, trong khi người giỏi nhất tại cuộc hội thi chỉ bắn xuyên được 3 lớp trống đồng. Vào tuổi 16, Thái tử cưới Công chúa Yasodhàrà (Da Du Đà La), đồng lứa tuổi với Thái tử. Và trong gần 13 năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời. Về quãng đời ấy của Ngài, Đức Phật kể lại như sau với các Tỷ-kheo(l), đệ tử của Ngài:
_____________________
(1) Tỷ-kheo: (Pàli: Bikkhu) Tu sĩ hành khất, cũng gọi là Khất
“Này các Tỷ-kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỷ- kheo, là không từ Kàsi(1) đến. Bằng vải Kàsi là khăn của Ta, này các Tỷ-kheo, bằng vải Kàsi là áo cánh, bằng vải Kàsi là áo lót, bằng vải Kàsi là áo khoác ngoài. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỷ-kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỷ-kheo, tại lâu đài mùa mưa, Ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quanh Ta...” (Tăng chi I, 161 - 162)
4. Quyết tâm xuất gia tầm đạo
Thế nhưng, với thời gian, do năng khiếu suy tư sâu sắc và lòng thương người bẩm sanh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong
________________________
sĩ. Tu sĩ Phật giáo thời Phật tại thế, sống bằng thực phẩm cúng dường của Phật tử tại gia.
(1) Kasi: Thành phố gần Benares nơi sản xuất loại vải lụa sang trọng.
nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sanh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người.
Một ngày, Thái tử đi ra ngoài thành dạo chơi và lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với những sự thật đen tối và đáng sợ: Thái tử lần lượt gặp một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và cuối cùng là một vị Tu sĩ với dung sắc giải thoát, khoan thai đi trên đường. Thái tử nghiệm thấy mình dù là Thái tử con Vua, cũng không thể thoát khỏi cảnh già, đau và chết; nhưng hình ảnh siêu thoát của vị Tu sĩ đã giúp Thái tử sớm thấy con đường dẫn tới giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người, con đường dẫn tới cõi Niết-bàn bất tử.
Từ đó Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái tử không vui: Công chúa Yasodhàrà mới hạ sinh con trai. Thái tử nói: “Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra”. Nhân đó, ông nội, Vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La Hầu La).
5. Sự từ bỏ vĩ đại
Lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa cho Thái tử, lòng nặng trĩu tình thương chúng sanh chìm đắm trong bể khổ và Thái tử càng thêm quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôn loài. Thế rồi vào một đêm Thái tử ra lịnh cho người nô bộc trung thành là Channa (Xa Nặc) thắt con ngựa Kanthaka (Kiền Trắc). Trước khi xuất phát, Thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng Công chúa Yasodàrà (Da Du Đà La) và người con trai đang ngủ thiếp. Thái tử hé cửa nhìn vào, Thái tử rất yêu thương người vợ và con trai của mình, nhưng đối với nhân loại đau khổ bất hạnh, lòng thương xót của Thái tử lại còn da diết hơn. Sau đó, Thái tử một mình lên ngựa ra đi, vượt khỏi hoàng thành, theo sau chỉ có người nô bộc trung thành Channa. Ra đi, Thái tử từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ và con, cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc của một Hoàng tử. Không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là sự hy sinh từ bỏ của một vị Hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người.
Năm ấy, Thái tử tròn 29 tuổi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, tóc,
trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về. Còn Thái tử một mình ra đi, với bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ, từ nay cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Ngài không nơi ở cố định. Khi thì ngồi dưới bóng cây, khi thì nằm nghỉ qua đêm trong một hang đá. Chân không và đầu để trần, Ngài đi bình thản giữa nắng nóng cũng như trong sương đêm lạnh, tất cả mọi năng lực và ý chí của Ngài đều hướng tới lý tưởng cao cả tìm ra sự thật tối hậu, lý lẽ của cuộc sống và chết, ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc đời, con đường dẫn tới giải thoát, cõi Niết-bàn bất tử.
6. Đến học hai đạo sĩ Alara Kàlàma và Uddaka Ràmaputta
Thời bấy giờ, tình hình chính trị tại các xứ ở Ấn Độ khá ổn định, nhiều nhà tri thức lỗi lạc xuất gia tu đạo, trở thành Đạo sư tâm linh với nhiều đệ tử theo học. Thái tử Si Đác Ta trên đường đi tầm đạo đã tới thụ giáo với hai Đạo sư danh tiếng nhất thời bấy giờ là Àlara Kàlàma và Uddaka Ràmaputta. Cả hai người đều tu theo phép Du Già(l) và đều chứng được những cấp thiền định cao nhất thời bấy giờ. Àlara Kàlàma chứng được cấp
______________________
(1) Du Già (s. Yoga): Phép tu điều tâm, có từ lâu ở Ấn Độ trước khi có Đạo Phật.
thiền Vô sở hữu xứ, còn Uddaka Ràmaputta thì chứng được cấp thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là hai cấp thiền thuộc Vô sắc giới(1), hai cấp thiền cao nhất mà tu sĩ Du Già thời bấy giờ chứng đạt được(2). Nhưng chỉ một thời gian ngắn tu học, Thái tử cũng dễ dàng đạt được hai cấp thiền nói trên và được hai Đạo sư mời ở lại cùng với họ lãnh đạo chúng đệ tử. Thái tử biết rõ, các cấp thiền mà Ngài chứng được chưa phải là chân lý tối hậu, Niết-bàn, sự chấm dứt sanh tử và mọi khổ đau. Cho nên, Ngài từ chối lịch sự, rồi lại lên đường tiếp tục cuộc hành trình cầu đạo của mình. Qua thực nghiệm, Ngài thấy chân lý tối hậu, Niết-bàn, chấm dứt mọi đau khổ của sanh tử luân hồi, không thể
___________________________
(1) Vô sắc giới: Theo vũ trụ quan Phật giáo, chúng sanh sống phân biệt trong 3 cõi: thứ nhất là cõi Dục giới, trong đó chúng sanh còn có lòng dục, chủ yếu là sắc dục nam nữ. Loài người, một số loài Trời, loài A Tu La, súc sanh, quỷ đói và địa ngục đều thuộc cõi Dục giới này. Các loài này tuy có trình độ cao thấp khác nhau, sướng khổ khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là còn có lòng dục. Thứ hai là cõi Sắc giới, ở đây chúng sanh vẫn có sắc thân đẹp đẽ nhưng đã không còn có lòng dục nữa. Thứ ba là cõi Vô sắc giới, ở đây chúng sanh không còn có lòng dục, cũng không còn sắc thân, sống cuộc sống tinh thần thuần túy, thường xuyên ở trong thiền định.
(2) Cấp thiền Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ đều là những cấp thiền thuộc Vô sắc giới, chỉ có thể chứng đạt khi người hành thiền vượt qua mọi chướng ngại về sắc tưởng (chấp thủ sắc).
cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một bậc Đạo sư nào. Chân lý tối hậu đó phải chính do Ngài tự tìm lấy, tự chứng ngộ lấy ở bên trong nội tâm của Ngài, không thể dựa vào một tha lực nào khác.
7. Tu khổ hạnh 6 năm
Thái tử đến một nơi gọi là Uruvela, thị trấn của Senàni. Ngài tìm được một khoảnh đất đẹp và mát, có con sông nhỏ chảy qua giữa bờ cát trắng. Gần đây lại có làng nhỏ, có thể đi khất thực hàng ngày. Đúng là một nơi yên tĩnh, đẹp đẽ, rất thích hợp với trầm tư mặc tưởng và tu tập thiền định. Cùng đến nơi đây tu tập với Thái tử còn có các tu sĩ Kondanna(1), Bhaddiya, Vappa, Mahànàma và Assaji. Kondanna vốn là vị Đạo sĩ trẻ tuổi nhất trong số các Đạo sĩ được Vua Suddhodana mời tới kinh đô để xem tướng Thái tử, lúc Ngài mới đản sanh.
Thời bấy giờ, ở Ấn Độ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người
_______________________
(1)Kondanna: Hán dịch âm Kiều Trần Như. Bốn tu sĩ kia đều là con trai của bốn Đạo sĩ khác, cùng đi với Kondanna đến xem tướng Thái tử.
Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẳm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa. Ngài nghiệm thấy càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. Ngài thấy rõ khổ hạnh, ép xác không phải con đường thoát khổ và cứu khổ.
Thái tử quyết định ăn uống bình thường trở lại. Năm người bạn đồng tu, vốn đặt niềm tin và hy vọng tuyệt đối vào Thái tử, tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, bèn rời bỏ Thái tử, đến vườn Nai ở Isipatana gần thành phố Benares để tiếp tục tu hành. Họ nói rằng, Thái tử Si Đác Ta đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất...
8. Chứng ngộ chân lý tối hậu
Ở lại một mình, Thái tử quyết tâm tự mình phấn đấu để chứng ngộ chân lý tối hậu. Ngài lấy lại sức nhờ uống bát sữa do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường. Sau đó, Ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ-đề, để đánh dấu sự kiện thành đạo vĩ đại của Ngài.
Với tâm định tĩnh, nhu nhuyến, trong sáng như gương, Ngài suy tư về lẽ sống chết, về những
nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát dẫn tới Niết-bàn. Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác do mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, lậu hoặc, vô minh, đã được giải thoát và giác ngộ và thành tựu đại giác vô thượng. Ngài đã thành Phật.
Sau này, Đức Phật đã kể lại cho các đệ tử của mình như sau:
“Này các Tỷ-kheo! Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn, và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái
không bệnh, vô thượng, an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn... Và Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. “Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa” (Kinh Thánh cần, Kinh Trung Bộ I, 268).
Như vậy, sau 6 năm gian khổ, kiên trì, không mệt mỏi, vào năm 35 tuổi, Thái tử Si Đác Ta đã chứng ngộ chân lý cứu cánh vô thượng và trở thành Đức Phật, bậc Toàn giác mà sự xuất hiện là chuyện hy hữu nhất trên đời này(1).
Từ nay, thế gian tôn xưng Ngài là Đức Phật Gotama hay Đức Phật Thích-ca.
Từ Pàli, Buddha có chữ gốc “Buddh” là hiểu biết giác ngộ chân lý tối hậu, cứu cánh. Sách Pàli gọi Ngài là Sammà Sambuddha, với nghĩa là bậc Toàn giác, không gì không biết, không thấy, bậc Thánh, không những giác ngộ đầy đủ cho bản thân mình, mà còn giác ngộ đầy đủ cho tất cả mọi người khác, cho tất cả mọi chúng sanh.
________________________
(1) “Khó thay được làm người, Khó thay được sống còn, Khó thay nghe diệu pháp, Khó thay, Phật ra đời!” (Kệ, 182, Pháp Cú)
9. Đức Phật do dự trước khi chuyển bánh xe pháp
Chuyển Pháp Luân là chuyển bánh xe Pháp, tức là truyền bá cho thế gian biết về đạo Pháp mà Phật đã chứng ngộ. Ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ- đề, sau khi đã chứng quả giác ngộ vô thượng, Đức Phật có suy nghĩ như sau:
“Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý “duyên khởi ra các pháp” (Paticcasamuppàda): Sự kiện này thật khó thấy, tức là sự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thì như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta.” (Trung Bộ I, 268 - 269)
Nhưng rồi Đức Phật nhìn quanh một lượt khắp thế gian với con mắt trí tuệ và suy nghĩ:
"... Có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm
làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ- kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh ở thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây:
“Cửa bất tử rộng mở
Cho những ai chịu nghe
Hãy từ bỏ tín tâm
Không chính xác của mình... ”
(Trung Bộ I, 271)
Rồi Đức Phật quyết định sẽ gióng lên tiếng trống của Pháp, sẽ tuyên bố với thế gian, với loài người và loài Trời, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường đạo dẫn tới cõi bất tử, cõi Niết- bàn. Thế là bánh xe Pháp bắt đầu chuyển.
10. Đức Phật giảng pháp lần đầu tiên tại Vườn Nai, gần thành Ba-la-nại (Benares)
Năm tu sĩ, bạn đồng tu của Thái tử ở Uruvela, nay vẫn tiếp tục tu khổ hạnh ở vườn Nai gần thành phố Benares. Họ rời bỏ Thái tử, vì họ tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, giữa đường bỏ cuộc. Nhưng thực ra, sau 6 năm tu khổ hạnh, Thái tử đã thực nghiệm và thấy rõ tất cả sự vô ích và vô lý của lối tu khổ hạnh, ép xác chỉ làm con người suy yếu về thân xác, mệt mỏi về tinh thần. Và Thái tử ở lại một mình, kiên trì, phấn đấu và cuối cùng đã giác ngộ, thành Phật dưới gốc cây Bồ-đề.
Sau khi đã quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho thế gian, vì lòng thương xót loài người và loài Trời, Đức Phật nghĩ ngay tới 2 vị thầy cũ của mình là Àlara Kàlàma và Uddaka Ràmaputta, nhưng cả hai ông này đều đã qua đời cách đó không lâu. Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của Ngài đang ở tại Vườn Nai, gần Benares và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài. Rồi Đức Phật lên đường đi Benares. Tại đây, ở Vườn Nai gần Benares, Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 người bạn đồng tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau ngày Đức Phật thành đạo. Sau này, nó
được biểu trưng một cái bánh xe, có 2 con nai nâng đỡ hai bên.
Hai con nai biểu trưng cho địa điểm thuyết pháp, Vườn Nai, cũng gọi là Lộc Uyển. Bánh xe - Dhammacakka - tức là bánh xe Pháp, sách Hán dịch là Pháp luân. Cả đầu đề bài kinh là Dhamma-cakkappavattana, có nghĩa là “chuyển bánh xe Pháp”.
11. Nội dung Kinh Chuyển bánh xe pháp
Trong bài kinh này, Đức Phật mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một cực đoan là đam mê thú vui nhục dục thế gian, thực ra chỉ là những cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh. Một cực đoan thứ hai là khổ hạnh, ép xác, vì nó làm mệt mỏi tinh thần, mê mờ trí tuệ, do đó cũng là có hại, vô ích. Đức Phật khuyến cáo nên rời bỏ hai cực đoan trên và theo con đường trung đạo dẫn đến cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt và giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo tám ngành nổi tiếng, sách Hán thường dịch là Bát Chánh Đạo:
1. Chánh tri kiến: Thấy biết chân chánh.
Chánh tư duy. Suy nghĩ chân chánh, ý chí chân chánh.
3. Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, tức là không nói dối, không nói ác, không nói chia rẽ, không nói lời vô nghĩa.
4. Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, tức là không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không rượu chè.
5. Chánh mạng: Sinh sống bằng nghề chân chánh, không phải bằng nghề bất lương như buôn bán lừa đảo, buôn vũ khí và thuốc độc, buôn bán nô tỳ v.v...
6. Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ mọi điều bất thiện, làm mọi điều thiện, làm mọi điều tốt lành.
7. Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh, không nghĩ nhớ điều tà vạy, ác xấu, mê lầm.
8. Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng.
Con đường đạo tám ngành là con đường đạo chân chánh, dẫn tới chấm dứt mọi đau khổ, phát khởi trí tuệ, đưa đến Niết-bàn, là sự giải thoát vĩnh viễn khỏi vòng sống chết luân hồi, là sự thanh tịnh tuyệt đối và an lạc tuyệt đối.
Trong bài thuyết pháp đầu tiên này, Đức Phật giảng về bốn chân lý cao cả, cũng gọi là bốn chân
lý Thánh, bởi vì chúng được phát hiện và tuyên thuyết bởi bậc Thánh vĩ đại nhất là Đức Phật. Đó là chân lý về sự khổ (sách Hán gọi là Khổ Đế), chân lý về nguyên nhân của sự khổ (Tập đế), chân lý về diệt khổ (Diệt đế), chân lý về con đường đạo diệt khổ (Đạo đế).
Nghe xong bài thuyết pháp này và một bài thứ hai có đầu đề “Anattalakkhana sutta”, bàn về thuyết vô ngã (không có cái Ta), năm vị tu sĩ ở Lộc Uyển được giác ngộ và không bao lâu trở thành A- la-hán.
-
Đức Phật giác ngộ cho Yasa và những người bạn của Yasa
Gần Benares, có con trai người triệu phú tên là Yasa, tuy sống cuộc đời đầy đủ xa hoa, nhưng lại sớm chán cảnh sống thế gian tầm thường vô vị. Yasa tìm đến Đức Phật, bộc lộ với Đức Phật tâm trạng chán chường của mình, và được Đức Phật thuyết pháp về hạnh bố thí, về nếp sống đạo đức, về các cõi Trời, về nguy hại của dục lạc thế gian, về hạnh phúc của nếp sống Thánh, hỷ xả, không tham trước. Và sau đó, Đức Phật giảng cho Yasa về bốn chân lý cao cả: sự khổ, nguyên nhân của khổ, cảnh giới Niết-bàn an lạc và con đường đạo tám ngành dẫn tới Niết-bàn.
Cha của Yasa, trên đường đi tìm con trai, cũng đến Vườn Nai và được nghe Phật thuyết pháp, ông xin Phật cho quy y và trở thành người đệ tử tại gia đầu tiên của Phật. Còn Yasa thì xin Phật cho xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Như vậy, với Yasa, bên cạnh Đức Phật đã có sáu vị A-la-hán. Khi Đức Phật đến thăm nhà cha của Yasa theo lời thỉnh cầu của ông này thì cả người mẹ và người vợ cũ của Yasa cũng xin quy y làm đệ tử tại gia của Đức Phật. Bốn người bạn của Yasa là Vimala, Subahu, Punnaji và Gavampati, noi gương Yasa cũng xin xuất gia, và không bao lâu đều chứng quả A-la-hán.
13. Đoàn Tăng sĩ thuyết pháp đầu tiên
Bấy giờ, Đức Phật có sáu mươi đệ tử đều là A- la-hán. Ngài quyết định phái họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Đức Phật đã động viên họ với lời lẽ như sau:
“Hỡi các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian.
Các người cũng vậy, hỡi các Tỷ-kheo, cũng đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian.
Hãy đi! Hỡi các Tỷ-kheo, vì lợi lạc số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn với thế
gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của loài Trời và loài người. Các người hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng. Hãy truyền bá đạo pháp, hỡi các Tỷ-kheo. Đạo pháp toàn thiện, ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn, hãy tuyên bố về cuộc sống Thánh, toàn thiện và thanh tịnh...” (Mahavagga 19).
Tỷ-kheo, dịch âm từ chữ Pàli Bhikkhu, nghĩa là “Người khất thực”. Đức Phật lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, với 60 người học trò đã chứng quả A- la-hán, tổ chức thành một tăng đoàn những tu sĩ khất thực, không có nhà ở cố định, không có của cải vật chất nào khác ngoài tấm áo vàng che thân và bình bát để xin ăn... Thuyết giảng về đạo lý cứu khổ và cuộc sống Thánh hạnh, tự mình nêu gương sáng về cuộc sống Thánh hạnh và giải thoát, đó là sự nghiệp, là nội dung công tác chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên do Đức Phật đích thân thành lập và chỉ đạo.
14. Giác ngộ cho ba mươi thanh niên
Sau khi Đức Phật phái các đệ tử mỗi người đi một ngã để truyền bá chánh pháp, Ngài cũng lên đường đến Uruvela. Dọc đường, Ngài ngồi nghỉ ở một gốc cây, trong một khu rừng nhỏ. Lúc bấy giờ, có ba mươi thanh niên nhà giàu đem vợ theo đến
vui chơi giải trí trong chính khu rừng đó. Trong số này có một thanh niên chưa vợ, đem theo một kỹ nữ nhưng cô ả đã lẫn trốn với nhiều của cải và đồ trang sức của họ. Các thanh niên lùng bắt người kỹ nữ trong khu rừng, gặp Đức Phật và hỏi Ngài có thấy người phụ nữ trẻ qua đây không.
Đức Phật hỏi: “Hỡi các thanh niên, tìm người kỹ nữ tốt, hay là tìm thấy bản thân mình tốt hơn?”
Họ đều trả lời là tìm thấy bản thân mình tốt hơn.
Đức Phật nói: “Thế thì được! Các bạn trẻ, hãy ngồi lại đây, Ta sẽ thuyết pháp cho.”
Các thanh niên kính lễ Phật với thái độ trân trọng rồi ngồi xuống nghe Phật giảng pháp.
Nhờ nghe pháp, họ được giác ngộ và xin Phật cho xuất gia làm Tỷ-kheo.
15. Ba anh em ông Kassapa (Ca-diếp) được giác ngộ
Gần Uruvela, có ba tu sĩ khổ hạnh là ba anh em ông Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gayà Kassapa. Người anh lớn Uruvela Kassapa có 500 đệ tử, hai người em có 300 và 200 đệ tử. Ba anh em ông Kassapa đều là những Đạo sĩ có danh vọng lớn ở xứ Magadha, đặc biệt là người anh cả Uruvela Kassapa, ông này thờ Thần Lửa, và tự cho
mình đã chứng quả A-la-hán. Đức Phật lại gặp ông đầu tiên và xin được phép ngủ qua đêm tại phòng riêng của ông này, ở đây có thờ một con rắn thiêng rất độc. Ông Kassapa tưởng rằng Đức Phật thế nào cũng bị con rắn thiêng cắn chết, nào ngờ chính con rắn bị Đức Phật hàng phục bằng sức thần thông của Ngài(1). Cả ba anh em, với số học trò đông đảo đều xin xuất gia theo Đức Phật. Sau đó, cả đoàn người cùng đi với Đức Phật đến một nơi gọi là Gaya Sisa, không cách xa Uruvela mấy. Ở đây, Phật giảng kinh Àditta-pariyaya Sutta(2). Nghe xong kinh này, tất cả các Tỷ-kheo có mặt đều chứng quả A-la-hán.
16. Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Moggalàna (Mục-kiền-liên) trở thành hai đệ tử hàng đầu của Đức Phật.
Gần thành Vương Xá (Rajagaha), tại làng Upatissa, có một thanh niên rất thông minh tên là
___________________________
(1) Đức Phật thường răn các đệ tử nên giáo hóa bằng thuyết pháp và gương sáng đạo đức, không được dùng phép thần thông làm cho quần chúng bị mê hoặc. Chỉ khi nào phải đối phó với ngoại đạo, thường hay khoe phép thần thông, như trường hợp ông Kassapa với con rắn thiêng, Đức Phật và các đệ tử của Ngài mới dùng phép thần thông.
(2) Đây là bài thuyết pháp nổi tiếng với chủ đề: Tất cả trong thế gian này đều như trong tòa nhà cháy rực, cháy bằng ngọn lửa tham, sân, si, sinh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ não và thất vọng. Do đó, bậc Thánh đệ tử sinh lòng nhàm chán, cắt đứt tham ái, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Sàriputta. Gia đình ông thuộc loại giàu có và danh tiếng nhất làng, cho nên ông cũng có tên là Upàtissa. Tuy sống trong cảnh giàu sang quyền quý, nhưng ông sớm cảm thấy tính trống rỗng vô vị của cuộc sống thế tục. Ông cùng với người bạn thân là Moggallàna, ở Kolita thường xuyên đi khắp nơi, tìm thầy học đạo. Đấy cũng là thời điểm Đức Phật phái các đệ tử đi truyền giáo. Sàriputta được gặp A-la-hán Assaji đang đi khất thực trong thành Vương Xá và xúc động mạnh mẽ trước dung mạo trang nghiêm và khí sắc giải thoát của vị A-la-hán trẻ tuổi này. Sàriputta đến gần và hỏi:
“Thưa Ngài tôn kính! Các căn của Ngài thật an tịnh, màu da của Ngài thật trong sáng. Được sự chỉ đạo của bậc Đạo sư nào mà Ngài xuất gia? Bậc Đạo sư của Ngài là ai? Ngài theo giáo lý nào?”
A-la-hán Assaji trả lời với thái độ khiêm tốn:
“Tôi còn rất trẻ trong Tăng đoàn, thưa Ngài, và tôi không có khả năng thuyết pháp được nhiều cho Ngài.”
Nhưng vì Tôn giả Xá-lợi Phất khẩn khoản yêu cầu, cho nên A-la-hán Assaji đọc câu kệ:
“Sự vật bắt nguồn từ nhân duyên
Đức Như lai nói rõ nhân duyên đó,
Và bậc Đạo sư cũng nói rõ
Sự vật đó tiêu diệt như thế nào. ”
Ngài Sàriputta rất thông minh, chỉ mới nghe 2 câu kệ đầu đã chứng ngay Sơ quả(1). Sau đó, Ngài về báo tin cho người bạn thân Moggallàna và cả hai người cùng đến yết kiến Đức Phật ở tu viện Veluvana. Đức Phật thâu nhận hai ông vào Tăng chúng với cầu nói đơn giản; Ehi Bhikkhave! (Hãy đến đây! Các Tỷ-kheo). Mười lăm ngày sau đó, Sàriputta chứng quả A-la-hán, khi nghe Đức Phật giảng kinh Vedana Pariggha cho du sĩ ngoại đạo Dighanakha, còn Mục Kiền Liên thì chứng quả A- la-hán trước đó một tuần.
Ngay chiều hôm Ngài Sàriputta chứng quả A- la-hán, Đức Phật triệu tập Tăng chúng lại và tuyên bố hai Ngài là hai vị Thượng thủ của Tăng đoàn.
17. Đức Phật Thích-ca về thăm gia đình
Thân phụ Đức Phật, Vua Suddhodana bây giờ đã già yếu, nghe tin Đức Phật thành đạo và đang thuyết pháp ở thành Ràjagaha (Vương Xá). Vua rất
___________________________
(1) Sơ quả: là quả Thánh đầu tiên, cũng gọi là Sotapanna. Sotapanna nghĩa là vào giòng các bậc Thánh. Khi đã chứng Sơ quả rồi, người tu sĩ không còn thoái lui nữa, cho nên cũng gọi quả này là Quả bất thoái chuyển (Sách Hán dịch âm là Tu Đà Hoàn).
nóng lòng được gặp lại con. Vua liền phái sứ giả đến Ràjagaha (Vương Xá) thỉnh cầu Đức Phật trở về thăm cố đô và gia đình. Nhưng các sứ giả của Vua đến Vương Xá, được nghe Phật thuyết pháp đều xin xuất gia làm Tỷ-kheo và chứng quả A-la- hán. Vị sứ giả thứ mười là Kaludàyi, vốn là người bạn thân cũ của Đức Phật, lúc Ngài còn là Thái tử. Ông này đến Vương Xá, nghe Phật nói Pháp, cũng xin xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán như chín vị sứ giả trước. Kaludàyi không quên chuyển tới Đức Phật lời phụ vương mời Đức Phật về thăm gia đình. Đức Phật nhận lời, lên đường cùng với đông đảo đệ tử.
18. Đức Phật và phụ vương Suddhodana
Đức Phật và các đệ tử của Ngài được Vua Suddhodana, quần thần và dân chúng đón tiếp rất long trọng. Được nghe Đức Phật thuyết pháp, Vua chứng ngay Sơ quả (Tu Đà Hoàn). Khi nghe bài thuyết pháp thứ hai, nhà Vua chứng quả Thánh thứ hai, Sakadàllàmi (Tư Đà Hàm), Bà dì Pajàpatì Gotamì thì chứng Sơ quả (Sotapanna - Tu Đà Hoàn). Lần thứ ba, Đức Phật giảng kinh Dhammapala Jàtaka cho Vua cha, và Vua cha chứng quả Thánh thứ ba (Anàgàmi - A Na Hàm). Sách kể rằng, sau này, trên giường bệnh, Vua cha lại được Đức Phật về thăm và giảng pháp. Lần
nghe pháp cuối cùng này, Vua chứng quả A-la-hán. Và sau bảy ngày tận hưởng lạc thú giải thoát, Vua qua đời vào năm Đức Phật tròn 40 tuổi.
19. Đức Phật và Công chúa Yasodharà (Da-du-đà-la)
Công chúa Yasodharà (Da Du Đà La) vốn là con gái Vua Suppabuddha (Thiện Giác), đứng đầu giòng họ Koliya. Sau khi Thái tử rời bỏ hoàng cung, xuất gia cầu đạo, Công chúa cũng bỏ hết đồ trang sức, mặc áo vàng của người nữ tu sĩ, và tận tình nuôi người con trai là La Hầu La đến tuổi khôn lớn.
Ngày thứ hai Đức Phật đến thành Kapilavastu, Đức Phật cùng với đông đảo đệ tử đến dùng bữa ăn trưa tại hoàng cung theo lời mời của Vua cha. Sau bữa tiệc, Đức Phật cùng với hai đệ tử thân cận, Sàriputta và Moggallàna đến phòng Công chúa. Sau khi Đức Phật vào phòng và ngồi vào chỗ xếp sẵn, Công chúa đảnh lễ Phật với thái độ vô cùng cung kính. Đức Phật giảng truyện bổn sanh Candakinnara và nói: “Thưa phụ vương, không phải chỉ trong kiếp này, mà trong một kiếp sống trước, Công chúa cũng đã từng bảo vệ tôi và thủy chung với tôi.” Sau khi nhắc lại chuyện kiếp trước, Đức Phật an ủi Công chúa và từ giã hoàng cung.
Sau khi Vua Suddhodana qua đời, Bà dì Pàjapatì xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Công chúa cũng xuất gia và không bao lâu chứng quả A Lá Hán. Trong số các Tỷ-kheo-ni, Công chúa là người giỏi phép thần thông nhất. Năm 78 tuổi, Công chúa nhập Niết-bàn.
20. Đức Phật và Ràhula (La Hầu La)
Ràhula (Hán dịch là La Hầu La) là người con trai độc nhất của Đức Phật, khi Đức Phật còn là Thái tử. Lần đầu tiên Đức Phật trở về thăm cố đô và gia đình sau ngày thành đạo, Rahula lên 7 tuổi, được Bà Dì là Mahà Pajàpatì Gotamì (Ma ha Ba-xà-ba-đề) trực tiếp nuôi dưỡng, săn sóc. Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Ràhula vẫn được chấp nhận vào Tăng đoàn, và được Đức Phật giao cho Ngài Sàriputta trực tiếp dạy dỗ.
Một trong những bài kinh nổi tiếng Đức Phật đích thân giảng cho Ràhula sau khi Ràhula xuất gia là kinh Ambalatthika Ràhulovada sutta(1), trong đó Đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của tánh trung thực, của sự phản tỉnh để trừ diệt mọi ý niệm, lời nói và hành vi bất thiện, bất chánh.
Nhờ luyện tập phép tu thiền niệm hơi thở theo lời chỉ dẫn của Đức Phật, và sau khi nghe giảng kinh
___________________________
(1) Xem Trung Bộ II, 122.
Cùla Ràhulovada(l), Ngài Ràhula chứng quả A-la- hán. Ngài qua đời trước Đức Phật và Ngài Sàriputta.
Trong “Trưởng Lão Tăng Kệ” có hai bài kệ như sau của Ràhula, sau khi Ngài chứng quả A-la-hán:
“Nhờ ta được đầy đủ Hai đức tánh tốt đẹp Được bạn có trí gọi:
“Rahula may mắn ”
Ta là con Đức Phật,
Ta lại được pháp nhãn,
Các lậu hoặc đoạn tận,
Không còn có tái sanh
Ba minh ta đạt được
Thấy được giới ‘bất tử’. ”
21. Đức Phật và Bà dì Mahà Pajàpati Gotamì (Ma-ha Ba-xà-ba-đề)
Bà dì Gotamì là em Hoàng hậu Màyà và là vợ thứ của Vua Suddhodana. Sau khi Hoàng hậu Màyà qua đời, bà lãnh trách nhiệm săn sóc, nuôi nấng Thái tử Sĩ Đạt Ta.
Lần đầu tiên Đức Phật về thăm thành Kapila- vastu sau ngày Ngài thành đạo, bà Dì có trực tiếp
________________________
(1) Xem Trung Bộ II, 122.
xin Đức Phật cho xuất gia làm Tỷ-kheo-ni, nhưng Đức Phật không chấp nhận, mà cũng không nói rõ lý do. Bà Gotamì ba lần xin, Đức Phật đều từ chối. Sau khi rời Kapilavastu, Đức Phật cùng với số đệ tử đông đảo đến thành phố Vesàli, ngụ tại tinh xá Kutagara.
Bà Gotamì cùng với nhiều bà khác thuộc dòng họ Sakya, đầu cạo tóc, thân đắp y vàng, kéo nhau đến Vesàli và đứng chờ ngoài cửa tinh xá, nơi Đức Phật an nghỉ. Từ Kapilavastu đến Vesàli, con đường dài 150 dặm, bà Gotamì và các bà dòng họ Sakya chân sưng phồng, quần áo đầy bụi, vẻ mặt buồn bã nhưng kiên quyết, yêu cầu Ngài Ànanda cho được gặp Đức Phật. Ngài Ànanda động lòng thương xót, vào xin Đức Phật cho phép các bà được xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Ngài Ànanda hai ba lần nài xin, Đức Phật đều không chấp nhận. Ngài bèn thưa với Phật:
“Nếu phụ nữ được xuất gia và tu học theo pháp và luật của Đức Thế Tôn thì họ có thể chứng quả Thánh thứ nhất, quả Thánh thứ hai, quả Thánh thứ ba và cuối cùng có chứng được quả Thánh A-la- hán không?”
Đức Phật trả lời là họ có khả năng chứng các quả Thánh nói trên. Ngài Ànanda bạch tiếp: “Nếu
họ có thể chứng được các quả Thánh thì cớ sao bà Dì Gotamì lại không được xuất gia theo pháp và luật của Đức Thế Tôn, vì bà Dì đã trực tiếp nuôi nấng săn sóc Thế Tôn từ ngày Đức Thế Tôn còn tấm bé”.
Đức Phật nói: “Nếu bà Gotamì chấp nhận thực hành tám điều quy định nghiêm khắc sau đây thì Ta cho phép bà và các phụ nữ xuất gia, tu học dưới pháp và luật của Ta”.
Rồi Đức Phật nói ra tám điều quy định nghiêm khắc Tỷ-kheo-ni đối với Tỷ-kheo. Tôn giả Ànanda đem tám điều luật Phật nói thưa lại với bà Dì Gotamì và các bà khác. Các bà đều hoan hỷ nhận lời.
Cho phép bà Dì Gotamì xuất gia và thành lập đoàn Tỷ-kheo-ni, Đức Phật đã thấy trước hậu quả của quyết định của mình, Ngài nói với Đại đức Ànanda:
“Này Ànanda, nếu phụ nữ không được phép xuất gia và sống trong pháp và luật của Ta thì cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử của Ta có thể giữ vững dài lâu, Chánh pháp cao cả của Ta có thể duy trì một ngàn năm, nhưng vì phụ nữ được phép xuất gia, cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử Ta sẽ
không thể duy trì dài lâu, và từ nay Chánh pháp cao cả của Ta chỉ còn tồn tại 500 năm nữa mà thôi”.
“Cũng như, này Ànanda, những ngôi nhà có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, những ngôi nhà đó rất dễ bị mất trộm. Nếu phụ nữ xuất gia, sống trong pháp và luật của Như lai, cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử sẽ khó duy trì dài lâu. Cũng như một người đắp một con đê để ngăn một bể nước lớn, không để cho nước tràn qua, Ta cũng vậy, Ta chế định ra 8 giới điều nghiêm khắc trên là để ngăn ngừa không để cho Tỷ-kheo-ni vi phạm”.
Những lời Phật dạy, tuy có thể không được vui tai đối với phụ nữ, nhưng phải nhận rằng Đức Phật đã sớm thấy rõ, đối với phụ nữ nói chung, bản tánh mềm yếu và dễ cảm xúc, cuộc sống xuất gia không phải dễ dàng.
Mặc dù vậy, Đức Phật là vị Giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại cho thành lập một Ni đoàn với đầy đủ giới luật và uy nghi. Bà-la-môn giáo và các tôn giáo khác đương thời ở Ấn Độ đều không có đoàn thể phụ nữ tu hành như vậy. Hơn nữa, trong thời Đức Phật còn tại thế và sau này, nhiều Tỷ-kheo-ni đã chứng quả A-la-hán và trở thành nổi danh trong hàng tu sĩ, như chúng ta có thể đọc thấy trong cuốn “Trưởng Lão Ni Kệ” thuộc Tiểu Bộ Kinh - Pàli.
22. Đức Phật và tôn giả Ànanda
Tôn giả Ànanda là anh em cô cậu với Đức Phật, và là con của Amitođana, em vua Suddhodana, thân phụ của Đức Phật. Vì ngày ông sinh ra đem lại niềm hoan hỷ cho mọi người trong gia tộc, cho nên Tôn giả được đặt tên Ànanda (Khánh Hỷ).
Tôn giả Ànanda xuất gia theo Phật cùng với các thanh niên khác dòng họ Sakya là Anuruddha, Bhadya, Bhaga, Kimbila và Devadatta. Năm Đức Phật 55 tuổi, Tôn giả Ànanda được cử làm Thị giả của Đức Phật. Trong suốt 25 năm trời, từ ngày ấy cho đến lúc Đức Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả Ànanda luôn luôn ở bên cạnh Đức Phật, hầu hạ săn sóc Đức Phật chu đáo tận tình. Ngày cũng như đêm, bao giờ Tôn giả cũng có mặt sẵn sàng phục vụ Đức Phật, trong mọi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Tôn giả Ànanda có một trí nhớ tốt lạ lùng, Tôn giả ghi nhớ không bỏ sót tất cả các bài thuyết pháp của Đức Phật cũng như của một số đệ tử lớn của Đức Phật.
Khi một Bà-la-môn hỏi Tôn giả nhớ được bao nhiêu bài kinh, Tôn giả trả lời là có 82.000 bài của Đức Phật thuyết và 2.000 bài của các Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật thuyết.
Đúng là có tổng số 84.000 bài kinh tất cả(l).
Đức Phật tán thán năm đức hạnh của Tôn giả Ànanda là: Học uyên bác, trí nhớ tốt, kiên định, săn sóc chu đáo, ứng xử tốt.
Mãi sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả Ànanda mới chứng quả A-la-hán. Đây là do khi Đức Phật còn tại thế, Tôn giả bận làm công việc Thị giả, cũng như bận ghi nhớ các bài giảng của Đức Phật, như một đệ tử đa văn.
Tôn giả Ànanda nhập Niết-bàn năm 120 tuổi.
23. Đức Phật và Devadatta (Đề-bà-đạt-đa)
Devadatta là con Vua Suppabuddha và Hoàng hậu Pamita (Pamita là một bà cô của Đức Phật). Devadatta xuất gia theo Phật cùng một lượt với ông Ànanda và các thanh niên quý tộc khác thuộc dòng họ Sakya. Devadatta không chứng được quả nào, nhưng lại giỏi một số pháp thần thông, và được Vua Ajàttasattu (A Xà Thế) xứ Magadha ủng hộ. Mặc dù lối sống hư hỏng và tà kiến, tà hạnh, Devadatta vẫn có được một số khá đông người tán thành và phục tùng. Khi Đức Phật về già, Devadatta yêu cầu Phật trao cho mình quyền lãnh
______________________________
(1) “Trưởng Lão Tăng Kệ” (Theragatha) (trang 354).
đạo Tăng già, nhưng Đức Phật kiên quyết không chấp nhận.
Devadatta hết sức tức giận, và cùng với Vua Ajàttasattu âm mưu hại Phật. Nhưng các xạ thủ được Ajàttasattu thuê hại Phật đều bị Đức Phật thuyết giáo và trở thành đệ tử của Phật. Devadatta thấy tự mình phải hạ thủ sát hại Phật mới được. Một lần Đức Phật đang đi dọc bờ núi Gijjhakuta (Linh Thứu), Devadatta từ trên đỉnh núi đẩy xuống một tảng đá lớn, may mà tảng đá này lăn đụng phải một tảng đá khác và bị vỡ, Đức Phật chỉ xây xát và chảy máu ở chân.
Một lần khác, Devadatta cho một con voi điên uống rượu rồi xua voi húc Phật. Con voi chạy đến gần Phật thì bỗng nhiên đứng lại, bị thuần phục và được Phật xoa đầu.
Sau lần âm mưu thất bại này, Vua Ajàtasattu sợ quá, không dám tiếp tục che chở cho Devadatta nữa.
Devadatta bèn nuôi một âm mưu khác, xảo quyệt hơn: với một số Tỷ-kheo xấu như Kokàlika, Devadatta muốn phá hòa hợp Tăng, chia rẽ nội bộ Tăng già, Devadatta kiến nghị Đức Phật ban hành 5 điều luật mới như sau:
-
Tăng sĩ phải sống suốt đời ở trong rừng.
-
Chỉ được khất thực để ăn.
3. Chỉ được mặc áo làm bằng giẻ rách lượm ở nghĩa địa.
4. Chỉ được sống dưới gốc cây.
5. Suốt đời không được ăn cá thịt.
Đức Phật chỉ trả lời là các đệ tử có thể tùy ý sống theo hay không theo 5 giới điều ấy, nhưng Ngài không ép buộc họ. Devadatta lợi dụng sự từ chối của Đức Phật, lôi kéo được một số Tăng sĩ trẻ, thiếu học thức và không có căn bản vững vàng, đi theo mình đến Gayàsisa. Nhưng hai đệ tử lớn của Đức Phật là Sàriputta và Moggallàna, theo chỉ thị của Đức Phật cũng đến Gayasisa thuyết pháp cho họ nghe, và dẫn họ về trở lại với chánh pháp.
Từ đó, tai nạn liên tiếp đến với Devadatta. Mắc bệnh nan y, trước khi chết, Devadatta ăn năn hối lỗi và tỏ ý muốn được gặp Đức Phật. Nhưng vì nghiệp ác quá nặng cho nên Devadatta chết mà không gặp Phật, và phải đọa địa ngục, chịu khổ trong nhiều kiếp.
Về việc Devadatta, Đức Phật răn các Tỷ-kheo rằng, vì Devadatta bị chinh phục bởi các ác pháp, cho nên phải đoạ địa ngục, tức là bị chinh phục bởi lợi dưỡng danh vọng, cung kính, dục vọng xấu, tà kiến. (Xem Tăng Chi III, 20).
24. Đức Phật và ông Trưởng giả Cấp-cô-độc (Anàthapindika)
Nhà triệu phú, trưởng giả Anàthapindika là vị thí chủ lớn nhất ủng hộ Đức Phật và tăng chúng, thời Đức Phật còn tại thế. Ông vốn tên là Sudatta, nhưng vì ông hay bố thí cho kẻ nghèo và người mồ côi, mồ cút cho nên người ta tôn gọi ông là Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Ông sinh ra ở Savatthi.
Một lần đến thành Ràjagaha (Vương Xá) có công việc, ông được biết là Đức Phật đang ngụ ở rừng Sitavana, ngoài thành Ràjagaha. Ông vui mừng khôn xiết và sáng sớm hôm sau, trải qua một đêm dài mất ngủ vì quá sung sướng bồn chồn, ông lên đường đi đến rừng Sitavana. Tại đây, Đức Phật đang đi kinh hành ngoài trời và biết trước ông đến, gọi ông bằng tên riêng Sudatta và thân mật bảo ông lại gần Ngài.
Ông vấn an Phật, hỏi thăm Đức Phật có an lạc không. Đức Phật trả lời:
“Tất nhiên, bao giờ cũng sống an lạc
Bậc A-la-hán trong lòng ngọn lửa đã dập tắt.
Không còn đeo đuổi theo dục lạc vật chất nữa.
Cõi lòng mát lạnh, mọi sanh y đoạn tận,
Mọi trở ngại đều loại trừ, đã khéo chế ngự,
Bậc A-la-hán sống an lạc, hạnh phúc
Vì trong lòng được an tịnh”.
(Tương Ưng I 273).
-
Tịnh xá Jetavana
Nghe lời Phật giảng, ông Anàthapindika chứng được Sơ quả (Sotapanna), và ông thỉnh cầu Đức Phật sống qua mùa mưa ở Savatthi. Đức Phật nhận lời. Ông Anàthapindika, trở về Savatthi, mua một khu vườn của Thái tử Jeta (Kỳ Đà), và xây ở đây tu viện Jetavana nổi tiếng. Sách kể rằng, ông mua khu vườn bằng số đồng tiền vàng lát đầy diện tích vườn, theo sự đòi hỏi của Thái tử Jeta. Nhưng Thái tử không chịu bán cây ở trong vườn, và tự mình đem tất cả những cây đó cúng dường Đức Phật. Từ đó, công viên có tên gọi trong các kinh Phật (Hán dịch) là “Cấp Cô Độc viên Kỳ Đà thụ”, tức là vườn ông cấp Cô Độc, cây của Thái tử Kỳ Đà. Đức Phật đã giảng nhiều kinh và trải qua 19 mùa mưa ở Tịnh xá này.
Các bài nói chuyện của Đức Phật với ông Anàthapindika đều có ý nghĩa lớn đối với người Phật tử tại gia. Trong một bài thuyết pháp về hạnh bố thí, Đức Phật nói là:
“Sự cúng dường cho Phật và chư Tăng là công đức rất lớn, nhưng có công đức hơn nữa là quy y
Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, có công đức hơn 3 quy y là tự mình giữ 5 giới, có công đức hơn giữ 5 giới là quán về lòng từ trong giây phút; nhưng có được sự hiểu biết sự vật như thật và hiểu được tánh vô thường của sự vật là công đức vô lượng.” (Tăng Chi IV, 261 - 265).
Qua đoạn kinh trên, có thể thấy điều Đức Phật coi quan trọng hơn cả đối với người xuất gia hay tại gia là phát triển trí tuệ, để nhìn thấy sự vật như thật, đúng bản chất của chúng là vô thường, vô ngã. Tuy bố thí cúng dường cũng là điều quan trọng đối với người tại gia, nhưng tự mình tu tập, thực hành nếp sống đạo đức theo 5 giới, nuôi dưỡng lòng từ lại càng quan trọng hơn, nhưng quan trọng hơn cả là phát triển trí tuệ, để nhìn được sự vật như thật, nhờ đó mà không còn bị tham đắm, nội tâm được giải thoát, tự tại, trí tuệ được trong sáng.
b. Bốn niềm vui của Phật tử tại gia
Đức Phật nói tới bốn niềm vui chính đáng của người Phật tử tại gia, niềm vui có của cải, niềm vui được giàu có, niềm vui không có nợ nần, và niềm vui không có gì bị chê trách.
“Thế nào là niềm vui có của cải? Ở đây, gia chủ có của cải nhờ phấn đấu tích cực, góp gom được bằng sức của bàn tay, bằng mồ hôi, đúng pháp, và tích lũy
được một cách đúng pháp và có ý nghĩ: “Của cải này là của tôi có được nhờ phấn đấu tích cực tích lũy đúng pháp”, cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta. Đó là niềm vui có của cải”.
“Thế nào là niềm vui được giàu có? Ở đây, vị gia chủ được giàu có nhờ phấn đấu tích cực, vui vẻ nhờ giàu có và làm nhiều việc lành. Vì có ý nghĩ: “Nhờ giàu có mà có thể hưởng thụ sự giàu có và làm các việc lành”, cho nên niềm vui và sự thỏa mãn đến với ông ta. Đó là niềm vui được giàu có”.
“Thế nào là niềm vui không có nợ nần? Ở đây, vị gia chủ không có nợ nần, lớn hay nhỏ đối với bất cứ một ai. Vì có ý nghĩ: “Tôi không có nợ nần, dù lớn hay nhỏ đối với bất cứ một ai”, cho nên niềm vui và sự thoả mãn đến với ông ta. Đó là niềm vui không có nợ nần”.
“Thế nào là niềm vui không bị chê trách? Ở đây, vị gia chủ có niềm vui vì các hành động của thân, miệng và ý đều không có gì đáng chê trách. Với ý nghĩ: “Tôi không có gì đáng chê trách ở thân, miệng và ý”, cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta.” (Tăng Chi III, 77 - 78).
c. Bảy loại vợ
Một lần, Đức Phật đến thăm nhà ông Anàtha- pindika, nghe có tiếng ồn ào bất thường trong nhà, bèn hỏi nguyên nhân, ông Anàthapindika thưa:
“Bạch Thế Tôn, đó là Sujàtà, con dâu tôi đang ở với chúng tôi. Nó giàu có và đến đây từ một gia đình giàu có, nó không săn sóc gì tới mẹ chồng, bố chồng và cả chồng nó nữa. Nó cũng không kính trọng, tôn quý và đảnh lễ Đức Thế Tôn”.
Đức Phật cho gọi Sujàtà lại và giảng cho nghe về bảy loại vợ:
-
Người vợ có tâm địa ác, có ý xấu, không có lòng thương, bỏ rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một dâm nữ, chỉ muốn làm phiền lòng người. Đó là loại vợ sát nhân.
-
Người vợ hay hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn kiếm được, nhờ cày ruộng, buôn bán hay lao động khéo tay. Đó là loại vợ ăn trộm.
-
Người vợ lười biếng, không muốn làm gì hết, lại tham ăn, ác độc, thô bạo, thích nói lời ác, lấn át người chồng siêng năng cần mẫn. Đó là loại vợ kiêu kỳ xa xỉ.
-
Người vợ trìu mến, thân ái bảo vệ chồng như mẹ bảo vệ con, giữ gìn tài sản của chồng. Đó là loại vợ như mẹ.
-
Người vợ kính trọng chồng như em gái đối với anh cả, khiêm tôn, sống chiều đúng theo ý chồng. Đó là loại vợ như em út.
6. Người vợ sung sướng khi thấy chồng, như gặp người bạn cũ sau bao năm xa cách, thuộc giòng quý tộc, có đạo đức, sống thanh tịnh. Đó là loại vợ như bạn bè.
7. Người vợ dù bị đối đãi không tốt, vẫn không giận hờn, bình tĩnh chịu đựng mọi hành vi của chồng với lòng từ mẫn, tâm không biết giận, sống chìu đúng theo ý chồng. Đó là loại vợ như người phục vụ.
Đức Phật sau khi mô tả 7 loại vợ nói trên, nói rằng loại vợ sát nhân, loại vợ ăn trộm, loại vợ kiêu sa đều là không tốt; còn loại vợ như mẹ, như em út, như bạn, như người phục vụ là những người vợ tốt, đáng tán thán, và Đức Phật hỏi đó là 7 loại vợ mà một người đàn ông có thể có được, và Sujàtà muốn là loại người vợ nào?
Sujàtà trả lời: “Xin Đức Thế Tôn từ nay trở đi nghĩ về cháu là loại vợ như người phục vụ”.
d. Cây Bồ-đề Ànanda
Ông Anàthapindika thường hay đến thăm Đức Phật hàng ngày và thấy các Phật tử tỏ ra thất vọng mỗi khi đến mà không được gặp Phật vì Phật đi thuyết pháp ở một nơi khác, cho nên hỏi Đại đức Ànanda xem có cách gì để cho Phật tử có thể cúng dường Phật, dù Ngài vắng mặt. Đại đức Ànanda
bạch Phật về chuyện này và hỏi Phật về các vật đáng được cúng dường đảnh lễ. Đức Phật trả lời là có ba loại: Loại đồ vật thuộc về thân Đức Phật, loại đồ vật Đức Phật thường dùng và loại đồ vật nhắc nhủ nhớ tới Đức Phật.
Đại đức Ànanda hỏi: “Xây một tháp thờ khi Đức Thế Tôn còn sống có thích hợp chăng?”.
“Không, một vật nhắc nhủ nhớ tới Đức Phật không có cơ sở vật chất, chỉ có ý nghĩa thuần túy tinh thần. Như cây Bồ-đề được Đức Phật sử dụng là một vật đáng cúng dường, dù khi Đức Phật còn sống hay là khi Đức Phật đã diệt độ rồi”.
Đại đức Ànanda nói: “Khi Đức Thế Tôn đi thuyết pháp ở nơi khác, tu viện lớn Jetavana này không có nơi để quần chúng quy ngưỡng và cúng dường. Con có thể lấy hạt cây Bồ-đề lớn ở Bodhigaya (Bồ-đề Đạo Tràng) và gieo nó ở cửa Tịnh xá Jetavana được không?”.
Đức Phật trả lời: “Rất tốt, hãy trồng cây Bồ-đề ở đây. Như thế khác nào bao giờ Ta cũng có mặt ở Tịnh xá Jetavana này”.
Đại đức Ànanda nói ý kiến của Đức Phật với các Phật tử tại gia như ông Anàthapindika, nữ gia chủ Visàkhà và Vua Pasenadi xứ Kosala. Đại đức Ànanda nhờ Tôn giả Moggallàna (Mục Kiền Liên)
tìm cho một quả Bồ-đề trên cây Bồ-đề lớn ở Bodhigaya. Đại đức Ànanda đem trồng ở cửa Tịnh xá Jetavana. Cây Bồ-đề ấy hiện nay vẫn còn, và được gọi là cây Bồ-đề Ànanda.
e. Ông Anàthapindika qua đời và sinh lên cõi trời Đâu Suất
Khi ông Anàthapindika lâm bệnh nặng, ông mời Tôn giả Sàriputta đến giảng kinh tại nhà. Cả Ngài Sàriputta và Ngài Ànanda cũng đến vấn an ông. Tôn giả Sàriputta giảng cho ông nghe một bài kinh sâu sắc. Nghe bài kinh gần xong, hai mắt ông trào đầy lệ vì quá cảm động. Ông Ànanda hỏi vì sao, thì ông trả lời là ông chưa từng được nghe một bài thuyết pháp sâu sắc đến thế. Ngài Sàriputta trả lời, đây vốn là một bài thuyết pháp chỉ giảng cho những Tăng sĩ có trình độ tu học cao.
Ít lâu sau khi hai Ngài Sàriputta và Ànanda ra đi, ông Anàthapindika qua đời và sanh lên cõi Trời Tusita (Đâu Suất).
Đến tối, Thiên chủ Anàthapindika, với thân hình sáng chói cả khu vườn Jeta vana, đến chào Đức Phật, tán thán công đức của Tôn giả Xá-lợi Phất, và bày tỏ niềm vui sướng của mình được thấy Đức Phật và chư Tăng ngụ tại Tu viện Jetavana. Thiên chủ Anàthapindika nói:
“Ý lành và trí tuệ, tâm được tu tập đúng pháp, lối sống tối cao cả dựa trên đạo đức chân chính. Chính điều ấy làm con người thanh tịnh, chứ không phải danh lợi thế gian”.
25. Sự nghiệp giáo hóa và thuyết pháp của Đức Phật - tục lệ An cư Kiết hạ
Sự nghiệp giáo hóa và thuyết pháp của Đức Phật kéo dài 45 năm, từ năm Đức Phật thành đạo lúc 35 tuổi cho đến năm tuổi 80, Đức Phật nhập Niết-bàn. Năm này qua năm khác, Đức Phật đi nơi này nơi kia, khi thì đi một mình, khi thì có đông đảo đệ tử đi theo, thuyết pháp độ sanh, giáo hóa quần chúng bằng gương sáng cao cả của bản thân và bằng lời lẽ đầy trí tuệ. Chỉ vào mùa mưa, ở Ấn Độ, thông thường giữa tháng 7 và tháng 11, Đức Phật nghỉ lại trong các tu viện và thuyết pháp tại chỗ, không đi ra ngoài. Tục lệ này gọi là An cư Kiết hạ, được Tăng Ni Phật tử duy trì liên tục cho đến ngày nay, ở khắp các nước có Phật giáo. Vào mùa An cư Kiết hạ, quần chúng là tín đồ hay không tín đồ, hàng ngày kéo đến đông đảo tại tu viện hay công viên, nơi có Đức Phật và chư Tăng trú ngụ, để được nghe thuyết pháp, cúng dường Phật và chư Tăng.
26. Đức Phật và vua Pasenadi xứ Kosala
Trong 45 năm giáo hóa và thuyết pháp độ sanh, Đức Phật hoặc một mình, hoặc cùng với đông
đảo đệ tử đi lại nhiều nơi ở trong vùng sông Hằng. Nhưng thời gian dài nhất Đức Phật ở tại Savatthi, kinh đô của vương quốc Kosala. Cũng như Trưởng lão Anàthapindika, Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) xứ Kosala là một thí chủ lớn của Đức Phật và chư Tăng. Ở Savatthi, ngoài Tịnh xá Jetavana của ông Anàtha-pindika cúng dường Đức Phật, còn có Tu viện Ràjakarama do Vua Pasenadi xây cất để cúng dường Phật và chư Tăng.
Hoàng hậu Mallikà, vợ Vua cũng là một tín đồ thuần thành của Đức Phật và khéo hướng dẫn giúp đỡ Vua một cách tốt đẹp trong các vấn đề tôn giáo. Có lần, Vua nằm thấy liên tiếp 16 cơn mộng bất thường, các Đạo sĩ Bà-la-môn ở trong triều nói đó là điềm gở và khuyên Vua phải tổ chức tế đàn lớn, giết nhiều sinh vật để cúng tế thì mới tai qua nạn khỏi. Vua cũng nghe theo và chuẩn bị tổ chức tế đàn. Khi Hoàng hậu Mallikà biết tin, bà khuyên Vua, thay vì tổ chức tế đàn, hãy yết kiến Phật và hỏi Ngài về ý nghĩa của 16 cơn mộng. Và Vua được yên tâm sau khi nghe Phật giải thích đầy đủ về 16 cơn mộng bất thường của Vua. Vua bèn thôi không tổ chức tế đàn nữa.
Một niềm hạnh phúc lớn của Vua Pasenadi là được nghe Đức Phật thuyết pháp nhiều lần. Tương Ưng Bộ Kinh có một chương đặc biệt, có đầu đề
“Tương Ưng Kosala” ghi lại phần lớn các bài thuyết pháp của Đức Phật cho Vua Pasenadi. Sau đây xin trích giới thiệu nội dung vài đoạn trong chương Kosala Tương Ưng:
-
Đánh giá một người thế nào không phải là chuyện đơn giản.
Một lần Vua Pasenadi ngồi bên cạnh Phật, tại lâu đài Migaramatu, thì thấy có một số tu sĩ ngoại đạo đi ngang gần đầy. Người thì bện tóc, người thì lõa thể, người thì chỉ mặc một y. Vua hỏi Đức Phật là trong số các tu sĩ đó, ai là người đã chứng quả A-la-hán, ai là người đang trên đường tiến tới chứng quả A-la-hán. Đức Phật trả lời là đối với nhà Vua đang sống trong vòng dục lạc, dùng các loại hương chiên đàn từ xứ Kasi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, dùng nhiều vàng bạc, thì thật là khó biết trong số tu sĩ vừa đi qua, ai là A-la- hán, và ai đang trên con đường tiến tới chứng quả A-la-hán. Hơn nữa, phải cùng sống lâu với một người, lại phải biết chú ý, xem xét và phải có trí tuệ, thì mới có thể biết được người đó có giới hạnh hay không, phải cùng chung một nghề mới biết được một người có thanh tịnh hay không, phải qua sự thử thách của một thời gian bất hạnh mới biết được một người có trung kiên hay không, phải qua đàm đạo với một người mới biết người đó có trí tuệ
hay không. Hơn nữa, phải trải qua một thời gian dài có chú ý, xem xét và phải có trí tuệ thì mới có thể đánh giá một con người là thế nào, thế nào... Và cuối cùng Đức Phật khuyên Vua xem xét người, không nên chỉ nhìn bộ mặt bề ngoài, có thể là giả dối che đậy.
b. Đức Phật khuyên coi trọng phụ nữ, ngang hàng với nam giới.
Một lần, Vua Pasenadi được tin Hoàng hậu Mallikà hạ sanh con gái, tỏ vẻ không vui. Đức Phật biết tâm trạng lúc đó của Vua, bèn đọc bài kệ:
“Này nhân chủ ở đời
Có một số thiếu nữ
Có thể tốt đẹp hơn
So sánh với con trai
Có trí tuệ giới đức
Khiến nhạc mẫu thán phục
Rồi sanh được con trai
Là anh hùng, quốc chủ
Người con trai như vậy,
Của người mẹ hiền đức
Thật xứng là đạo sư
Giáo giới cho toàn quốc. ”
(Tương Ưng I, 101)
c. Không nên coi thường Tỷ-kheo trẻ
Có lần Vua Pasenadi hỏi vì sao Đức Phật tuổi còn trẻ và xuất gia chưa bao lâu mà chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng giác, là Thánh quả cao nhất mà nhiều vị giáo chủ khác, tuy tuổi đời và đạo đều cao hơn Đức Phật, nhưng thừa nhận rằng mình chưa đạt tới được. Đức Phật trả lời, có bốn cái trẻ không thể coi thường. Thứ nhất là Sát-đế-lỵ trẻ (võ tướng trẻ thuộc đẳng cấp Sát-đế-lỵ), thứ hai là con rắn trẻ, thứ ba là ngọn lửa trẻ (mới nhen nhúm lên), và thứ tư là Tỷ-kheo trẻ.
Ý của Đức Phật là vị võ tướng trẻ có thể chiếm thiên hạ, rắn trẻ có thể cắn chết người, ngọn lửa trẻ có thể đốt cháy cánh đồng lớn, Tỷ-kheo trẻ, nếu tinh tấn tu hành, có thể chứng Thánh quả.
d. Chiến thắng nuôi dưỡng hận thù
Pasenadi làm Vua xứ Kosala hùng mạnh không tránh khỏi chiến tranh với các nước láng giềng, đặc biệt là với chính cháu mình là Ajàtasattu, Vua xứ Magadha. Có khi Vua Pasenadi bại trận, có khi Vua Pasenadi chiến thắng, thậm chí có lần bắt sống được Vua Ajàtasattu. Vì Vua là người có tâm địa tốt, sùng kính Phật, cho nên khi bắt sống được Vua Ajàtasattu, Vua chỉ tịch thu toàn bộ binh mã, còn thì tha cho Vua Ajàtasattu trở về.
Khi các Tỷ-kheo thuật lại chuyện này với Đức Phật, Ngài nói lên hai bài kệ. Bài đầu, khi Vua Pasenadi thất trận:
“Thắng trận sinh thù oán
Bại trận nếm khổ đau
Ai bỏ thắng bỏ bại,
Tịch tịnh hưởng an lạc”.
(Tương Ưng I, 102)
Bài kệ thứ hai, Đức Phật nói lên khi nghe các Tỷ-kheo thuật chuyện Vua Pasenadi thắng trận và bắt sống được Vua Ajàtasattu:
“Vì nghĩ đến tư lợi,
Nên mới cướp hại người
Khi người khác cướp lại,
Bị hại lại hại người
Người ngu nghĩ như vậy,
Khi ác chưa chín muồi,
Khi ác đã chín muồi
Người ngu chịu khổ đau,
Sát người, bị người sát
Thắng người, bị người thắng
Mắng người, người mắng lại,
Não người, người não lại
Do nghiệp được diễn tiến
Bị hại, lại hại người. ”
(Tương Ưng I, 103)
27. Đức Phật và nữ thí chủ Visàkhà
Cũng tại Sàvatthi, Đức Phật còn có thêm một tịnh xá thứ ba nữa, do nữ thí chủ Visàkhà xây. Tịnh xá gọi là Pubbarama, Đức Phật và Tăng chúng đã trải qua sáu mùa kiết hạ tại Tịnh xá này của bà Visàkhà. Bà là con gái nhà triệu phú Dhananjaya, mẹ là Sumanà Devi và ông nội của bà cũng là một nhà triệu phú tên là Mendaka.
Ngay từ năm bà lên 7 tuổi, bà được may mắn gặp Đức Phật, khi Đức Phật đến Bhaddiya, nơi sinh quán của bà, tại vương quốc Anga. Do có trí thông minh và đạo đức bẩm sinh, sau khi nghe Phật giảng pháp, mặc dù tuổi còn nhỏ, bà cũng chứng Sơ quả (Sotapanna).
Bà có một người chồng giàu có, Punna- vaddhana, con trai nhà triệu phú Migàra. Bố chồng vốn là một tín đồ thuần thành của Nigantha Nàtaputta, vị giáo chủ của đạo Jain. Bà đã khéo léo xin được phép mời Đức Phật đến nhà chồng thụ trai và sau đó thuyết pháp cho cả gia đình nghe. Bố chồng cũng nghe nhưng ngồi sau một bức màn. Vào cuối bài thuyết pháp của Đức Phật, bố chồng giác ngộ, chứng ngay Sơ quả. Cả gia đình chồng trở thành một gia đình Phật tử hạnh phúc và thuần thành.
Bà yêu cầu Đức Phật đồng ý cho bà được làm tám việc đối với Tăng chúng như sau:
-
Tặng áo Cà-sa cho Tăng chúng vào mùa kiết hạ, từ nay cho đến ngày bà qua đời.
-
Cúng dường cho tất cả Tỷ-kheo đến Savathi.
-
Cúng dường cho tất cả Tỷ-kheo ra khỏi Savathi.
-
Cúng dường thức ăn cho Tỷ-kheo ốm.
-
Cúng dường thức ăn cho những ai săn sóc người ốm.
-
Cúng dường thuốc men cho Tỷ-kheo ốm.
-
Cúng dường cháo cho Tỷ-kheo.
-
Cúng dường áo tắm cho Tỷ-kheo-ni.
Đức Phật vui vẻ nhận lời. Đức Phật nhiều lần thuyết pháp cho bà Visàkhà. Trong một bài thuyết pháp, Đức Phật có nói tới tám giới cho Phật tử tại gia nên theo trong những ngày Bố-tát (Uposatha)(1). Hiện nay, tám giới này vẫn được Phật tử theo, trong các ngày Bố-tát ở các nước có đạo Phật.
Bà Visàkhà là nữ thí chủ lớn nhất của Đức Phật và Tăng chúng, cũng như ông Anàthapindika là nam thí chủ lớn nhất.
______________________________
(1) Lễ Bố-tát là lễ chư Tăng tụng giới bổn, mỗi tháng 2 kỳ vào 14, 15 hoặc 29, 30.
28. Đức Phật và vua Bimbisàra
Bimbisàra (Tần Bà Sa La) là Vua xứ Magadha, có kinh đô ở thành Ràjagaha (Vương Xá). Vua từng gặp Đức Phật khi Phật mới xuất gia, và yêu cầu Đức Phật trở lại thăm vương quốc của Vua sau ngày thành đạo. Giữ đúng lời hứa cũ, Đức Phật cùng với đông đảo các vị A-la-hán đệ tử đi từ Gayà đến thủ đô Ràjagaha, và nghỉ tại đền Suppatittha trong một rừng cây cọ dừa. Được tin, Vua Bimbisàra cùng với quần thần đông đảo đến chào Đức Phật và Tăng chúng. Vì trong số đệ tử đi theo hầu Đức Phật có Tôn giả Kassapa vốn có uy tín lớn trong quần chúng ở đây, cho nên nhiều người phân vân không rõ ai là bậc Đạo sư, Đức Phật hay là Tôn giả Kassapa. Đức Phật biết rõ mối phân vân đó của quần chúng, bèn hỏi ông Kassapa vì nguyên nhân gì ông bỏ tập tục tế Thần Lửa. Ông Kassapa thưa rằng, ông bỏ tập tục tế Thần Lửa vì ông nhận thấy cảnh giới Niết-bàn an tịnh, cao quý hơn nhiều so với dục lạc thế gian. Nói xong ông đảnh lễ Phật và nói: “Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư, con là đệ tử của Ngài”. Đức Phật bèn giảng kinh Bổn Sanh của ông Kassapa cho mọi người nghe, kể rằng trong một kiếp trước, Đức Phật cũng đã từng độ cho ông Kassapa ở xứ Narada. Được nghe Phật thuyết pháp,
Vua Bimbisara chứng ngay Sơ quả. Hôm sau, Vua thết trai tăng ở hoàng cung, mời Phật và Tăng chúng tham dự. Sau đó, Vua tặng Đức Phật và Tăng chúng công viên Trúc Lâm, trong đó có đền Con Sóc và Tịnh xá Veluvanaràma, nơi đây Đức Phật trải qua 6 mùa An cư Kiết hạ.
Bà Khemà, vợ thứ của Vua, sau này xuất gia và cùng với bà Gotamì, lãnh đạo Ni chúng. Còn Hoàng hậu chánh thất của Vua là bà Kosala Devì, con gái Vua Pasenadi xứ Kosala. Con bà Kosala Devi là Ajàtasattu (A Xà Thế), sau này cướp ngôi và giết Vua cha, đó là do nghiệp quá khứ của Vua Bimbisàra quá nặng nề. Nhưng vì Vua đã chứng Sơ quả, cho nên cái chết của Vua cũng nhẹ nhàng, đỡ phần bi thảm và sau khi qua đời, Vua lập tức sanh lên cõi Trời Lummaharajika với cái tên Thiên chủ Janavasabha.
Ajàtasattu sau khi cùng với Devadatta âm mưu giết hại Phật không thành, biết ăn năn hối lỗi, xin Phật cho quy y và trở thành một Phật tử tại gia hàng đầu của Đức Phật. Do nghiệp quá khứ nặng nề, cho nên đến lượt ông, ông cũng bị con ông giết và cướp ngôi.
-
Đức Phật và Angulimàla (Vô não)
Một sự kiện đáng ghi nhớ, đánh dấu năm thứ 20 ngày thành lập đạo là Đức Phật giác ngộ cho
Angulimàla, tên tướng cướp khét tiếng hung ác của xứ Kosala. Tên thật của Angulimàla là Ahimsaka (Kẻ vô tội). Cha ông vốn là một quan chức trong triều Vua xứ Kosala. Thời niên thiếu, ông theo học ở Taxila, là trung tâm học vấn nổi tiếng đương thời ở Bắc Ấn Độ. Ông học rất giỏi và được thầy yêu thương nhất trong số các học trò. Điều không may là các bạn đồng học ghen tỵ ông, vu cáo ông lả lơi với vợ thầy giáo và ông thầy giáo cả tin đâm ra căm thù ông, và muốn giết ông bằng cách bắt ông trả học phí bằng 1.000 ngón tay phải của con người. Angulimàla phải vâng lời thầy, mặc dù rất khổ tâm. Ông bèn rút lui vào rừng Jalini ở Kosala và bắt đầu giết người để có đủ số ngón tay cần thiết.
Ban đầu, ông treo các ngón tay người trên cây, nhưng vì các ngón tay bị quạ mổ ăn, cho nên ông xâu ngón tay người lại thành vòng để đeo nơi cổ; do đó mà ông có cái tên Angulimàla (vòng ngón tay). Sách kể rằng, khi ông đã thu thập được 999 ngón tay, thời Đức Phật xuất hiện. Angulimàla rất mừng vì sắp có đủ số ngón tay cần thiết để nộp cho ông thầy giáo ác độc. Angulimàla rút gươm, chạy đuổi theo Phật. Vì Đức Phật dùng phép thần thông, nên Angulimàla càng đuổi nhanh càng không bắt kịp được Phật, mặc dù Phật vẫn đi khoan thai từ từ. Cuối cùng, thở hổn hển và ướt đẫm mồ hôi,
Angulimàla đứng lại và gọi: “Này Tu sĩ, hãy dừng chân”. Đức Phật nói bằng giọng từ tốn: “Mặc dù ta đang đi, nhưng ta đã dừng chân. Còn nhà ngươi đã dừng chân hay chưa?”.
Angulimàla không hiểu ý tứ câu nói của Đức Phật như thế nào? Bởi vì Đức Phật đang đi, lại nói là đã dừng chân. Còn Angulimàla đã dừng chân rồi thì Phật lại bảo “Hãy dừng chân!”. Angulimàla hỏi Phật và được Phật giải thích như sau:
“Đúng là Ta đã dừng mãi mãi, này Angulimàla,
Không còn bao giờ dùng bạo lực với chúng sanh.
Còn nhà ngươi, hãy dừng tay chớ có giết hại
đồng loại
Vì vậy mà Ta nói rằng, Ta đã dừng,
Và bảo ngươi cũng hãy dừng tay! ”.
Nghiệp thiện ngày xưa của Angulimàla tác động vào tư tưởng của ông và ông biết rằng ông đang đứng trước mặt Đức Phật Thích-ca, Ngài đã vì lòng thương xót ông mà đến cứu ông ra khỏi vòng tội lỗi. Ông vất gươm xuống đất, xin Đức Phật cho ông được xuất gia làm Tăng. Đức Phật chỉ nói một câu đơn giản: “Ehi Bikkhu!” (Hãy đến! Tỷ-kheo). Thế nhưng, mặc dù xuất gia, tinh thần của Tỷ-kheo Angulimàla vẫn không được yên ổn. Thường xuyên, ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu khóc của những người ông đã sát hại. Một hôm, đi khất thực, ông bị quần
chúng đuổi đánh, ném đá, ông trở về tu viện, lỗ đầu, chảy máu. Đức Phật giải thích cho Angulimàla biết, đó là Angulimàla trả nợ nghiệp ác cũ của mình.
Một ngày, Angulimàla đi khất thực, gặp một người đàn bà trở dạ, khó sanh và đang vô cùng đau đớn. Không biết làm sao được, Angulimàla trở về hỏi Đức Phật. Đức Phật bày cho Angulimàla đem lời sau đây nói với người đàn bà:
“Này bà chị, từ khi tôi sanh trở lại trong hàng Thánh chúng, tôi không có giết hại bất cứ một loại hữu tình nào. Cầu mong lời nói thật này giúp cho bà chị được khỏi đau đớn, con của bà chị được sanh nở an toàn”.
Angulimàla học thuộc lời Đức Phật, và đến nói với người đàn bà đau đớn, khó sanh. Lập tức, người đàn bà hết đau và hạ sanh đứa con dễ dàng. Lời này của Đức Phật được gọi là Angulimàla Paritta. Ngày nay, ở các xứ Phật giáo Nam phương, người ta vẫn có tập tục đọc lời Angulimàla Paritta để làm dịu cơn đau đẻ của phụ nữ.
Sau này, Angulimàla chứng quả A-la-hán.
30. Đức Phật và Ambapàli
Ambapàli là người kỹ nữ nổi danh tài sắc của thành phố Vesàli. Trên đường đi Kusinàra, để nhập Niết-bàn, Đức Phật dừng lại Vesàli và nghỉ ở vườn
xoài của Ambapàli. Được tin, Ambapàli đến chào Đức Phật, và trân trọng mời Đức Phật và chúng Tăng đến dùng tiệc trai ngày mai tại nhà bà. Đức Phật nhận lời, và từ chối lời mời của hàng quý tộc Licchavi, vì chậm hơn. Mặc dù các nhà quý tộc Licchavi hứa trả cho bà Ambapàli một số tiền lớn, để bà nhường lại cho quý tộc Licchavi đặc ân được thết cơm Phật và chúng Tăng nhưng bà từ chối. Hôm sau, y lời hẹn, Đức Phật và chúng Tăng đến nhà bà Ambapàli dùng tiệc trai. Sau bữa tiệc, Ambapàli kính tặng Đức Phật và chúng Tăng vườn xoài to lớn của bà để làm Tịnh xá.
Sau này, Ambapàli cũng xuất gia và chứng quả A-la-hán. Hai sự kiện Angulimàla và Ambapàli cho thấy cửa Đạo Từ Bi mở rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu sang, nghèo hèn và đẳng cấp xã hội. Một tướng cướp như Angulimàla, một kỹ nữ như Ambapàli nếu thành tâm hối lỗi, cũng có thể xuất gia, tinh tấn tu học và chứng Thánh quả cao nhất. Một lòng tin thuần thành, và một nỗ lực lớn nhất: đó là điều kiện cơ bản để đi vào đạo Thánh và trở thành bậc Thánh trên thế gian này. Đạo Phật không đòi hỏi một điều kiện nào khác.
31. Đức Phật tuyên bố Ngài sẽ nhập Niết-bàn
Đức Phật năm ấy tròn 80 tuổi. Ngài nhận định sự nghiệp thuyết pháp, giáo hóa độ sanh của Ngài
đã hoàn thành. Thời điểm đã đến để Ngài nhập Niết-bàn. Trên đường đi Kusinàra, khi Đức Phật dừng chân tại Vaisàli, ở Tịnh xá Capala, Ngài đã tuyên bố với Tôn giả Ànanda là ba tháng nữa Ngài sẽ nhập Niết-bàn. Ngài không chấp nhận yêu cầu của Ànanda, xin Ngài sống thêm một kiếp nữa, vì hạnh phúc, vì an lạc của chúng sanh. Đức Phật giảng cho ông Ànanda về tính vô thường của mọi sự vật trên thế gian này, và bảo ông Ànanda tập hợp chúng Tỷ-kheo ở Vaisàli lại ở Tịnh xá Mahàvana, để nghe Phật thuyết pháp.
Rồi Đức Phật nói với chúng Tỷ-kheo những lời lẽ như sau:
“Này các Tỷ-kheo! Mọi pháp đều vô thường. Hãy siêng năng phấn đấu. Như lai sắp nhập Niết-bàn. Từ nay trong vòng 3 tháng nữa, Như lai sẽ nhập Niết-bàn. Tuổi Ta đã già, cuộc sống con người ngắn ngủi, Ta sẽ vĩnh biệt các người. Hãy tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác và sống đạo đức. Người nào sống không phóng dật trong giới luật, người đó sẽ được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi và chấm dứt mọi đau khổ.”
Và một lần cuối cùng, nhìn thành phố Vaisàli, Đức Phật nói với chúng Tỷ-kheo:
“Giới, định, và tuệ, giải thoát tối hậu. Đó là những điều Như lai thực hiện”.
32. Buổi ăn cuối cùng của Đức Phật
Từ Vaisàli, Đức Phật cùng với Tôn giả Ànanda và chúng Tỷ-kheo lên đường đi Kusinàra. Dọc đường Đức Phật và chúng Tăng dừng lại ở nhiều nơi, tiếp xúc với dân chúng, thuyết pháp độ sanh.
Ở Pava, người thợ rèn Cunda (Thuần Đà) thết tiệc trai cúng dường Đức Phật và chúng Tăng. Cunda chuẩn bị riêng cho Đức Phật một món ăn đặc biệt gọi là Sùkaramaddava(1). Đức Phật khuyên Cunda dành riêng thức ăn đó cho Đức Phật, và phần còn lại phải đem chôn đi. Và nói: “Chỉ có Như lai mới ăn và tiêu hóa được thức ăn này mà thôi”.
Ăn xong Đức Phật bị kiết lỵ nặng. Ngài tuy mệt nhưng vẫn giữ tinh thần bình thản và quyết định lại lên đường đi Kusinàra, cách Pava khoảng 6 dặm. Đức Phật tắm lần cuối cùng ở sông Kakutthi, và sau khi nghỉ một lát, Ngài nói với Đại đức Ànanda:
“Có thể có người trách Cunda về bữa cơm cuối cùng dọn cho Ta, vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập Niết-bàn, và Cunda có thể ăn năn hối hận. Nhà
_________________________
(1) Sớ giải chú thích: dĩa nấm rừng.
ngươi cần nói cho Cunda biết rằng, có hai bữa ăn cúng dường cho Như lai đem lại công đức lớn nhất cho người cúng dường. Đó là bữa ăn cúng dường Như lai trước giờ Như lai thành đạo và bữa ăn cúng dường Như lai trước giờ Như lai nhập Niết-bàn. Hãy nói cho Cunda biết rằng, nhờ đã cúng dường Như lai bữa ăn cuối cùng trước khi Như lai nhập Niết-bàn, Cunda được thọ mạng lâu dài, tái sanh ở cõi lành, giàu có, tiếng tăm, được sanh lên các cõi Trời và có quyền lực lớn. Này Ànanda, ngươi hãy nói như vậy để loại bỏ mọi nỗi ân hận của Cunda, nếu có”.
Nói xong, Đức Phật đến tại vườn cây Sala ở Kusinàra, nơi có bộ tộc Mallas ở, và bảo Đại đức Ananada chuẩn bị chỗ nằm để Đức Phật yên nghỉ, đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mình, chân phải để trên chân trái, bình thản, tỉnh táo.
33. Tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như lai một cách tốt đẹp nhất
Thấy các cây Sala trổ hoa trái mùa, và các biểu hiện khác của niềm tin tưởng, quý mến, tôn trọng Như lai, Đức Phật bèn nói với các Tỷ-kheo có mặt như sau:
“Này Ànanda, không nên tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như lai theo cách như vậy.
Nhưng bất cứ Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, Ưu Bà Tắc hay Ưu Bà Di nào mà sống đúng với Chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh, thì chính người đó tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, và quý mến Như lai một cách tốt đẹp nhất. Do đó, này Ànanda, các người phải tu tập như vậy. Mọi người hãy sống đúng với chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh”.
34. Bốn địa điểm chiêm bái
Rồi Đức Phật nói tới bốn địa điểm có liên hệ tới Đức Phật, mà Phật tử có thể đến chiêm bái. Đó là:
-
Nơi Đức Phật giáng sinh ở vườn Lumbinì (Lâm Tỳ Ni) tại vùng biên giới Ấn Độ - Népal.
-
Nơi Đức Phật thành đạo ở Bodhi Gayà (Bồ- đề Đạo Tràng).
-
Nơi Đức Phật bắt đầu chuyển bánh xe Pháp (Sarnàth), tức là Vườn Nai, gần Benarès.
-
Nơi Đức Phật nhập Niết-bàn ở Kusinàra (Nay là Kasia, cách 32 dặm nhà ga Gorakhpur).
Đức Phật dạy: “Những người nào qua đời trong quá trình đi chiêm bái, với lòng có đức tin, thì sẽ được sanh lên các cõi Trời”.
35. Đức Phật hóa độ cho người cuối cùng: Du sĩ Subhadda
Bấy giờ có Du sĩ Subhadda, đang sống ở Kusinàra, biết tin Đức Phật sẽ nhập Niết-bàn vào canh cuối cùng của đêm nay ở Kusinàra. Du sĩ có suy nghĩ như sau: “Các Đạo sư lớn tuổi, các Du sĩ thường nói với ta rằng, sự kiện Như lai, bậc toàn giác xuất hiện ở đời là hiếm có, rất hiếm có. Vào canh cuối cùng đêm nay, Đức Phật Thích-ca, bậc toàn giác sẽ nhập diệt. Ở đây ta có lòng tin Đức Phật, có thể Ngài sẽ thuyết pháp cho ta để ta được giác ngộ”.
Rồi Du sĩ Subhadda đi đến rừng cây Sala, và xin Đại đức Ànanda cho được gặp Đức Phật. Nhưng ông Ànanda nói là Đức Phật đang mệt, không thể tiếp được. Bubhadda ba lần thỉnh cầu, Đại đức Ànanda đều không chấp thuận. Nhưng Đức Phật nghe câu chuyện giữa Đại đức Ànanda và Du sĩ Subhadda, bèn nói với Đại đức Ànanda rằng: “Hãy để cho Subhadda vào. Ông ta đến đây để mong được nghe pháp, được giác ngộ, chứ không phải để làm phiền Ta, và những lời Ta nói, Subhadda sẽ có thể hiểu được”.
Đức Phật nói cho Subhadda nghe về con đường đạo tám ngành, và chỉ cho những người tu
học theo pháp và luật của Như lai, mới thực hành con đường đạo tám ngành và mới có thể trở thành đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn(1). Subhadda vô cùng hoan hỷ, và xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, đồng thời xin được xuất gia làm Tăng ngay bấy giờ trước mặt Đức Phật. Tuy rằng theo luật, đáng lý Subhadda vốn là Du sĩ ngoại đạo, phải trải qua 4 tháng thử thách và sau đó, nếu Tăng chúng chấp nhận mới được thọ giới Tỷ-kheo. Nhưng vì trường hợp rất đặc biệt, Đức Phật đặc cách cho Subhadda miễn trải qua 4 tháng thử thách và bảo Tôn giả Ànanda truyền thụ giới Tỷ-kheo cho Subhadda. Và Subhadda sau một thời gian tu học tinh tấn, trở thành một A-la-hán. Ông là người được Phật hóa độ cuối cùng.
36. Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
Đức Phật thấy Đại đức Ànanda buồn khóc, bèn thân mật an ủi, tán thán đức hạnh của Đại đức Ànanda như là một Thị giả, một đệ tử kiểu mẫu, và
____________________________
(1) Đệ nhất Sa-môn chứng quả Dự Lưu (Sơ quả, chữ Pàli là Sotapanna). Đệ nhị Sa-môn chứng quả Nhất Lai (Sakadagami - Từ Đà Hàm). Đệ tam Sa-môn chứng quả Bất Lai (Anàgami - A Na Hàm). Đệ tứ Sa-môn chứng quả A-la-hán (Arhat). Bốn quả Thánh của đạo Phật, thường được nói tới trong Kinh tạng Pàli.
khích lệ Đại đức phấn đấu tinh tấn để sớm được giải thoát, trở thành A-la-hán. Sau đó, Đức Phật nói với Đại đức Ànanda đi báo cho dân chúng Mallas biết là Như lai sắp nhập Niết-bàn vào canh cuối đêm nay tại rừng cây Sala.
Được tin, đông đảo dân chúng Mallas, đàn ông, đàn bà, người già, thanh niên, trẻ con, tấp nập kéo đến rừng cây Sala bày tỏ lòng tôn kính, thương tiếc và vĩnh biệt Đức Phật lần cuối cùng. Sau đây là những lời dặn của Đức Phật với chúng đệ tử, trước khi Ngài nhập Niết-bàn:
“Này Ànanda! Có thể các ngươi nghĩ rằng: Chỉ còn lại giáo pháp cao cả mà không còn bậc Đạo sư! Chúng ta không còn có bậc Đạo sư nữa. Không! Ànanda, các ngươi không được nghĩ như vậy, Pháp và Luật mà Ta đã dạy, tuyên bố sẽ là Đạo sư của các ngươi, sau khi Ta nhập Niết-bàn!”(l).
_______________________________
(1) Thật sự Đức Phật không để lại cho một Cao tăng đệ tử nào, mà chúng Tăng cũng không bầu lên một vị Thượng thủ nào để thay Phật lãnh đạo chúng Tăng, sau khi Đức Phật qua đời. Lĩnh ý tứ đó của Phật, Đại đức Ànanda trả lời Bà-la-môn Gopaka như sau:
“Không một Tăng sĩ nào được Đức Thế Tôn lựa chọn hay được chúng Tăng bầu lên làm chỗ nương tựa cho chúng tôi, sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn. Nhưng chúng tôi, không phải là không có chỗ nương tựa: chứng tôi có Pháp và Luật làm chỗ nương tựa” (Trung Bộ III, 9).
“Này Ànanda, Tăng chúng nếu muốn, có thể bỏ các giới luật phụ và nhỏ, sau khi Ta nhập Niết- bàn” (1).
“Này các Thầy Tỷ-kheo, nếu các ngươi còn có nghi ngờ gì nữa về Phật, Pháp, Tăng, hay về con đường đạo, về phương pháp thì hãy hỏi Ta, đừng để sau này hối tiếc, nghĩ rằng, đối diện với Như lai mà không hỏi được Như lai câu nào!”.
Đức Phật nói xong, chúng đệ tử đều im lặng, Đức Phật hỏi tới ba lần, chúng đệ tử đều im lặng.
Đức Phật nói: “Có thể các ngươi tôn trọng bậc Đạo sư mà không đặt câu hỏi chăng? Thì hãy để một người nói thay vậy”. Một lần nữa, chúng đệ tử vẫn im lặng.
Đại đức Ànanda bạch Phật rằng: “Tuyệt vời thay! Hy hữu thay! Thưa Đức Thế Tôn, trong hàng đệ tử chúng con ở đây, không có một người nào nghi ngờ và thắc mắc gì đối với Phật, Pháp, Tăng, con đường đạo và phương pháp”.
Đức Phật nói: “Này Ànanda, nhà ngươi nói vì niềm tin đối với Như lai, Như lai biết rõ là trong
____________________________
(1) Vì Đức Phật không nói rõ là có thể bỏ những giới luật phụ và nhỏ nào, cho nên trong Đại hội kiết tập lần thứ nhất, Đại hội để y nguyên giới bổn, không thay đổi.
chúng đệ tử có mặt tại đây, không có người nào còn nghi ngờ và thắc mắc đối với Phật, Pháp, Tăng, con đường đạo và phương pháp. Trong số năm trăm đệ tử này, này Ànanda, người chứng quả thấp nhất cũng được quả Dự Lưu, không còn thoái chuyển nữa, cuối cùng chắc chắn sẽ được giác ngộ”.
Câu nói cuối cùng của Đức Phật là: “Hỡi các Thầy Tỷ-kheo, Ta khích lệ các người, mọi pháp hữu vi(1) đều biến hoại. Hãy tích cực phấn đấu!”. Thế rồi Đức Thế Tôn im lặng. Ngài lặng lẽ nhập định, tuần tự trải qua các cấp thiền từ thấp tới cao, rồi cuối cùng chủ động nhập Niết-bàn.
37. Lễ Trà tỳ và sự phân chia Xá-lợi của Phật.(2)
Kim thân Đức Phật được dân chúng Mallas trân trọng đưa tới Makutabandhana, và để ở đó bảy ngày trước khi tổ chức lễ Trà Tỳ chính thức (hỏa táng). Tôn giả Maha Kassapa cũng về đây để đảnh lễ vĩnh biệt Đức Phật lần cuối cùng và chủ trì lễ hỏa táng. Sau lễ Trà Tỳ, dân chúng Mallas thu thập Xá-lợi để cúng dường. Các nước lân cận và nhất là Vua Ajátasattu cũng xin thỉnh một phần Xá-lợi. Xá-lợi Phật chia làm tám phần, phân phối cho dân chúng
__________________________
(1) Pháp hữu vi: là pháp có thay đổi biến hoại.
(2) Xá-lợi: Hài cốt còn lại của bậc Thánh sau hỏa táng.
Mallas, Vua Ajátasattu xứ Magadha, bộ tộc Licchavi ở Vaisali, bộ tộc Sakya ở Kapilavastu, bộ tộc Bulaka ở Calakalna, bộ tộc Krandya ở Ramagrama, những người Bà-la-môn ở Visudvipa, những người Mallas ở Pava.
Bà-la-môn Dona, người tổ chức thành công việc phân chia Xá-lợi, xin nhận lấy cho mình cái bình đựng Xá-lợi. Những người Maurya ở Pippharana, vì đến chậm, chỉ nhận được tro còn lại của giàn hỏa. Các bên được chia phần Xá-lợi đều xây tháp ở quốc gia mình để cúng dường. Như vậy, có tất cả 10 tháp: tám tháp đựng Xá-lợi của Phật, một tháp xây trên chiếc bình dùng đong chia Xá- lợi, và một tháp thờ tro của giàn hỏa.
*
Trên đây là sơ lược tiểu sử Phật Thích-ca, căn cứ vào các nguồn tư liệu chính thống của kinh sách Đạo Phật. Trong tiểu sử đó, phần nào là sự thật lịch sử, phần nào là huyền thoại và thần thoại, do các thế hệ đệ tử và tín đồ sùng kính Phật thêm vào về sau này, đó là điều chúng ta không thể xác định được. Thế nhưng, dựa vào các tài liệu rải rác và được hệ thống hóa lại, chúng ta có thể có mấy nhận định sau đây về nhân vật Thích-ca, khác với các Giáo chủ tôn giáo khác như thế nào:
-
Phật không phải là Thượng đế tạo thế và cứu thế. Phật, theo đúng nghĩa của từ Phật, là bậc giác ngộ, và ai giác ngộ được như Phật đều gọi là Phật. Vì vậy theo Phật giáo thì đã có nhiều Phật trước Phật Thích-ca và sau Phật Thích-ca, cũng sẽ có nhiều Phật ra đời nữa. Đạo Phật thủy chung bác bỏ quan niệm siêu hình về một cái nhân ban đầu, từ con số không mà sinh ra được thế giới, vạn vật, v.v... Chủ thuyết của Đạo Phật là mọi sự vật đều do nhiều nhân, nhiều duyên sinh ra, gọi là thuyết Nhân duyên sinh. Phật cũng không phải là một đấng cứu thế, vì Phật “Chỉ dạy về con đường và nếu các người đi theo con đường này, mọi đau khổ sẽ đoạn tận” (Pháp Cú, kệ 275).
Phật luôn luôn nhắc nhở đệ tử là tự mình làm cho mình trở nên trong sạch. Và cũng tự mình làm cho mình dơ bẩn, chứ không ai làm cho ai được trong sạch hay dơ bẩn cả.
“Tự mình điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai”.
(Pháp Cú, kệ 165)
Chính vì những lý lẽ trên mà nhiều đạo giáo khác cho rằng Đạo Phật là vô thần, theo nghĩa Đạo Phật không công nhận có Thượng đế tạo thế và cứu thế. Nhưng ít có tôn giáo nào đề cao con người và tình thương con người như Đạo Phật. Thậm chí, có người nói Đạo Phật không phải là tôn giáo, bởi vì đã là tôn giáo thì phải công nhận thế giới do Thượng đế sáng tạo và người phải có linh hồn. Nhưng Đạo Phật đồng thời bác bỏ cả thuyết Thượng đế và thuyết linh hồn.
Nhưng Đạo Phật vẫn là một tôn giáo, ở chỗ, thứ nhất, nó có một Giáo chủ, một Đức Bổn Sư là Phật Thích-ca, mặc dù đã nhập diệt cách đây hơn 2500 năm, vẫn là đối tượng quy ngưỡng của hàng triệu triệu tín đồ Phật tử hiện nay trên khắp thế giới. Thứ hai, nó có một hệ thống giáo lý được ghi lại trong ba tạng kinh điển có nguyên tác bằng hai cổ ngữ chính là Pàli và Sanskrit, và hiện nay đã được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ chính trên thế giới. Thứ ba, nó có một giáo đoàn Tăng sĩ, chấp nhận và thực hành mọi quy tắc được Phật chế định ngay lúc khi Ngài còn tại thế, và được ghi lại trong giới bổn Patimokkha.
Phật luôn luôn khuyến cáo đệ tử là phải tin ở sức mình, ở khả năng của mình thành tựu đích giác ngộ và giải thoát tối hậu. Trong những ngày
cuối cùng của cuộc đời mình, Phật nói với Tôn giả Ànanda, người đệ tử thân cận của mình như sau:
“Hãy dựa vào bản thân mình, như là ngọn đèn sáng cho chính mình. Hãy dựa vào sức của bản thân mình là chính. Hãy dựa vững vàng vào Chánh pháp. Đừng có tìm một chỗ dựa nào khác ngoài bản thân mình. ”
Có thể nói, đặc sắc của Phật Thích-ca như là một Giáo chủ, là không áp đặt một quyền lực nào hết lên con người. Phật không bao giờ cường điệu tính yếu hèn, tính tội lỗi nơi con người. Trái lại, Phật luôn luôn nhấn mạnh con người có đầy đủ bản chất hướng thiện, đồng thời có đầy đủ khả năng tự hoàn thiện mình. Tự mình cố gắng và phấn đấu, thì mình sẽ được giác ngộ và giải thoát. Đó là lời khuyên thường được nhắc đi nhắc lại của Phật Thích-ca.
3. Phật Thích-ca không phải là một nhà cách mạng và hoạt động xã hội theo ý nghĩa hiện đại của từ đó, nhưng quan điểm xã hội của Phật rất rõ ràng. Phật không tán thành chế độ đẳng cấp xã hội ở Ấn Độ. Giáo hội Tăng già do Phật sáng lập không phân biệt đẳng cấp xã hội. Phật nói:
“Hỡi các Tỷ-kheo, cũng như các con sông lớn, sông Hằng Hà, sông Yamuna, sông Aciravati, sông
Sarabhu, sông Mahi, khi chúng đổ vào biển thì chúng mất tên gọi trước đây của chúng, và được gọi cùng một tên là biển cả mà thôi. Cũng như vậy, 4 đẳng cấp Sát Đế Lợi, Bà-la-môn, Vệ Xá và Thủ Đà La, một khi họ đã đến với Pháp và Luật do Như lai giảng thuyết, từ cuộc sống gia đình đến cuộc sống không nhà thì họ cũng đều mất tên gọi trước đây của họ, bộ lạc cũ của họ, và được gọi cùng một tên là Tu sĩ”.
Trong hàng ngũ đệ tử của Phật khi Phật còn tại thế, xuất gia cũng như tại gia, đều có đủ các hạng người, thuộc đủ mọi đẳng cấp, từ các Vua chúa lớn nhất của các vương quốc hùng mạnh tại Ấn Độ thời bấy giờ như Vua Bimbisàra, Vua Ajàtasattu, Vua Pasenadi, v.v... cho đến các Giáo sĩ Bà-la-môn nổi danh là thông minh, cao đạo như anh em Kassapa, hai ông Sàriputta và Moggallàna, cho đến anh thợ cạo thuộc bộ tộc Sakya là UPàli, người kỹ nữ nổi danh tài sắc thành Vaisali là Ambapàli, tên tướng cướp khét tiếng tàn ác là Angulimàla ở Kosala.
Tất cả mọi người, không kể trí, ngu, sang, hèn, nếu thành tâm cầu đạo, ăn năn lỗi trước, đều có thể tu đạo, và chứng đạo, trở thành bậc Thánh giữa chúng sanh, chứng ngay Niết-bàn trên cõi thế. Phật luôn luôn nhấn mạnh tính bình đẳng giữa người và người với nhau. Phật nói về những người thuộc
đẳng cấp Bà-la-môn, vốn thường tự xem mình là tầng lớp xã hội thượng đẳng:
“Là Bà-la-môn hay là tiện dân không phải là do sinh đẻ mà là do hành động của bản thân mình. Người Bà-la-môn không phải sinh ra từ lửa, nhờ có hai thanh gỗ ma sát nhau, cũng không phải từ trên trời rơi xuống hay là từ gió bay ra, cũng không phải từ dưới đất chui lên. Những người Bà-la-môn cũng sinh ra từ bụng mẹ hoàn toàn giống như người Thủ Đà La vậy. Mọi người đều có quan năng trong cơ thể tương tự nhau, không có gì khác nhau cả. Sao lại có thể có những người tự cho mình thuộc loại hay giống người đặc biệt?”
Phật không có thành kiến về giới tính, tuy rằng Phật cho rằng bản chất người phụ nữ là nhạy cảm, yếu đuối, và Phật đã tỏ ra dè dặt khi cho thiết lập đoàn thể Tỷ-kheo-ni đầu tiên. Nhưng sau khi xuất gia, nhiều nữ tu sĩ đã trở thành nổi danh về đạo đức cao khiết và học lực uyên thâm. Cũng như hai ông Sàriputta và Mogga-lana là Thượng thủ của Tăng chúng thời Phật, hai bà Khemà và Gotamì cũng được tôn là Thượng thủ của Ni chúng. Hai bà cũng đều chứng quả A-la-hán.
Giáo hội Tăng già do Phật Thích-ca sáng lập ra là một đoàn thể thật sự dân chủ. Giáo hội đó không biết đến giáo quyền. Giáo hội đó dựa trên
tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, gọi là lục hòa (sáu đều hòa hợp)(l).
4. Phật Thích-ca là một Giáo chủ rất rộng lượng và khiêm tốn. Phật thường ví Phật pháp như cái bè qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng hay là con đường dẫn tới Chân lý, chứ bản thân Phật pháp không phải là chân lý tối hậu. Đã là cái bè qua sông thì có thể có nhiều thuyền, nhiều bè khác nhau cùng qua sông; đã là ngón tay chỉ mặt trăng thì có thể có nhiều ngón tay cùng một lúc chỉ mặt trăng; đã là con đường dẫn tới chân lý thì có thể có nhiều con đường khác nhau dẫn tới đích là Chân lý tối hậu.
Hai nữa, giác ngộ và giải thoát là một thực nghiệm cá nhân, nghĩa là không ai có thể giác ngộ hay giải thoát thay cho ai được cả. Có những điều mình làm được nhưng người khác không làm được, mình làm dễ nhưng người khác làm khó, trong hoàn cảnh này làm được, nhưng trong hoàn cảnh khác lại không. Một tôn giáo tầm cỡ thế giới như Đạo Phật không thể cứng nhắc hay hẹp hòi được. Đấy là một
___________________________
(1) Lục hòa: sáu phép hòa hợp, được Đức Phật chỉ thị cho tu sĩ phải thực hành để đảm bảo cuộc sống đoàn kết tốt đẹp của Tăng đoàn. Đó là: 1. Giới hòa (cùng giữ giới luật); 2. Cư hòa (cùng ở một nơi); 3. Lợi hòa (có lợi ích vật chất gì, cùng chia nhau chung hưởng); 4. Khẩu hòa (nói lời đoàn kết, hòa hợp); 5. Ý hoà (tâm ý hòa hợp); 6. Kiến hòa (kiến giải hoà hợp, không mâu thuẫn tranh cãi, cùng nhau tìm hiểu).
lý do vì sao trong Đạo Phật có lắm tôn nhiều phái, và giữa các phái với nhau, trong quá khứ cũng như hiện nay, tuyệt đối không bao giờ có xung đột bạo lực, tuy rằng có thể có tranh luận. Đồng thời, trong những thời kỳ Đạo Phật cực kỳ hưng thịnh tại nước này hay nước kia, thì nó vẫn tồn tại song song với các đạo giáo khác, tuyệt đối không có sự lấn áp trên thế mạnh dù rằng có nhiều lúc Phật giáo có ưu thế hơn, được chính quyền nể trọng (như trong hai triều đại Lý, Trần ở Việt Nam).
Những Tăng Ni Phật giáo, nếu sống đúng theo giới luật nhà Phật, là những người vô sản hoàn toàn. Họ không có quyền lực, cũng không có tiền bạc. Họ chỉ có hai cái: Lòng từ bi và trí tuệ. Nhưng với hai vũ khí đó, đạo Phật trong một thời, đã từng chinh phục trái tim và khối óc của đại bộ phận nhân dân thế giới cổ đại và phong kiến, và hiện nay nó vẫn là một tôn giáo thế giới với hàng trăm triệu tín đồ(l).
________________________
(1) Toàn bộ thời kỳ nửa thế kỷ IV đến cuối thế kỷ VIII sau Công nguyên có thể được gọi là kỷ nguyên Phật giáo của lịch sử Trung Hoa. Trên thực tế, có thể gọi đó là kỷ nguyên Phật giáo của lịch sử châu Á. Và có thể nói, của cả thế giới, bởi lẽ vào thời đó, khoảng hơn một nửa dân số thế giới là tín đồ Đạo Phật. Đạo Phật trải rộng trên toàn khắp châu Á, trừ hai vùng Sibéri và Cận Đông, tạo thành cho cả châu lục này một sự thống nhất chưa từng có.
(East Asia - The great tradition, (Đông Á - Truyền thống vĩ đại tr.117 - 148. Edwin O. Reisechauer. John K. fairbanks - Harvard University).
Trên đây là 4 đặc điểm về nhân cách của Phật Thích-ca, như là một Giáo chủ. Các Tăng sĩ, Tu sĩ Phật giáo của bất cứ một nước nào, trước đây cũng như hiện nay đều phải lấy đó làm gương. Không thể tưởng tượng được một Tăng sĩ Phật giáo, dù cao niên, dù bác học đến đâu mà có thái độ và giọng nói giáo quyền, sống không giản dị, không thiểu dục, tri túc, lại kích động, chống đối và bạo loạn, vì những mục đích danh lợi cá nhân, bày trò dị đoan để lôi kéo quần chúng, trong khi Phật Thích-ca tuyệt đối ngăn cấm không được làm như vậy, cho rằng đó là một việc làm xấu hổ, không nên làm.
Tăng sĩ phải là gương sáng của đạo đức và trí tuệ, là người thầy dạy giáo pháp và giới luật. Nhà chùa phải là trung tâm của trí tuệ và đạo đức, chứ không phải là nơi chỉ có tín ngưỡng và lễ bái suông. Kinh sách Phật phải được giảng diễn cho người đời hiểu và làm theo, chứ không phải để riêng cho giới tu sĩ đọc tụng một mình. Đó là hướng tiến tới của Đạo Phật chân chính sẽ còn tồn tại lâu dài trong lòng người Việt Nam, trong cuộc sống của người Việt Nam, trên đất nước Việt Nam chúng ta.
*
Phụ chú
Dòng dõi Đức Phật
-
Dòng dõi Thái tử Si-Đác-Ta bên phía cha:
Bộ tộc Sakya (Thích-ca)
Vua Jayasena sinh ra:
- Sihahanu (Sư Tử Giáp) và con gái là Yaso- dhàra. Sihahanu lấy vợ là Kaccana sinh ra Suddho- dana (Tịnh Phạn Vương).
Vua Suddhodana lấy vợ chính là Mahà Màyà sinh ra Thái tử Si Đác Ta. Lấy vợ thứ là Pajapati Gotamì, sinh ra con trai là Nanda (xuất gia làm Tỷ- kheo) và con gái là Sundarì Nanda (Tỷ-kheo-ni).
Thái tử Si Đác ta lấy Yasodhàra (Da Du Đà La) sinh ra con trai là Ràhula (Tỷ-kheo). Một người con gái của Sihahana là Pamita lấy Vua Suppabuddha sinh ra một trai là Devadatta (sau này xuất gia theo Phật rồi trở lại chống Phật, và một con gái là Yasodhàra, sau lấy Thái tử Si Đác Ta sinh ra Rahula (Yasodhàra sau cũng xuất gia làm Tỷ-kheo-ni).
-
Dòng dõi Thái tử Si Đác Ta bên phía mẹ (Mẫu hệ):
Bộ tộc Koliya:
Vua Devadaha sinh ra:
Anjana (con trai) và Kaccana (con gái), lấy chồng là Sihahanu, sinh ra Suddhodana, cha của Thái tử Si Đác Ta, sau này trở thành Phật.
-
Một con trai của Kaccana và Sihahanu là Vua Suppabuddha lấy vợ là Pamita, sinh ra Công chúa Yasodhàra, sau này là vợ của Thái tử Si Đác Ta.
-
Một con gái của Kaccana và Sihahanu là Maha Maya, vợ chánh thất của Vua Suddhodana, thân phụ của Đức Phật. Em gái của bà Mahà Màyà là Pajàpati Gotamì là vợ thứ của Vua Suddhodana.
*
Sách tham khảo:
-
Trường bộ kinh I, II, III, IV.
-
Trung bộ kinh I, II, III.
-
Tăng Chi bộ kinh I, II, III.
-
Tương Ưng bộ kinh I, II, III, IV.
-
Tiểu bộ kinh (tham khảo các kinh: Pháp Cú, Kinh Tập, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Phật thuyết như vậy, Phật tự thuyết).
-
The Buddha and his Teachings (Đức Phật và Giáo lý của Ngài) Narada Maha Thera (bản Anh ngữ).
-
East Asia The great Tradition (Đông A - Truyền thống vĩ đại) Edwin o. Reischauer — John K. Fairbank. Nhà xb. Mode Asia Editions v.v...
*
* *
Phần bốn
45 mùa An cư Kiết hạ và
Thuyết pháp của Đức Phật (*)
-
Mùa An cư Kiết hạ lần thứ nhất tại Lộc Uyển (năm 589).
Một số sự kiện quan trọng được ghi nhận:
Được biết trước đó ông Yasa và 4 người bạn xin xuất gia. Như vậy là 5 vị. 5 vị trước là: Kiều- trần-như (Kondana), Bạt-đề (Bhaddiya), Bà-phạm (Vappa, hay còn gọi là Thập-lực Ca-diếp (Dasabola Kassapa), Ma-ha-nam Câu-ly (Maha- nama Kulika), Át-bệ (Assaji) và Da-xá (Yasa). Tăng đoàn bây giờ là 60 vị.
_______________________________
(*) Lược trích theo cuốn “Sự tích Đức Phật Thích-ca” của Trần Hữu Danh (Cư sĩ Minh Thiện), Nxb. Tổng hợp Tp.HCM-2007)
-
Ông Punna Mantaniputta và 29 người bạn xuất gia sau hạ, có 30 thanh niên dắt vợ đi chơi, trong đó có một người dắt người bạn gái đi theo và bị cô ta cướp mất đồ, họ đến hỏi Phật có thấy cô ta không?
Phật nói: Theo ý ông thì nên tìm người phụ nữ hay tìm ra thực ngã của mình? Họ ngạc nhiên và Đức Phật giảng cho họ. Sau đó họ xin xuất gia. Từ nay số đệ tử là 90 vị.
-
Ông Uruvela Kassapa, 2 người em và 1.000 đệ tử xuất gia: Người anh Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (Uruvela Kassapa) thờ thần Lửa, có 500 đệ tử. Người anh kế Na-đề Ca-diếp có 300 đệ tử, người em út là Già-da Ca-diếp (Gaya Kassapa) có 200 đệ tử.
Họ được Phật hóa độ và xin xuất gia.
Kể từ đây số đệ tử A-la-hán của Phật được nâng lên 1093 vị.
2. Hạ thứ hai tại Venuvana (năm 588).
Hai ông Xá-lợi-phất (Sariputta) và Mục-kiền- liên (Moggallana) và 155 người bạn xuất gia. Xá- lợi-phất nghe câu kệ của Tôn giả Assaji liền đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotâpati).
“Ye dhamma hetuppabhava
Tesam hetum tathagato
Aha tesam ca yo nirodho
Evam vadi maha samano. ”
Chư pháp tùng duyên sanh,
Diệt tùng nhân duyên diệt,
Ngã, Phật, Đại Sa-môn,
Thường tác như thị thuyết.
Tạm dịch:
Các pháp, nhân duyên sanh
Pháp ấy là Nhân duyên
Pháp ấy Nhân duyên diệt
Đại sư nói như vậy.
Kể từ đây số đệ tử đã lên đến 1250 vị đều là A-la-hán.
-
Phật thành lập Tịnh xá đầu tiên Venuvana (Trúc Lâm) để tránh mùa mưa mỗi khi an cư kiết hạ. Truyền thống An cư kiết hạ đầu tiên cũng ở nơi này.
-
Tôn giả Uruvela Kassapa tiến cử Thị giả cho Phật là Ngài Nagasamala.
-
Kaludayin thỉnh Phật về thăm Vua Suddhodana.
Đức Phật hứa sau mùa An cư sẽ về thăm Phụ vương.
Trưởng lão Phạm-chí là nhà lý luận thời danh, sau khi tranh luận đã chịu thua và xin quy y Phật.
Do bị ảnh hưởng vì sợ hao hụt sự cúng dường ngoại đạo quyết tâm chống đối Phật. Họ rêu rao:
Sa-môn Gotama
Đến thủ đô Magadha
Lấy hết đệ tử của Sanjaya
Rồi sắp đến phiên ai nữa?
Và Phật dạy đệ tử đọc lại:
Thánh nhân giác ngộ ra đời
Dạy pháp cao thượng cho người
Ai dám xầm xì chế nhạo
Thánh nhân truyền dạy luật Trời.
7 ngày sau dư luận không còn chống đối nữa.
Ambapali khoảng 32 tuổi, có sắc đẹp tuyệt trần và cậu em trai Kỳ Bà 15 tuổi. Phật giảng cho Ambapali về sắc đẹp vật chất và sắc đẹp tâm hồn. Đẹp hay xấu là do cảm thọ mà có. Chỉ có cái đẹp của tâm giải thoát và lòng từ bi mới là cái đẹp vĩnh cửu, là niềm an lạc chân thật.
. Phật độ cho Nanda xuất gia.
. Phật độ cho Rahula xuất gia.
-
Phật thuyết pháp lần thứ ba trong hoàng cung Kapilavastu (6 tháng).
-
Phật đến thành phố Anupiya thuộc Malla: Ananda, Anuruddha, Bhaddiya, Bhagu, Devadatta, Kombila, Upali, xuất gia.
-
Hạ thứ ba tại Venuvana (năm 587)
-
Một em bé cúng bánh bằng đất vào bình bát Phật. Đức Phật thọ ký cho em 400 năm sau sẽ tái sanh làm Vua Asoka.
-
Ngoại đạo đào hầm lửa hại Phật. Phật và đại chúng đến nơi thì lửa biến thành hồ sen.
-
Maha Kassapa (Đại Ca-diếp) xin Phật xuất gia vì thấy tính cách vô thường của cuộc đời.
-
Bhoddiya ngộ đạo (vì sống đời an lạc không bị gò bó, trước đây Ngài là Tổng trấn nên rất bị gò bó).
-
Phật độ ông Sudatta Anathapindika (Cấp-cô- độc).
Một lần đến xứ Magadha buôn bán được gặp Phật, Phật giảng pháp cho nghe và sau khi nghe Pháp, ông ngộ đạo đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotapatti).
Ông phát nguyện mời Phật đến xứ Kosala (thủ đô Sravasti) để an cư. Phật nhận lời.
Khi hỏi mua, Thái tử Jeta nói: Khu vườn này Phụ vương vừa ban cho tôi, nó quý như vàng. Nếu ông trải vàng khắp vườn thì tôi nhường cho ông. Thái tử nói nửa đùa nửa thực, tin rằng không ai có thể mua như vậy. Nhưng không ngờ Cấp-cô-độc sai gia nhân chở vàng đến lát, trừ các gốc cây! Sự quyết tâm của Cấp-cô-độc làm Thái tử ngạc nhiên, vì biết sẽ dâng cúng cho Phật. Tò mò, nên rồi cũng đồng ý và hứa sẽ cúng cây cho Phật, vì biết Phật là người vĩ đại nên Cấp-cô-độc mới quý như vậy, nên cũng đồng ý góp cây.
Phật thọ trai tại vườn xoài của bà Ambapali tại Vesali. Trên đường thỉnh Phật về thọ trai, bà Ambapali gặp các Vương tử (Lê-xá-tử). Các Vương tử nói với bà nên bỏ việc mời Phật mà mời họ thì họ sẽ trả cho bà 100 ngàn đồng tiền vàng. Nhưng bà không chịu. Các Vương tử hiếu kỳ và theo bà đến nghe Phật thuyết pháp. Sau khi nghe, họ xin Phật xuất gia. ở đây Phật thuyết pháp về con đường Bát chánh tám ngành.
. Ông Sudatta và Jeta dâng cúng Tịnh xá cho Phật.
. Phật nhập hạ ở đây khoảng 25 lần.
. Chú tiểu Rahula nay đã được 9 tuổi.
-
Người vợ không có lòng trắc ẩn, tâm hồn thấp hèn không chăm sóc chồng con, không ôn hòa nhã nhặn, ưa thích chuyện ngang bướng, hư thân trắc nết. Đó là vợ sát nhân.
-
Vợ hay trộm cắp của chồng, giấu tiền xài riêng, đó là vợ trộm cắp.
-
Vợ làm biếng, tham ăn, cả ngày không làm gì, thích ngồi lê đôi mách, hay la lối gắt gỏng, không để ý công lao khó nhọc của chồng. Đó là vợ như bà chủ.
-
Vợ thương chồng như mẹ hiền thương con, trông nom săn sóc từng ly từng tý. Đó là vợ như mẹ.
-
Vợ kính nể chồng như em gái kính nể anh, tánh ôn hòa và hết lòng phục vụ chồng. Đó là vợ như em gái.
Vợ duyên dáng, dịu hiền, vui vẻ, hân hoan mỗi khi thấy chồng như gặp lại người thân lâu ngày xa cách. Đó là vợ như bạn thân.
7. Vợ dù bị roi vọt cũng không sợ hãi, oán trách, im lặng chịu đựng và luôn luôn vâng lời chồng. Đó là vợ như tớ gái.
Phật hỏi Sutata, con dâu của Sudatta, nàng chọn loại nào. Sudatta đáp: Con xin chọn loại thứ 4.
Vua hỏi sao Ngài mới tu đó mà đã thành Phật. Tuổi Ngài còn ít hơn của các vị tu lâu năm ở trong vùng, Ngài có nghe danh họ không? Phật trả lời: Sự giác ngộ không tùy thuộc vào tuổi tác và số năm tu học. Ví dụ như một con rắn bé nhỏ có thể làm ta mất mạng. Một đóm lửa nhỏ có thể thiêu rụi một khu rừng. Một vị tu trẻ có thể đạt đến giác ngộ hoàn toàn. Chớ khinh thường nó. Từ đó vua giác ngộ và về nhà với vẻ hân hoan làm vợ vua là Hoàng hậu Malika và Công chúa Vajiri rất ngạc nhiên. Sau họ biết là vua vừa có cuộc đối thoại với Phật và vua đã xin quy y.
Khi gặp Phật và các Tỷ-kheo trên đường khất thực, Sunita luống cuống lạy Ngài và nói: Con là giai cấp hạ tiện, không dám gần Ngài. Ngài nói: Này Sunita, nước các con sông khi đã chảy ra biển thì cùng một vị mặn. Các giai cấp xuất gia trong giáo pháp Như lai nếu thực tâm tu học thì giá trị
ngang nhau. Ngài thu nhận Sunita vào giáo đoàn và cho xuất gia. Sau đó, Sunita đã trở thành một giảng sư nổi tiếng.
Vua nghe đồn Sunita, người gánh phân mướn thuộc giai cấp hạ tiện đã trở thành một Tỷ-kheo, Vua liền xa giá đến hỏi Phật. Giữa đường, Vua thấy một vị Tỷ-kheo đang thuyết pháp cho bổn đạo, thân tướng trang nghiêm, nói năng điềm đạm, Vua rất có ấn tượng với vị Tỷ-kheo này. Cuối cùng Vua vào hỏi Phật:
. Thưa Thế Tôn, vị Tỷ-kheo nào đang giảng đạo trong lâm viên thế?
Phật trả lời: Đó là Tỷ-kheo Sunita.
. Thưa Thế Tôn, có phải người ấy trước đây là người gánh phân mướn chăng?
Phật trả lời: Đúng vậy, thưa Đại vương.
Vua thốt lên: Thật là tuyệt diệu, thưa Thế Tôn. Với giáo lý cao thượng, với tâm đại bi và bình đẳng, Ngài đã độ cho Sunita thoát khỏi giai cấp hạ tiện. Cũng từ đó Vua phát tâm trở thành Phật tử trung thành của Phật.
Sau ngày Phật thành đạo, Ngài về thăm Phụ
vương cùng triều đình. Khi từ giã người thân, Ngài
tìm cách rủ Nanda, em cùng cha khác mẹ xuất gia. Nanda nghe lời Phật xuất gia nhưng không được thoải mái trong đời sống tu sĩ vì nỗi nhớ người vợ sắp cưới. Biết tâm trạng của em, Ngài dẫn Nanda lên cung trời Đao lợi xem Tiên nữ trên ấy. Xem xong, Ngài hỏi: Em thấy Tiên nữ ở đây và Công nương Janapada Kaly Ani ai đẹp hơn? Nanda trả lời: So với Tiên nữ ở đây thì vợ sắp cưới của em ví như con khỉ cái bị cháy xém đen thui mà thôi. Và Phật hỏi tiếp: Vậy em có muốn lên cõi này không? Nanda thành thật trả lời: muốn lắm. Phật nói: Vậy em hãy gắng tu. Và Phật nói: Trước kia Nanda như một mái nhà dột nát, nhưng ngày nay thầy ấy như một mái nhà tranh dày (dục vọng không thể thấm vào tâm thuần thục của vị ấy được).
4. Hạ thứ 4 tại Venuvana (năm 586)
- Khi nhập hạ ở đây thì dân chúng bị hạn hán mất mùa, dân chúng đói kém, lại bị bệnh dịch hoành hành, dân chúng chết vô số kể. Vương tử Mahali Licchavi ở Vajja vào yết kiến Vua Bimbisara để nhờ Vua thỉnh Phật dùng phép làm mưa độ dân khỏi nạn hạn hán. Vua cử một phái đoàn đến thỉnh Phật, Phật nhận lời. Khi rước Phật, Vua, Hoàng hậu Videhi rất hân hoan. Khi Phật đến xứ ấy thì sấm chớp nổi dậy và một trận mưa trút xuống như thác đổ đã cứu dân chúng vùng ấy sau
nhiều tháng hạn hán. Thế là Phật đã cứu được bệnh dịch và hạn hán ở đây.
5. Hạ thứ năm tại Mahavana thuộc Vesali (năm 585).
Trong hạ này, Phật an cư tại Mahavana (Đại Lâm) theo lời thỉnh cầu của Vương tử Licchavi. Khi Phật an cư ở đây thì lại xảy ra cuộc tranh chấp nguồn nước giữa hai xứ Sakya và Kolya.
Năm này trời hạn, không mưa, nước sông Rohini thấp, không đủ cho nông dân hai bên sông dùng, nên đã xảy ra cuộc tranh chấp giữa Sakya và Kolika. Cuộc tranh cãi không có hồi kết thúc và đã dàn trận hầu để giải quyết vấn đề. Phật đang ở tại Trùng Các giảng đường ở Đại Lâm, hay tin vội đến can thiệp hòa giải.
Phật nói với các vị Vương tử cả hai nước rằng: Nước sông Rohini năm nay yếu là do hạn hán. Chỉ
vài tuần nữa mưa sẽ đến. Nếu quý vị tranh nhau thì chiến tranh sẽ xảy ra và cả hai sẽ bị thiệt hại. Quý vị thử nghĩ mạng sống của quý vị, binh lính, quần chúng là quan trọng hay nước là quan trọng? Tất cả đều nói mạng sống là quan trọng. Vậy Thế Tôn khuyên quý vị nên hòa giải để chia sẻ dòng nước ấy là hơn. Phật nói thêm: Chiến tranh thường gây chết chóc, hận thù, chứ không bao giờ mang đến một giải pháp tốt đẹp, kể cả đối với người thắng trận.
Nghe xong 250 Vương tử xứ Sakya và 250 Vương tử xứ Koliya xin Phật xuất gia và cả hai nước Sakya và Koliya đều rút về chốn cũ, sống trong hòa bình và hòa giải.
- Vua Suddhodana băng hà (năm 585)
Lúc bấy giờ vua Tịnh-phạn đã 81 tuổi, Phật 39 tuổi. Vua muốn nhìn mặt Phật trước khi qua đời nên cho đại thần đến thỉnh Phật. Thành Ca-tỳ-la-vệ cách Vesali 220km, nên đại thần mời Phật đi xe ngựa cho nhanh. Phật đồng ý. Về đến, Phật đi ngay vào hoàng cung. Vua Tịnh-phạn nhìn thấy Phật thì xúc động muốn cười thỏa mãn, nước mắt trào ra. Phật an ủi Phụ vương và hướng dẫn cách tu niệm hơi thở. Vua làm theo. Phật giảng cho vua về cuộc đời vô thường. Vua yêu cầu Thế Tôn và đại thần chỉ định người thay thế. Hội đồng Hoàng gia cử con
trưởng nam của Hoàng thân Bạch-phạn vương lên ngôi kế vị. Vua hoan hỷ và băng hà sau đó.
Sau khi trà tỳ Vua cha, vua mới là Maha Nama lên ngôi. Dì mẫu của Phật là Maha Pajapati Gotami xin Phật xuất gia, Phật từ chối.
- Hoàng hậu Pajapati cùng 500 Nương tử xuất gia tại Vesali
Một tháng sau, năm 584 trước Tây lịch tại Tịnh xá Mahavana ở Vesali, Ananda thấy lịnh bà Gotami và các nữ tu mặc áo vàng đứng trước cổng Tịnh xá tại giảng đường Kutagara, Ananda hỏi và được biết lịnh bà Gotami và 500 Công nương muốn từ bỏ đời sống thế tục, xin được xuất gia. Ananda hai lần xin Phật đều bị từ chối. Lần thứ ba, Ananda cũng cố xin và Đức Phật gọi các Tôn giả Sariputta, Moggallana, Anuruddha, Bhaddiya và Maha Kassapa, đến thảo luận và Phật quyết định nếu Maha Gotami giữ 8 kinh pháp sau đây thì cho nhập giáo đoàn của Phật:
-
Tỷ-kheo-ni dù tuổi đời lớn, tuổi hạ cao, cũng phải luôn luôn cung kính chào hỏi một Tỷ-kheo.
-
Tỷ-kheo-ni không thể nhập hạ nơi mà không có Tỷ-kheo.
-
Cứ mỗi tháng hai kỳ, chúng Tỷ-kheo-ni phải cử người đi thỉnh Tỷ-kheo chỉ định ngày bố-tát và
giờ thăm viếng, giáo huấn và khích lệ việc tu học của Ni chúng.
4. Lúc mãn hạ, Tỷ-kheo-ni phải thọ lễ Tứ tứ chánh thức ra hạ trước mặt những vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni khác để kiểm thảo xem trong ba điều ấy (thấy, nghe, nghi) mình có lỗi lầm điểm nào không để xin sám hốì.
5. Tỷ-kheo-ni đã phạm trọng giới phải chịu phạt manatta (mana đoạ) trước Chư tăng và Chư ni.
6. Thức Xoa-ma-na (Sikkhamana) đã thọ trì 8 giới trong thời gian hai năm, có thể thọ Cụ túc giới Tỷ-kheo-ni trước Chư tăng và Chư ni.
7. Bất luận trong trường hợp nào, Tỷ-kheo-ni không có quyền khiển trách hay nặng lời với Tỷ- kheo (bhikkhu, bhiksu).
8. Tỷ-kheo không được sám hối với Tỷ-kheo- ni, nhưng Tỷ-kheo-ni có thể sám hối với những vị Tỷ-kheo.
Những giới luật trên đây phải được tôn trọng trọn đời, phải được kính nể và không được đổi thay, di dịch.
Chiều hôm đó có 501 nữ tại gia được thọ giới Sa-di-ni do bà Maha Pajapati Gotami được cử làm Ni trưởng. Bà Ambapali xin cúng vườn xoài của bà
để làm Ni xá cho nữ giới. Tôn giả Sarìputta được Phật chỉ định ấn định các phép tắc cho Ni giới.
Hôm sau Phật bảo Ananda: Nếu nữ nhi không xuất gia thì giáo pháp của Như lai tuyên thuyết sẽ tồn tại 1.000 năm. Nhưng nay nữ giới đã xuất gia trong giáo pháp của Đức Phật thì giáo pháp của Như lai chỉ tồn tại 500 năm.
- Cuộc đời đau khổ của cô Uppalavanna (Liên- hoa-sắc)
Khi đi ngang qua công viên Vesali, Tôn giả Mục-kiền-liên gặp nàng Liên-hoa-sắc là một cô gái kiều diễm trêu chọc với nhan sắc tuyệt trần của mình. Đứng trước mặt Liên-hoa-sắc, Tôn giả nói: Nàng có một nhan sắc hơn người, nhưng nội tâm của nàng vô cùng u uất mặc cảm đau khổ, nghiệp chướng nặng nề lắm, nàng sa vào vũng bùn lầy lội. Cô mau thức tỉnh để cứu lấy mình. Cô giật mình và thấy Đại đức đã đánh trúng nội tâm của nàng, nàng cúi mặt khóc và thổ lộ: Thưa thầy, cuộc đời của con đầy ngang trái và tội lỗi, e không cứu nỗi, kể cả Phật! Cô liền kể: Con lấy chồng lúc 16 tuổi, có một cô con gái, chồng mất, mẹ chồng loạn luân với chồng con, con bỏ nhà ra đi làm kỷ nữ. Gặp người chồng khác, con tái giá, nhưng ông chồng con có người đàn bà khác, con đánh ghen với cô ta, không ngờ đó lại là con gái của con. Con chán nản, muốn
đem nhan sắc còn lại để trả thù đời là vậy. Tôn giả Mục-liên an ủi: Cô đừng bi quan như vậy! Áo dơ thì có nước giặt sạch, tâm vẫn đục thì dùng Pháp cao thượng để tu sửa. Cô ta ngộ ra và Tôn giả đem đến trình diện đức Thế Tôn. Thế Tôn giao cho Gotami thế độ và tu tập. Nhờ tinh tấn, một thời gian sau cô chứng quả A-la-hán và đắc ngũ thông. Cô là vị thần thông đệ nhất và là người giảng sư nổi tiếng nhất trong Ni giới.
6. Hạ thứ 6 (năm 584)
Theo ghi chép, Ngài Narada và HW. Schumann thì hạ thứ sáu Ngài nhập hạ tại đồi Makkula gần thủ đô Kosambi. Trong hạ này Ngài dùng thần thông để hóa độ ngoại đạo. Lần đầu Ngài dùng thần thông để trừ ngã mạn cho hoàng thân quốc thích dòng Thích-ca tại Ca-tỳ-la-vệ. Nhưng theo Coomaraswang thì hạ thứ sáu Ngài nhập hạ tại Jetavana, thủ đô Sravasti.
- Phật độ cho bà Khema ở Rajagriha
Tự thị với sắc đẹp của mình, Thái hậu của Vua Bimbisara nghe Phật nói sắc đẹp không bao giờ tồn tại nên bà ghét Phật. Vua Bimbisara làm kế ép bà đến nghe Phật thuyết pháp. Phật hóa hiện các tiên nữ đẹp hơn bà đang hầu Ngài. Ngài hóa hiện thiếu nữ trẻ đẹp, rồi già, chết, tan rã. Bà hoảng hồn và
xin quy y Phật. Sau đó xin xuất gia với sự đồng ý của Vua. Khi xuất gia bà tinh tấn tu hành và chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.
Ở tại Rajagriha có một thương gia tin không còn ai là A-la-hán ở đời này nữa. Nếu ai là A-la- hán thì có thể bay lên không trung được. Ông liền dùng một bát gỗ hương chiên đàn thách ai lấy được thì ông tôn là sư phụ.
Các ngoại đạo không ai lấy được, duy chỉ có Pindola dùng thần thông bay lên lấy được, nên ông xin tôn làm sư phụ. Khi về tịnh xá, Phật biết chuyện và quở trách Pindola và Phật tuyên bố: Chỉ nên dùng thần thông vào việc thuyết pháp mà thôi.
Do Vua Pasenadi và dân chúng Kosala thỉnh cầu Ngài thị hiện thần thông vì Lục sư ngoại đạo thách Phật thi tài. Phật nói với Vua rằng Ngài nhận lời và sẽ thi tài dưới gốc cây xoài. Lục sư biết tin liền cho nhổ xoài hết. Người giữ vườn xoài nhặt trái về dâng Phật. Ananda nhận và vắt nước dâng Phật. Phật bảo Ganda, người dâng xoài hãy đem hột xoài trồng dưới đất và lấy nước mà Phật rửa mặt tưới lên thì cây xoài tất sẽ mọc lên to lớn.
Đúng như lời Phật dạy, xoài mọc lên to lớn. Ngoại đạo thấy vậy liền im lặng rút lui. Phật thị hiện thần thông độ rất nhiều người chứng quả Tu-đà-hoàn ngay tại chỗ thị hiện thần thông thuyết pháp ấy.
7. Hạ thứ 7 tại làng Samkassa (năm 583)
- Phật thuyết pháp tại cung trời Đao lợi
Trong mùa hạ này Đức Phật đã lên cung trời Đao lợi (Tavatimsa) thuyết Thắng pháp (Abhidhamma) cho Thiên chúng và mẹ Ngài là Mahamaya nghe trong ba tháng.
ở đây Ngài chỉ cách cúng dường tối thắng nhất và được phước nhất. Ngài nói: Ông Indaka chỉ cúng dường mỗi một muỗng thức ăn cho Tôn giả Anuruddha mà được tái sanh cõi trời Đao lợi, còn ông thì bố thí 10 ngàn năm mới được tái sanh cung trời Đạo lợi. Vì sao? Ví như người nông dân chọn đất tốt để gieo hạt thì sẽ thu hoạch to lớn, còn ông vì không biết chọn đúng người để cúng dường nên không được nhiều lợi lạc.
Cũng tại đây Đức Phật nói kinh Địa Tạng trong ba tháng cho Thiên chúng và Thánh mẫu Mahamaya nghe và bà đã chứng quả Tu-đà-hoàn. Tôn giả Sariputta lên nghe và về nói lại cho đại chúng và Maha Kassapa nghe về Thắng Pháp.
Khi Phật về tới làng Samkassa thì Ngài Tu-bồ- đề là người đầu tiên đón Ngài và Tỷ-kheo-ni Uppalavanna là người thứ hai đón Ngài.
Vua Ưu Điền nhớ Phật nên sanh bệnh. Các quan Đại thần biết nên nhờ thợ điêu khắc pho tượng Phật cao 5m dâng Vua, Vua hết bệnh. Phật nhìn thấy tượng và khen khá đẹp.
Vương tử Licchavi ở Vesali nghe Phật ca ngợi cảnh trời Đao lợi, liền hỏi Ngài có biết và quen Vua trời Đao lợi (Sakka) không. Ngài nói rất quen và biết rõ. Nhân đó Ngài nói, có 7 nguyên nhân mà Vua trời Đao lợi đã thực hành và sau khi thân hoại mạng chung đã trở thành Vua trời Đao lợi:
-
Suốt đời tôi nguyện nuôi dưỡng mẹ cha.
-
Suôi đời tôi nguyện cung kính các bậc trưởng thượng.
-
Suốt đời tôi nguyện sẽ ăn nói hòa nhã với mọi người.
-
Suốt đời tôi nguyện không nói xấu ai.
-
Suốt đời tôi nguyện sống vì mọi người.
-
Suốt đời tôi nguyện nói lời chân thật.
-
Suốt đời tôi nguyện không giận ai! Nếu giận tôi sẽ dập tắt ngay.
8. Hạ thứ 8 tại rừng Bhesakala (năm 582)
-
Ngoại đạo dùng cô Cinca vu cáo Phật
Lục sư ngoại đạo tức tối vì lợi nhuận bị tổn giảm vì quần chúng tin và nghe Phật. Lục sư cấu kết với Ajita-Kesakanbala, một ngoại đạo bị mất mặt vì không thi thố được thần thông dưới gốc cây xoài Ganda. Họ bàn mưu kế: Nhờ một tín nữ Cinca Manavika (Chiên già Mana) là một cô gái trẻ đẹp, kiêu căng, lui tới Tịnh xá Jetavana, nơi Đức Phật đang ở vào buổi chiều tối để mọi người chứng kiến. Một hôm Phật đang giảng pháp, cô xuất hiện dưới một cái bụng bầu, xỉ mắng Thế Tôn và cho rằng Ngài vô trách nhiệm vì đã làm cha đứa bé trong bụng. Liền khi ấy, Vua trời Đao lợi Sakka bỗng cảm thấy ghế ngồi của Vua đang nóng lên, Vua nhìn thấy Thế Tôn đang bị nhục mạ và vu khống. Vua và bốn Thiên nữ biến thành bốn con chuộc xuống trần và chui vào bụng cô cắn đứt cái dây nịt, miếng gáo dừa rơi xuống, cả hội chúng ồ lên, cô gái xấu hổ bỏ chạy. Vừa ra khỏi Tịnh xá thì cô bị đất chôn vùi và rơi vào địa ngục A-tỳ.
-
Ông bà Nakula gọi Phật bằng con
Trong nhiều kiếp, hai ông bà có lần đã là cha mẹ của Phật. Khi gặp lại Phật, liền nhớ là con mình nên mới gọi Phật là con. Phật nói với các Tỷ-
kheo rằng: Hai ông bà trong nhiều kiếp đã là cha mẹ của Ngài, vì thế nay gặp Phật, họ mới gọi Ngài là con đó. Ngày gặp lại Phật họ vui mừng và mời thọ trai, Phật nhận lời và sau khi thọ trai Phật giảng cho họ. Sau đó họ chứng quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà- hàm và sau ba tháng hạ, họ chứng quả A-la-hán. Phật đã chứng minh lễ Trà tỳ cho hai ông bà trong hạ thứ tám.
9. Hạ thứ 9 tại Tịnh xá Ghosita, Kosambi (năm 581)
- Magandiya, Thứ hậu của Vua dayama, phỉ báng Phật
Magandiya là một thiếu nữ xinh đẹp ở Kosambi, cha mẹ muốn gả cho người có bề thế. Khi thấy Phật đi khất thực ngang qua nhà, ông thấy ưng ý và liền về nhà dẫn con và vợ đến ý định gả cho Phật. Phật biết ý nên để lại dấu chân nơi ấy. Bà vợ ông là người giỏi tướng số nên nhìn dấu chân là biết vị này đã chết hết nhiễm ái thường tình. Khi gặp Phật, Phật nói: Như lai đã ly dục, thân thể chỉ là bị thịt, da chứa đầy nước tiểu và đồ dơ dáy. Cô con gái tự ái, liền tác ý có cơ hội sẽ hại Phật.
Cơ hội đến, khi cô được tiến cử làm Thứ hậu Vua Udayana, cô liền lập mưu hại uy tín Phật bằng cách thuê người theo sau chửi Phật và Tăng chúng.
Tôn giả Ananda khuyên Phật đi nơi khác, Phật nói: Như một con voi lâm trận, hứng chịu mọi cung tên. Cũng thế, các thầy phải nhẫn nại. Chỉ sau 7 ngày nữa mọi lời chửi rủa sẽ im bặt.
Magandiya không thắng Phật lại ghen tỵ với Hoàng hậu Samavati là người hết sức tin Phật, nên lập kế thiêu đốt Hoàng hậu. Vua biết chuyện và cho người thiêu sống bà luôn.
- Nắm lá simsapa và thầy Malunkyaputta
Mùa hạ thứ 9 này, Phật ở Tịnh xá Ghosita trong rừng cây Simsapa, một hôm từ rừng về, Ngài cầm trong tay một nắm lá cây rừng simsapa và hỏi các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, lá trong tay Ta nhiều hay lá trong rừng nhiều? Các Tỷ-kheo nói: Lá trong rừng nhiều. Thế Tôn nói: Cũng thế, tri kiến của Như lai nhiều như số lá trong rừng, còn những điều Như lai dạy cho các thầy chỉ như nắm lá của Như lai nắm trong tay. Vì sao? Vì Như lai chỉ dạy cho các thầy những gì có lợi ích cho sự tu học đưa đến giác ngộ, giải thoát mà thôi. Khi đã giác ngộ, đương nhiên các thầy không cần phải học nữa.
Phật nói như vậy là do có một số vị tranh cãi nhau về thế giới là hữu hình hay vô hình, hữu biên hay vô biên... nên đến hỏi Phật, Phật không trả lời. Malunkyaputta là người thưa Phật: Bạch Ngài,
thế giới này là hữu hình hay vô hình, hữu biên hay vô biên? Phật im lặng. Malunkya nói: Thưa Phật, nếu Ngài biết thì nói biết, không biết thì nói không biết để con chọn lựa có nên theo Ngài hay không theo Ngài xuất gia tu học nữa! Phật nhìn Malunkya nói: Này Malunkya, khi thầy xin xuất gia với Ta, Ta có hứa với thầy là sẽ giảng giải về những câu vô bổ như thế không? Có hứa sẽ giải đáp những câu hỏi thuộc về siêu hình ấy không? - Thưa không, bạch Thế Tôn. Ngài nói: Này Malunkya, ví như một người kia bị trúng tên độc, bà con liền cấp tốc mời thầy giỏi đến nhổ tên độc và băng bó vết thương. Nhưng người bị tên độc không cho và nói: Khoan khoan đã, trước khi nhổ mũi tên độc, tôi muốn biết ai đã bắn mũi tên này, tên họ là gì? Bao nhiêu tuổi? Ở đâu, làm việc gì, thuộc giai cấp nào, vì sao lại bắn tôi? Tôi muốn biết cây cung làm bằng gỗ gì, thuốc độc chế tạo ra sao, v.v...? Này Malunkya, người bị thương sẽ chết trước khi nhổ mũi tên... Người xuất gia cũng vậy, phải học những điều căn bản mà Như lai đã dạy và đang dạy. Còn những điều không lợi ích cho sự tu học để đưa đến giác ngộ thì Như lai không nói tới.
- Tranh chấp giữa một vị Kinh sư và một vị Luật sư
Sự việc xảy ra giữa hai vị Luật sư và Giảng sư chỉ vì vị Giảng sư tắm xong không múc nước vào nhà tắm cho đầy như cũ. Vị Luật sư vào sau thấy trong nhà tắm không còn nước nên hỏi mọi người xung quanh, mới biết vị Giảng sư tắm xong quên múc nước. Hai vị tranh cãi và vị Giảng sư nhận lỗi, sau đó đi múc nước cho đầy lại như cũ. Sự việc xảy ra khi vị Luật sư đem việc ấy nói với đệ tử của mình, đệ tử nói với bổn đạo phe mình. Vị Giảng sư thấy sự việc đã được giải quyết khi vị Luật sư nói: Thầy không cố ý nên không có tội. Khi nghe phe vị Luật sư rêu rao như vậy, phe vị Giảng sư thấy uất ức, sự việc tranh cãi không có hồi kết thúc. Phật khuyên cả hai bên nhưng họ không nghe. Phật liền ôm bát vào rừng một mình để an tịnh.
Đức Phật gặp Đại đức Bhagu ở Badakea. Khi gặp Phật, Đại đức rất vui mừng và rước Phật về nơi ẩn tu của mình. Phật hỏi về sự tu học. Đại đức nói rất an tịnh và thoải mái dù ở một mình. Ngài nói: Ở một mình đôi khi còn khỏe hơn ở với nhiều người.
Khi Phật đến cổng công viên Đông Trúc thuộc xứ Karagama, thì người gác cổng không cho vào,
nhưng Tôn giả Anuruddha biết trước Phật sắp đến nên ra cổng mời Ngài vào. Các Tôn giả Nandiya và Kimbila đều đến vái chào, đảnh lễ Thế Tôn. Sau khi hỏi thăm sự tu học của ba người, cả ba đều cho Phật biết là họ hòa hợp tu học rất tốt. Đức Phật ở lại một tháng để sách tấn và Ngài kết luận: Tấm gương hòa hợp tu học của các Thầy là kim chỉ nam cho Tăng chúng về sau. Từ nay Như lai sẽ lấy Pháp lục hòa để làm nếp sống tu học cho Tăng chúng:
-
Thân hòa đồng trú: Nghĩa là cùng hòa thuận chia xẻ với nhau trong một chúng tu học, một khu rừng hay một mái nhà.
-
Lợi hòa đồng quân: Cùng chia xẻ với nhau thức ăn và các tiện nghi khác.
-
Giới hòa đồng tu: Cùng nhau tôn trọng giới luật chung.
-
Khẩu hòa vô tránh: Nói với nhau phải dùng lời hòa nhã, không gây xích mích và tranh cãi.
-
Kiến hòa đồng giải: Cùng nhau học hỏi và trao đổi sự hiểu biết với nhau trong ôn hòa, không được giấu diếm hay gây tranh luận.
-
Ý hòa đồng duyệt: Không có ý kiến khác nhau thì phải cùng nhau duyệt lại để mọi người cùng hòa thuận và thông cảm với nhau.
10. Hạ thứ 10 trong rừng Rakkhita (năm 580)
-
Phật an cư một mình trong rừng Rakkhita
Rời Tịnh xá Ghosita, nơi đang tranh chấp giữa hai nhóm Luật sư và Giảng sư mà Phật đã hòa giải mà họ không nghe, Ngài một mình đến một khu rừng Rakkhita và an cư tại đây. Rừng yên tĩnh nên Ngài thấy thoải mái dễ chịu. Ngài thường tĩnh tọa dưới gốc cây sala. Nơi đây thường có một con voi chúa thường dẫn đàn voi của mình đến uống nước tại suối này và trên cành cây có một bầy khỉ đang nhảy nhót nô đùa. Cả voi và khỉ thường đến làm quen với Phật. Đức Phật hóa độ nên chúng rất quý mến Phật và thường mang trái cây đến cúng dường Phật. Nửa tháng sau mùa an cư, Ngài đến Tịnh xá Jetavana ở Sravasti.
-
Phật dạy xử sự đúng Chánh pháp
Mùa hạ này Phật an cư trong rừng và sau khi mãn hạ, Phật về lại Tịnh xá Jetavana, các Đại đệ tử vui mừng đến đảnh lễ Phật. Phật hỏi, trong thời gian Ngài đi vắng, tại Tịnh xá có gì lạ không. Tôn giả Ananda thưa: Sự việc giữa hai nhóm Luật sư và Giảng sư xảy ra ngày càng trầm trọng, chả ai nghe ai, vắng Phật nên họ càng đấu khẩu gay gắt hơn. Bổn đạo cũng chia hai, nên rất buồn. Có một số huynh đệ không vào phe phái nào đến khuyên con
nên đi tìm Phật để thỉnh Phật về. Con trả lời với họ rằng: Con đoán biết ý Thế Tôn nên con nói: Ngài không cho Thị giả đi là có lý do, chư huynh đệ nên biết như thế.
Khi nghe Phật về, các nhóm đều kéo về Tịnh xá Jetavana. Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn nên xử sự như thế nào. Thế Tôn dạy phải đúng Chánh pháp mà xử sự. Mở cổng cho họ vào và sắp đặt chỗ ở cho họ riêng từng nhóm. Cư sĩ Cấp-cô-độc đến lễ Phật và hỏi: Chúng con có nên cúng dường cho họ không? Phật dạy, nên cúng dường đúng Chánh pháp cho cả hai nhóm. Đúng Chánh pháp là không nên có thành kiến với bất cứ ai. Ai hành đúng Chánh pháp thì nên cúng dường. Ai hành chưa đúng Chánh pháp thì nên giải thích để cho họ sửa đổi. Ngài xoay qua Tôn giả Xá-lợi-phất nói rằng: Những ai mà tư tưởng, lời nói, hành động đúng Chánh pháp luôn luôn đem lợi ích cho mình, cho mọi người, đưa đến giải thoát và giác ngộ là đúng Chánh pháp. Còn tư tưởng, hành động do tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, kiến thủ... xúi giục đưa đến bất hòa, tranh cãi, bần khổ, sân hận, là không đúng Chánh pháp, nên xa lánh, diệt trừ.
Sáng hôm sau, cả hai nhóm xin Tôn giả Xá-lợi- phất sắp đặt cho họ đến sám hối Đức Phật. Tôn giả nói, tốt nhất là cả hai bên nên ngồi lại hòa giải với
nhau trước rồi sau đó mới lên trình bạch và sám hối với Thế Tôn. Cả hai bên nghe lời và họ sám hối cùng nhau, sau đó Tôn giả Xá-lợi-phất xin Phật cho họp chúng để họ sám hối. Sau lễ sám hối với Phật và Đại chúng, Phật chấp nhận và cho họ phục lại giới thể thanh tịnh. Phật dạy đó là bài học kinh nghiệm và không nên để nó xảy ra giữa chúng nữa. Họ vâng lời.
Trước đó, các vị Cư sĩ cùng áp lực cả hai nhóm rằng: Nếu các thầy không hòa giải và sám hối với Đức Phật, thỉnh Phật về lại Tịnh xá thì họ không cúng dường nữa, và họ đã làm đối với cả hai nhóm.
- Thất diệt tránh pháp
Đức Thế Tôn cho phép Đại Ca-diếp họp Tăng chúng để rút kinh nghiệm ngăn ngừa sự tranh tụng trong tương lai và mời Tôn giả Anuruddha trùng tuyên lại 6 pháp Lục hòa phải tuân thủ và đề nghị 7 pháp diệt tránh như sau:
-
Hiện tiền tỳ ni (Sammukha Vinaya): Những phát biểu về sự tranh chấp phải trình bày trước Đại chúng với sự có mặt của hai bên tranh chấp.
-
Ức niệm tỳ ni (Sati vinaya): Các bên nên trình bày sự việc một cách chi tiết giữa chúng và Đại chúng phải im lặng nghe cả hai bên trình bày một cách vô tư.
3. Bất si tỳ ni (Amudha Vinaya): Hai bên phải có thiện chí hòa giải, không nên ngoan cố. Nếu sự kiện được nêu là vì mình ngu dốt không biết, hoặc vô tình phạm thì Đại chúng phải nương vào đó mà xử hòa giải cho cả hai bên một cách công bằng, êm đẹp.
4. Tự ngôn tỳ ni (Tatsvabhaisya vinaya): Hai bên nên có thiện chí nhận lỗi của mình để cuộc hòa giải được tốt đẹp.
5. Đa nghi tỳ ni (Pratìjnakaraka vinaya): Sau khi nghe hai bên trình bày một cách có trách nhiệm và thiện chí thì Đại chúng biểu quyết bằng đa số.
6. Tội xứ sở tỳ ni (Yadbhuyasikiya vinaya): Án tối hậu về tội này và cách thức sám hối được đưa ra để Đại chúng quyết định bằng cách bạch tứ yết ma (là đọc lớn án lịnh và phải đọc ba lần). Nếu ba lần đọc mà Đại chúng im lặng, không ai phản đối là án lịnh có hiệu lực.
7. Như thảo phú địa (Tranastaraka vinaya): Trong buổi họp hòa giải, phải cử hai vị Trưởng lão đức độ được Đại chúng cử ra để bảo trợ cho hai bên tranh chấp. Các Ngài chăm chú lắng nghe và có kết luận hợp tình, hợp lý và như Đại chúng đã ứng cử để hàn gắn vết thương, kêu gọi hòa giải, tha thứ lỗi cho nhau cũng như phủ rơm cỏ lên mặt đất sình lầy để mọi người bước lên để khỏi bị lâm chân.
Bảy pháp diệt tránh này được bạch lên Thế Tôn. Thế Tôn liền hoan hỷ khen ngợi và đưa vào giới bổn.
- Phật độ bà Janapada Kalyani
Kalyani là vợ mới cưới của Nanda được Phật độ cho xuất gia nhân ngày cưới. Cô ta có sắc đẹp mặn mà hơn người nên cô rất hãnh diện. Khi chồng đi xuất gia, bà buồn khổ và có tâm hận Phật đã để chồng bà xuất gia. Bà nghĩ xung quanh đều đã xuất gia như Rahuda, Nanda, Hoàng hậu Maha Pajapati cùng 500 Công nương họ Thích và xứ Koliya đều xuất gia, nên bà cũng xin xuất gia.
Một hôm, Ni bộ đến hầu Phật tại Tịnh xá Jetavana nên buộc lòng bà cũng phải đi. Khi vào hội trường, bà cố ý ngồi hàng cuối cùng không cho Phật thấy với hai lý do: Thứ nhất, Phật đã lấy đi hạnh phúc của mình (cho Nanda xuất gia); thứ hai, Phật dạy thân là vô thường, tức là khinh bỉ sắc đẹp của bà. Phật biết ý nên dùng thần thông hóa hiện cho bà thấy một Thiên nữ 16 tuổi đẹp tuyệt trần, hơn bà 100 lần, từ khi sắc đẹp tuổi thanh xuân, đến lúc 30, 40, 50, rồi 60, nó biến đổi rất nhanh chóng và cuối cùng da nhăn, má hóp... Bà giật mình nghĩ đến thân phận của bà nên cảm thấy chán chê, ghê tởm thân mình. Nhân đó, Phật nói: Này Rupa Nanda, thân do xương, thịt, máu, bệnh hoạn và hôi
thối, có gì gọi là đẹp, có gì đáng ngợi khen, biết thân này vô thường, biết thân này không sạch, bỏ đi không luyến tiếc, sống cuộc đời an lành. Nghe xong bà chứng quả Tu-đà-hoàn. Nghe câu kệ sau Phật nói tiếp: Này Rupa Nanda, thân này không thật có, là thành phố dựng lên, bằng thịt, gân, máu, mủ và ba trăm miếng xương, chứa già nua, bệnh tật, kiêu hãnh và thất vọng. Nghe xong bà chứng quả A-la-hán.
11. Hạ thứ 11 tại Ekanala, gần Rajagriha (năm 579).
Nhớ lời hứa năm xưa của cậu bé chăn trâu hay giúp đỡ Ngài sau khi 5 anh em ông Kiều-trần-như bỏ đi. Bây giờ cậu bé đã được 20 tuổi. Phật trở lại đây độ cho cậu và cho xuất gia làm bạn với Rahula và cho thọ Sadi.
Là từ khi Sudina đã thoát ly xuất gia, vì trước đó thầy đã có gia đình, nhân hôm nọ nghe Phật thuyết pháp. Có một dịp đi khất thực qua làng, thầy ghé thăm cha mẹ. Cha mẹ Ngài năn nỉ Ngài nên hoàn tục. Ngài không chịu. Cha mẹ nài ép thôi Ngài hãy để lại cho một đứa cháu để nối dõi tông đường rồi tiếp tục tu cũng được. Ngài chiều ý cha
mẹ và cùng vợ cũ ân ái, kết quả là có cháu trai được ông bà đặt tên là Hạt giống. Các Tỷ-kheo biết chuyện, bạch Phật. Phật mới chế luật. Luật phát xuất từ đó là năm thứ 13.
- Đi tu cũng là lao động sản xuất
Trong kỳ nhập hạ lần thứ 11 tại Ekanala, Đức Phật hôm nay đi khất thực gặp lúc ông chủ đang phát thực phẩm cho 500 tay cày. Đức Phật ôm bát đến và đứng trước một bên. Thấy vậy vị Bà-la-môn nói: Này Tu sĩ, tôi cày bừa và gieo mạ, nhờ đó tôi mới có ăn. Ông cũng nên bắt chước cày bừa và gieo mạ để có ăn. Phật nói: Ông Bà-la-môn ơi, Như lai cũng cày bừa và gieo mạ đấy thôi. Như lai cày và gieo mạ xong rồi, bây giờ Như lai mới ăn. Bà-la-môn nói: Nhưng nào tôi có thấy lưỡi cày, con trâu đâu? Tôn giả tự cho là nông dân nhưng dụng cụ làm nông ở đâu? Đức Phật nói: Đức tin là hạt giống, kỷ luật là mưa, trí tuệ là cái ách và cây cày, khiêm tốn là cái cày, tâm là dây cương và niệm là lưỡi cày và cây roi. Như lai sống với 6 căn thu thúc, nói và làm chính đáng, ăn uống độ lượng, Như lai dùng sự chân thật để cắt cỏ dại, thành đạo quả tối thượng là mở dây thả bò. Tinh tấn (Viriya) là loài thú chở nặng, đã đưa Như lai đến an tịnh Niết-bàn. Đó là lần cày của Như lai đã thực hiện, không còn phiền muộn lo âu, vì không còn tái sanh nữa. Nghe
xong vị Bà-la-môn Kasi Bharadvaja bới chén cơm trộn sữa dâng Ngài, nhưng Ngài không nhận vì Ngài giảng pháp không phải để đổi cơm áo như ông nghĩ, xin để hôm khác và ông Bà-la-môn xin Phật quy y Tam bảo.
- Phật dạy Rahula giữ chánh niệm trong khi đi khất thực, tu hạnh của tứ đại, tu hạnh từ bi hỷ xả, quán vô thường, quán hơi thở.
. Trong khi đi khất thực sau Thế Tôn, Rahula mất chánh niệm, đã nghĩ lung tung về đời sống của Đức Phật theo như lời tiên đoán của tiên A-tư-đà rằng nếu Phật làm Chuyển Luân Vương thì đời sống của Phật, của Rahula sẽ ra sao? Chắc Ngài oai phong lẫm liệt lắm! Nếu như vậy thì ta cũng sẽ như Ngài... Phật biết tâm tư của Rahula nên dừng bước quay sang Rahula quở trách và khuyên nên duy trì hơi thở và chánh niệm tỉnh giác, không nên nghĩ vớ vẩn nữa.
. Khi biết tâm của Rahula đã thuần thục, Ngài dạy Rahula tu hạnh tứ đại. Phật bảo Rahula rằng: Con hãy học theo hạnh của đất. Khi người ta đổ lên đất những thứ sạch sẽ và đẹp đẽ như hoa, nước thơm, sữa thơm; hay những thứ dơ bẩn hôi hám như phân, nước tiểu, máu mủ; hay họ khạc nhổ thì đất vẫn tiếp nhận một cách thản nhiên, không vui, không hận. Con cũng thế, khi những cảm thọ khoái
lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để chúng nhiễu loạn và chiếm cứ tâm con. Con hãy học theo hạnh của nước. Khi người ta giặc giũ làm ô uế nước, nước cũng không vì thế mà tủi buồn, chán chường. Cũng vậy, khi cảm thọ buồn vui phát sinh, con cũng đừng để chúng xâm chiếm, nhiễm loạn tâm con. Con hãy học theo hạnh của lửa. Lửa có thể đốt cháy mọi thứ, kể cả đồ tanh hôi, dơ dáy, vậy mà lửa cũng không vì thế mà cảm thấy tủi nhục, buồn chán. Cũng vậy, khi cảm thọ buồn vui phát sinh, con đừng để chúng nhiễu loạn tâm con. Con hãy học theo hạnh của không khí. Không khí có thể chứa chấp và làm tan các thứ mùi mà vẫn không cảm thấy tủi nhục, buồn khổ, chán nản. Cũng vậy, khi cảm thọ khoái lạc hay xấu hổ khởi lên, đừng để chúng xâm chiếm, nhiễu loạn tâm con.
. Con hãy tu tập lòng Từ (metta) để đối trị giận hờn. Tu tập lòng từ lúc nào cũng nghĩ đến chúng sinh, đem vui cho họ không có điều kiện.
. Tu tập lòng Bi (Karuna) để đối trị sát sanh, phải thương yêu chúng sinh, đem vui và an lạc cho họ không có điều kiện, không mong đền đáp.
. Con hãy tu tập lòng Hỷ (mudita) để đối trị tánh ganh ghét, đố kỵ, đem an vui cho chúng sinh không điều kiện và không mong đền đáp.
. Con hãy tu tập lòng Xả (upekkha) để đối trị bệnh cố chấp, ích kỷ, kỳ thị... Tu tập lòng xả là không chấp ngã nhơn, chúng sinh thọ giả..., phải thực hiện hạnh bình đẳng đối với muôn loài. Có lòng Xả thì mới giải thoát.
. Con hãy quán Vô thường... để vào cảnh giới bất sanh diệt hầu trừ Pháp chấp và Ngã chấp. Con phải phân tích thân ta, vũ trụ ta đang ở đều không ngoài sự thành trụ hoại không. Tất cả đều biến đổi không ngừng đó là Vô thường.
. Con phải quán hơi thở. Mỗi ngày con phải quán hơi thở để giữ chánh niệm, loại bỏ tạp niệm, để tỉnh thức và sống trong chánh niệm tỉnh thức thì con sẽ an lạc.
12. Hạ thứ 12 tại Veranja xứ Kosala (năm 578)
- Nạn đói ở Veranja
Đây là mùa an cư thứ 12 trong khu vườn của ông Naleru xứ Kosala do ông Agnidatta thỉnh Phật và đại chúng về vườn của ông an cư.
Ông hỏi Phật: Tại sao con thấy Ngài không bao giờ đảnh lễ một vị Bà-la-môn lớn tuổi nào cả? Phật nói: Như lai chưa thấy vị Bà-la-môn nào xứng đáng để Như lai đảnh lễ. Nếu Như lai đảnh lễ họ mà họ không đủ đức hạnh thì vị ấy sẽ vở sọ ra chết ngay.
Trong mùa an cư này, ở đây xảy ra nạn đói. Các Thị giả phải đi xin cám cho ngựa ăn để về dâng Phật. Khi thấy đói, Tôn giả Mục-kiền-liên xin Phật dời đến nơi khác, Phật không cho và nói nên chia xẻ với sự đói kém của địa phương thì tốt hơn.
- Nên ban hành luật khi nào?
Tôn giả Xá-lợi-phất một hôm thưa Phật: Bạch Thế tôn, giáo pháp của 7 vị Phật trong quá khứ của ai tồn tại dài nhất và ngắn nhất? Phật nói: Giáo pháp của 3 vị: Tỳ-bà-thi, Thi-khí và Tỳ-xá-phù không tồn tại lâu dài, còn giáo pháp của 3 vị Câu-lưu-tôn, Câu- na-hàm, và Ca-diếp tồn tại lâu dài. Phật dạy lý do giáo pháp tồn tại lâu hay mau là do nếp sống của Đại chúng có kỷ cương hay không. Tôn giả Xá-lợi- phất xin Ngài ban bố giới luật. Phật dạy bây giờ chưa phải là lúc ban bố, chừng nào có những lỗi lầm xảy ra trong Tăng chúng, khi ấy mới ban hành.
-
Hạ thứ 13 tại Calika xứ Koliya (năm 577)
Thị giả của Phật là thầy Meghiya xin Phật vào tu một mình ở trong vườn xoài bên mé rừng. Phật không cho, nhưng thầy cố gắng xin 3 lần và Phật cho phép. Khi vào rừng tu một thời gian ngắn thì tâm tham dục xâm chiếm, cuối cùng thầy trở về bạch Phật rõ. Phật dạy người tu thiền một mình phải làm chủ 5 điều:
-
Phải có bạn đồng tu giúp đỡ.
-
Có giới để giúp mình an trú trong chánh niệm.
-
Cần có cơ hội để học hỏi giáo lý cho thâm hậu.
-
Chăm chỉ thiền quán.
-
Cần dứt trừ tính cố chấp thành kiến... để đạt chánh kiến, chánh tư duy và trí tuệ...
Muốn dứt trừ tâm tham dục thì phải quán cửu tướng, tức 9 giai đoạn tàn hoại của cơ thể từ khi chết cho đến khi xương cốt tan rã để đối trị ái dục.
Phải quán Từ bi để biết cuộc đời vô thường để đối trị sân hận.
Phải quán vô thường để biết quá trình sinh diệt của vũ trụ: Thành, trụ, hoại, không để đối trị tham lam ham muốn.
Phải quán tùy tức là theo dõi hơi thở ra vào để đối trị tâm tán loạn, nuôi dưỡng chánh niệm.
14. Hạ thứ 14 tại Jetavana (năm 576)
- Nữ sĩ Visakha cúng Tịnh xá Pubbarama (Đông Viền)
Bà Visakha là một Phật tử thuần thành, sau khi nghe Phật thuyết pháp, bà đã chứng quả Tu-đà-
hoàn. Nhận thấy tín đồ ngày càng đông, có lúc không đủ chỗ để nghe pháp, bà phát tâm cúng Tịnh xá và được đặt tên là Đông Viên, trong có giảng đường Lộc Mẫu. Bà là người xin Phật 8 điều:
-
Dâng y cho chư Tăng trong mùa an cư cho đến suốt đời.
-
Cho các Ni sư đến Sravasti.
-
Cúng dường cho các sư rời Sravasti.
-
Cúng dường thực phẩm cho các sư khi đau ốm.
-
Cúng dường các vị chăm sóc cho các sư bị bệnh.
-
Cúng dường thuốc men cho các sư đau ốm.
-
Cúng dường lúa mạch cho chư Tăng Ni.
-
Cúng dường y tắm cho các Tỷ-kheo-ni.
Phật giảng cho Đại chúng nghe bài kinh này nhân thầy Thera thích sống một mình. Phật dạy: Người biết sống một mình là người an trú trong chánh niệm, đang ý thức những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại..., không truy tìm quá khứ, không hướng đến tương lai, vì quá khứ thì không còn, tương lai thì chưa tới. Sự sống chỉ có mặt trong giờ phút hiện tại.
Phật khen Tỷ-kheo Sangamaji.
Thầy Sangamaji sau khi nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm xuất gia. Trước đó khi còn là cư sĩ, thầy đã có vợ đẹp con thơ.
Một hôm biết được Ngài đang tu ở Tịnh xá, vợ bồng con đến Tịnh xá gặp Thầy đang ngồi dưới gốc cây, bà liền năn nỉ Thầy trở lại đời sống thế tục. Thầy không chịu, bà nổi giận, giao con cho Thầy. Thầy vẫn im lặng. Con khóc, bà chịu không nỗi, nên trở lui bồng đứa con ra về.
Nghe chuyện, Phật khen Tỳ-kheo ấy.
- Phật dạy Vua Pasenadi cách cúng dường tại tư gia
Vua Pasenadi đứng trên lầu quan sát thấy chư Tăng đông đảo đi đến khất thực tại nhà ông Cấp- cô-độc, bà Visakha và bà Suppadana. Vua cũng phát tâm và xin Phật mỗi ngày cử 500 vị đến cung Vua thọ trai. Phật đồng ý và giao cho Anan sắp đặt. Việc thọ trai 7 ngày đầu đích thân Vua tự tay cúng dường. Đến ngày thứ 8 quá bận việc triều chính nên quên dặn người lo liệu, rồi ngày thứ 10, thứ 11 cũng thế. Duy chỉ có Ananda ở lại do người nhà Vua tự cúng. Vua về và chỉ thấy một mình Ananda thọ thực. Vua đến Tịnh xá hỏi mới biết mình quên đã 3 hôm nên chư Tăng thiếu tin tưởng nên không đến. Nhân đó Phật dạy 9 điều sau đây:
-
Gia chủ không nghênh tiếp.
-
Không đón tiếp niềm nở.
-
Không vui vẻ mời ngồi.
-
Giấu diếm thức ăn tốt.
-
Có nhiều, cúng ít chư Tăng ăn không no.
-
Cho thức ăn quá xấu.
-
Thiếu lễ độ trong khi cúng dường.
-
Cư xử thô lỗ trong khi cúng dường.
-
Không chăm chú nghe pháp.
- Phật dạy đám trẻ nghịch cua về lòng từ bi
Nhân đi khất thức ngang qua một thôn, Phật thấy bọn trẻ con nghịch cua. Chúng bắt cua dưới ruộng lên cho thi nhau chạy. Con nào chạy thua, chúng bẻ càng. Con nào hơn chúng cũng bẻ một càng để chấp. Thấy thế, Phật khuyên chúng đừng chơi trò ấy và Phật khuyên chúng rằng: Con cua cũng có gia đình, biết ăn uống, cũng có cha mẹ như các con. Nếu người khác bẻ chân, tay của các con, các con có đau không? Nếu các con biết đau thì con cua cũng vậy. Các con nên bỏ trò chơi quái ác này nhé. Chúng vâng lời và giải tán. Phật nói với Đại chúng: Chúng sanh đau khổ do vô minh. Các Thầy phải quán từ bi và giúp chúng sanh bớt khổ để đem lại an lạc, hạnh phúc cho họ.
15. Hạ thứ 15 tại vườn Nigrodha, Kapilavattu (năm 575)
-
Vua Suppabuddha bị đất nuốt
Vua Suppabuddha là bà con với Phật. Khi Phật xuất gia, cả dòng họ trong đó có Vua đều phán đối. Nhân khi Vua uống rượu say, gặp Phật đi ngang qua, ông mắng nhiếc và nhục mạ Phật một cách thậm tệ. Phật không đi nữa, liền quay về Tịnh xá và Ngài nói: Do nghiệp ác lâu đời của hai cha con (Devadatta) từ tiền kiếp với Phật, nên 7 ngày sau Vua sẽ bị đất nuốt. Đúng 7 ngày sau, từ tầng lầu trệt của Vua, đất nẻ làm hai và nuốt Vua vào lòng đất, đọa xuống địa ngục A-tỳ.
-
Rahula thọ Cụ túc (trên 20 tuổi)
Đúng 20 tuổi, Phật cho phép Rahula thọ Cụ túc và bảo Xá-lợi-phất làm lễ cho Rahula, và sau đó Phật dạy cho Rahula quán 18 giới phân biệt và quán 5 uẩn để trừ ngã chấp.
16. Hạ thứ 16 tại thành phốAlavi (năm 579)
-
Phật độ quỷ Dạ xoa Alavaka (Khoáng Dã)
Ngài nhập hạ ở Alavi trong một ngôi miếu hoang thờ quỷ Dạ xoa Yakkha. Quỷ này rất hung dữ, chuyên ăn thịt người. Phật ngồi tham thiền trong miếu thì quỷ Dạ xoa vào quát mắng Thế Tôn
và hét lớn: Đi ra khỏi nơi đây mau lên! Ba lần quát và ba lần nói: Hãy đi vào mau lên! Phật đều làm y như nó bảo. Đến lần thứ tư, Phật nói: Như lai ba lần chìu ý ngươi. Nay Như lai không đi đâu hết. Nếu vậy ta sẽ phân thây ông, xé nát tim ông... Phật nói: Ngươi không làm được đâu. Nhưng ngươi cứ hỏi. Dạ xoa nói: Nếu ông trả lời ta 13 câu hỏi này, nếu đáp đúng, ta sẽ tha cho ông. Phật nói: Ngươi cứ hỏi.
-
Vật sở hữu quý nhất của con người là gì?
-
Điều gì nếu thực hành đúng sẽ đem lại hạnh phúc?
-
Hương vị nào ngọt ngào hơn tất cả?
-
Sống thế nào là cao thượng nhất?
-
Làm sao vượt qua khổ ải tai nạn nguy hiểm?
-
Làm sao thực hiện được một việc khó khăn to nhất?
-
Làm thế nào chế ngự được phiền não?
-
Làm sao thâm tâm được thanh tịnh?
-
Làm sao đạt được trí tuệ?
-
Làm sao lập nên sự nghiệp?
-
Làm sao thành đạt danh vọng?
-
Làm sao cho tình bằng hữu trở nên khắng khít?
-
Làm sao cho sạch phiền não khi qua đời?
Phật trả lời:
-
Niềm tin sáng suốt.
-
Giáo pháp cao thượng nếu thực hành đúng.
-
Lòng từ bi.
-
Sống với trí tuệ.
-
Vượt qua bằng niềm tin.
-
Vượt qua bằng đức kiên trì.
-
Chế ngự bằng tính nhẫn nhục.
-
Thanh lọc bằng trí tuệ.
-
Có niềm tin sáng suốt, kiên trì tu tập với bậc Đại giác.
-
Sáng suốt, kiên trì, cần mẫn làm việc.
-
Tính chân thật.
-
Đức quảng đại khoan dung.
-
Có 4 phẩm hạnh: chân thật, giới đức, can đảm và khoan dung.
Sau khi nghe, quỷ xin quy y Phật, Pháp, Tăng và nguyện sẽ đi cùng khắp để truyền bá điều lợi ích này. Phật dạy: Ngươi-có giữ được 4 giới: sát, đạo, dâm, vọng không? Bạch Thế Tôn, con giữ được 3 giới, còn giới sát nếu giữ thì con và con cháu con lấy gì mà ăn? Phật nói: Thôi được, Ta sẽ nói các đệ tử Ta cúng dường cho ngươi trước khi ăn.
17. Hạ thứ 17 tại Venuvana (năm 573)
-
Thi hài người đẹp Sirima trước giờ hỏa táng
Phật an cư tại Venuvana xứ Magadha. Sirima, em gái của Jivaka chết đột ngột. Sirima là một trang tuyệt thế giai nhân, làm nghề kỹ nữ, tuổi tròn 25, nên cả vùng ai cũng biết tiếng. Cái chết của cô làm chấn động các vùng phụ cận. Jivaka là bác sĩ riêng cho Phật, ông mời Phật về chứng minh lễ hỏa táng cho em. Phật nhận lời và đề nghị: Hãy cho người đi rao có ai muốn mua thi hài của Sirima không. Từ 1000 quan xuống còn 1 quan, thậm chí còn biếu không nữa, mà không ai dám mua và muốn nhận xác cô. Phật nhân đó nói: Thân này là cái thành xây bằng xương cốt, tô quét bằng máu thịt để cất chứa sự già và sự chết ngã mạn và dối gian. (P.c. 147)
18. Hạ thứ 18 tại tảng đá Caliya xứ Koliya (năm 572)
Lúc Phật an cư tại hang đá Caliya, ở đó cô có nghe Phật dạy về việc quán tướng chết rằng: Đời sống không chắc chắn, nhưng cái chết thì chắc chắn. Không ai tránh được cái chết... về nhà cô thường chiêm nghiệm và quán cái chết và rất thành công. Hôm nay nghe Phật về an cư ở đây, cô rất mừng. Cô
nhất định sẽ đến hầu Phật, nhưng cha cô bắt cô cuốn hết các cùi chỉ để đem đến xưởng cho cha cô dệt hầu giao hàng cho kịp. Cô quấn chỉ gần đến trưa mới xong. Cô mang đi giao cho cha rồi đến gặp Phật, nhưng không vào được. Sau giờ thọ trai, Phật ngồi im không thuyết lời nào. Trên đường đến xưởng, cô cố gắng vào nhìn Phật và Phật cũng nhìn thấy cô. Cô cúi lạy Phật. Phật hỏi: Con từ đâu đến? - Bạch Thế Tôn, con không biết. Rồi con đi về đâu? Con không biết? Con không biết sao? Dạ, con biết. Con biết thật không? Dạ, con không biết. Thính chúng ngẩn ngơ cho là cô nói không tôn trọng. Phật biết ý liền giải thích: Khi Như lai hỏi con từ đâu đến, tại sao con nói con không biết? Bạch Thế Tôn, Ngài biết rõ con từ nhà đến đây. Nhưng con hiểu ý Ngài muốn hỏi con từ cảnh giới nào đến đây. Thật sự con không biết. Rồi Như lai hỏi vậy con sẽ đi về đâu, tại sao con nói con không biết? Bạch Thế Tôn, chắc Ngài biết con đang đi đến xưởng dệt. Nhưng ý Ngài muốn hỏi con sẽ tái sanh về đâu. Điều đó con không biết. Ngài lại hỏi con không biết sao, tại sao con đáp con biết? Bạch Ngài vì con biết chắc con sẽ chết và tái sanh. Ngài lại hỏi con biết thật không, sao con lại đáp con không biết? Bạch Ngài vì con không biết chừng nào con chết và sẽ tái sanh về đâu. Phật khen cô là người có trí, người thông suốt cõi đất, người làm chủ chư
Thiên, hết thảy vị thế chúa ấy chẳng sánh kịp một vị đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
Chiều hôm đó cô bị tai nạn nghề nghiệp và chết tại xưởng dệt. Cha mẹ cô thương nhớ đến hỏi Phật. Phật xác chứng cô đã chứng quả Tu-đà-hoàn, hiện đang ở trên cõi trời Đâu suất.
19. Hạ thứ 19 tại Griddhakuta (năm thứ 571)
Griddhakuta là Linh Thứu, nằm trên đồi cao, có tảng đá lớn để Phật ngồi thuyết pháp và từ dưới chân núi đi lên có các hang động của các Ngài Xá- lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ananda, Ca-diếp...
- Phật truyền tâm ấn cho Maha Kassapa (Đại Ca-diếp - Niêm hoa vi tiếu).
Một hôm, trên tảng đá núi Linh Thứu, Ngài từ trong tịnh thất đi ra, trên tay cầm cành hoa sen vàng, bước lên giảng tòa ngồi và đưa cành sen lên. Đại chúng ngơ ngác nhìn nhau, duy chỉ có Ca-diếp mỉm cười nhìn Phật. Phật dạy: Như lai có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn.(1) Hôm nay trao cho Thầy Ca-diếp.
______________________
(1) Hán: Ngô hữu chánh pháp nhãn tạng, Nỉết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, kim phú Maha Ca- diếp (Ta có pháp môn vi diệu, gọi là kho tàng hiểu biết về chánh pháp, nay trao cho ông Maha Ca-diếp).
Nhận thấy mọi người còn ngơ ngác. Phật nói: Khi Như lai đưa cành hoa sen lên, các Thầy đều nhìn thấy hoa. Nhưng các Thầy nghĩ vì cớ gì hôm nay Như lai đưa cành hoa lên không nói một lời? Này Đại chúng, khi đã sinh tâm khởi là mất chánh niệm. Chư Phật mười phương đều có tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng, an trú trong Niết-bàn diệu tâm. Duy chỉ có Ca-diếp hiểu được ý Như lai vì tâm thanh tịnh, do đó nhập tri kiến Phật.
Jivaka là con của Vua Bimbisara và bà Ambapali. Năm 14 tuổi chàng ở Gandhara, vì là Thái tử nên được mẹ đón đến hầu chăm sóc Phật ở Venuvana. Năm 571 chàng 31 tuổi và tốt nghiệp ngành y, là người chăm sóc chính cho Vua. Được vua cha chỉ định là người đến chăm sóc cho Phật và các Tỷ-kheo. Ông là người đề nghị với Phật: Nên quét dọn vệ sinh xung quanh Tịnh xá và giữ gìn môi trường sống; y phục phải được giặc giũ hàng ngày; nên có đãy lọc nước để uống; nhà tắm, nhà vệ sinh phải được thiết lập cho đủ ở trong Tịnh xá; thức ăn khất thực không được để cách đêm... Tất cả đề nghị này đều được Phật ghi nhận. Sau hạ lần 39, Jivaka được 51 tuổi và xin Phật xuất gia. Phật chấp nhận và cho hiệu là Vimala Kovidanna.
Phước điền y
Một hôm Phật thấy một vị Tỷ-kheo ôm một xấp y đang đi khất thực về. Phật hỏi và vị ấy thưa do tín thí cúng. Phật hỏi: Nếu một Tỷ-kheo nên có mấy y? Vị ấy thưa: 3 y là đủ. Phật chấp thuận.
Một hôm từ trên đồi cao nhìn xuống cánh đồng thấy ruộng có lúa từng thửa chín vàng rất đẹp, Phật nói với Ananda rằng nếu y may như thửa ruộng ấy thì có được không? Ananda xin Phật cho may như vậy. Vì mảnh y ví như ruộng nhà để cho tín thí gieo phước vào đó.
20. Hạ thứ 20 tại Jetavana (năm 570)
- Angulimala xuất gia sau khi đã giết 999 người
Ansulimala lúc nhỏ tên là Ahimsaka (người vô tội). Cha là Quốc sư của Vua Pasenadi (xứ Kosala), mẹ là Mautani. Ông được cha mẹ cho đến học với danh sư xứ Taxila. Vì ông học hành song toàn, nên bị các đồ đệ khác ganh tỵ. Một hôm Thầy ông đi vắng, bà vợ Thầy quyến rũ ông và bị ông từ chối. Bà về nói xấu ông với chồng, cộng thêm đám đệ tử thù ghét hãm hại, nói xấu đến tai Thầy ông. Ông Thầy căm tức, bèn lập mưu đuổi ông đi bằng cách nói: Nếu con giết được 1.000 người, lấy ngón tay họ về trình Thầy thì Thầy sẽ truyền lại kiến thức và thần lực cho con. Ông vâng lời và đã giết 999 người, chỉ còn một người nữa là đạt kết quả.
Một hôm Phật đi ngang qua vùng, quán sát thấy Angulimala đáng được hóa độ nên Ngài đi đến tìm gặp ông. Khi thấy Phật xuất hiện, Angulimala mừng rỡ chạy theo giết Ngài, nhưng càng chạy càng không kịp, mặc dù Phật vẫn bình thản bước đi. Angulimala ngạc nhiên và hét lớn: Này Sa-môn Gotama, hãy dừng lại. Thế Tôn nói: Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ có ngươi là chưa dừng lại thôi! Angulimala là người thông minh, hiểu ra câu nói ấy và cúi đầu lạy Thế Tôn xin quy y. Phật chấp thuận. Từ đó Angulimala trở thành một Tỷ- kheo, và sau đó nhờ tu hành tinh tấn đã trở thành A-la-hán. Cũng cần nhớ rằng: Nếu không gặp Phật thí ý định của Angulimala sẽ về giết mẹ để đủ 1.000 ngón tay dâng thầy theo sự hướng dẫn trả thù của thầy cũ.
- Tỷ-kheo Ananda được chọn làm Thị giả thường xuyên cho Phật
Trong 20 năm qua Phật không có Thị giả nhất định, có 8 vị đã giúp đỡ Phật có thời hạn: Nayasamala, Sunakkhatta, Upavana, Nagita, Sagatta, Radha, Meghiya và Sa-di Cunda.
Lúc Phật 55 tuổi, Ngài nói với Sariputta rằng nên cử cho Ngài một Thị giả. Các Tôn giả lớn bên cạnh Phật xin làm Thị giả, nhưng Phật không chịu. Cuối cùng Đại chúng tiến cử Ananda. Ananda sợ
mang tiếng vì là em Phật nên nêu 8 điều, nếu Đại chúng đồng ý thì Ngài mới chịu làm:
-
Phật không ban cho tôi những bộ y do thiện tín cúng dường Ngài.
-
Phật không ban cho tôi những vật thực do thiện tín cúng dường.
-
Phật không cho tôi ở cùng Phật trong một tịnh thất.
-
Phật không cho tôi đi theo Ngài khi được thí chủ thỉnh riêng.
-
Phật sẽ hoan hỷ cùng đi với tôi khi tôi được một thí chủ mời thọ trai.
-
Phật sẽ cho phép tôi tiến dẫn những vị khách từ phương xa đến xin yết kiến Ngài.
-
Phật sẽ cho phép tôi đến bạch hỏi mỗi khi có hoài nghi.
-
Phật sẽ hoan hỷ nói lại những bài pháp Ngài giảng khi không có mặt tôi.
Tám điều yêu cầu trên được Phật chấp thuận.
- Đại đức Angulimala bị hành hung và Đại đức cũng ra tay cứu giúp một sản phụ khó sinh
. Thầy Angulimala đã xuất gia, Thầy đi khất thực thì bị một đám người hung dữ nhận diện Thầy và họ vây đánh Thầy sứt đầu, bể trán, máu ra lai láng, y bát
bị bể và rách. Thầy không chạy, cũng không kêu ca và sau đó ngất đi. Sau khi tỉnh dậy, Thầy lê bước về tịnh xá. Thầy Ananda bạch Phật. Phật dạy: “Này Angulimala, nghiệp cũ do Thầy gieo nay Thầy phải trả quả ấy. Không nên ôm lòng hận thù mà phải hoan hỷ trả báo ấy đi.” Thầy vâng lời và xin sám hối tội lỗi đã gây ra. Vài ngày sau, Thầy an nhiên nhập Niết- bàn. Phật dạy: “Người nào trước buông lung sau lại tinh tấn, người đó là ánh sáng chiếu cõi thế gian như vầng trăng ra khỏi mây mù.” (Pc. 168)
. Lại một chuyện khác về Angulimala
Một hôm trong lúc vào thành khất thực, Thầy thấy một sản phụ sinh nở khó nhọc, rên la bên vệ đường. Động lòng thương, Ngài lui về tịnh xá bạch Phật tìm cách cứu sản phụ ấy. Phật dạy: “Thầy hãy đến bên sản phụ và nói: “Này cô, từ ngày tôi (là Angulimala) được sinh ra trong giáo pháp giác ngộ, tôi chưa bao giờ có ý phạm đến sinh mạng của một loài nào. Nguyện rằng nhờ sự thật ấy mà cô sinh cháu được bình an.” Quả nhiên cô ta liền sanh được cháu bé bình an.
21. Hạ thứ 21 tại Jetavana (năm 569)
- Vua Pasenadi kết thân với vua Mahanama
Năm nay Đức Phật đã 55 tuổi. Ông Cấp-cô-độc thỉnh Phật từ Vesali đến Sravasti để an cư. Vua
Pasenadi và quần thần rất mừng. Vua và Hoàng hậu cùng các Hoàng tử và Công chúa đến nghe không sót một buổi thuyết pháp nào. Để tỏ lòng hữu hảo với dòng họ Sakya, Vua sai sứ sang xin cưới một người của dòng họ Sakya làm Thứ hậu. Từ đó hai nước rất hữu hảo với nhau.
- Bà Kisa Gotami xin một hột cải để cứu con
Bà ở Sravasti sanh được một bé trai kháu khỉnh. Cậu bé vừa biết đi chập chững và miệng nói bi bô. Bà rất thương con. Một hôm nó bị bệnh và chết ngay trên tay bà. Bà ôm nó vào lòng, chạy khắp các lương y xin thuốc cứu con. Các lương y đành chịu bó tay. Có người chỉ bà đến gặp Phật, họ nói chỉ có Phật mới cứu được con bà mà thôi. Bà ôm con đến tịnh xá Jetavana gặp Phật và xin Phật cứu con bà. Phật hiền từ nói: “Này bà Gotami, bà hãy đi xin một nắm hạt cải trắng ở nhà nào xưa nay chưa có người chết mang về đây, Như lai sẽ cứu con bà.” Bà ôm con đi từ nhà này sang nhà khác, tất cả đều nói hạt cải thì có nhưng không có nhà nào là không có người chết cả. Bà thất vọng và trời đã về chiều, bà ngộ ra chân lý phũ phàng của vô thường là hễ có sinh thì có diệt. Bà liền ôm con về nhà, liệm con và đưa ra nghĩa địa. Rồi bà về gặp Thế Tôn. Thế Tôn dạy: “Tình thương bám chặt vào cha mẹ, vợ chồng, con cái, gia sư, tuy ngọt ngào
hôm nay, nhưng ngày mai cái chết tràn đến như một trận thủy tai trong đêm tối, càn quét cuốn đi trọn cả làng đang ngon giấc.”
Một ngày kia Phật cho các Tỷ-kheo đề tài để thiền quán. Các vị rút vào rừng sâu tu quán một thời gian nhưng không có kết quả. Các vị bàn nhau về yết kiến Phật. Trên đường về bị một trận mưa to, các vị núp trong một túp lều hoang. Trời mưa càng to và bong bóng nước nổi lên. Có cái vừa hình thành nổi lên thì vỡ ngay. Có cái trôi được một đoạn thì vỡ. Có cái trôi dài được một thước rồi cũng vỡ. Dù mới hay lâu, tất cả đều vỡ cả. Các vị nhận ngay đó là sự vô thường của cuộc đời và liền bạch Thế Tôn. Thế Tôn dạy: “Nên quán chiếu thế gian, như mộng tưởng, bọt nước, người nhìn đời như thế, không bao giờ sợ chết.” Nghe xong các vị Tỷ- kheo liền đắc quả A-la-hán.
22. Hạ thứ 22 tại Jetavana và Pabharama (năm 568)
. Thân (thân bất tịnh): Thân thể con người bất tịnh, không có gì đáng giữ và nuối tiếc khi nó tan rã.
. Thọ (thọ là khổ): Những cảm giác dù là thích thú, khó chịu hay trung tính, đều mang đến sự khổ.
. Tâm (tâm vô thường): Tâm tính con người bất thường không gì trường cửu gọi là của ta.
. Pháp (pháp vô ngã): Trên thế gian này đều biến đổi vô thường theo chu kỳ thành, trụ, hoại, không, không có gì đáng gọi là ta, của ta hết.
Nếu áp dụng pháp Tứ niệm xứ này thì có kết quả lớn, giải thoát trong vòng 7 tháng hay có thể là 7 ngày.
- Cô Sundari bị giết chôn tại Jetavana để vu cáo cho Phật giết
Cô Sundari là một tín đồ thuần thành của ngoại đạo. Vì uy tín của ngoại đạo ở hai thành phố Rajagriha và Sravasti bị sút giảm, còn Phật thì cao, nên họ tìm cách triệt hạ Phật. Ngoại đạo bèn dùng mỹ nhân kế cho Sundari vào tịnh xá nghe pháp rồi thuê hai tên du đãng giết cô và vùi xác sau lưng tịnh xá Jetavana, nơi Phật đang ở. Sau đó họ xin phép vua cho vào tịnh xá để tìm kiếm. Được phép, họ vào lục lạo và tìm thấy xác của Sundari. Họ hô hoán rằng Phật đã sai đệ tử giết cô để bịt miệng. Tiếng đồn do bọn xấu rêu rao đã lan truyền khắp thành phố. Vua ngầm cho người theo dõi và bắt được hai tên du đãng giết cô trong một quán nhậu vì chúng
phân chia tiền không đều nên cãi vả nhau. Vua ra lệnh bắt đem về hỏi tội, chúng thú nhận đã nhận tiền của ngoại đạo thuê hãm hại cô để vu oan cho Phật. Vua liền bắt bọn ngoại đạo lên xe đi cải chính khắp vùng. Từ đó Phật được giải oan, uy tín của chúng Tỷ-kheo ngày càng lên cao. Phật xin Vua giảm tội cho bọn gây ra tội lỗi này.
Một hôm Phật và Ananda đi thăm các tịnh thất của các Tỷ-kheo. Khi đi ngang qua một tịnh thất, Phật nhận biết mùi hôi bốc lên từ một tịnh thất. Phật và Ananda bước vào thì thấy một Tỷ-kheo bị bệnh kiết lỵ, không ai chăm sóc. Phật bảo Ananda đi lấy nước, chính tay Phật lấy khăn lau sạch cho Thầy và dọn dẹp vệ sinh cho thầy.
Chiều đến Phật bảo Ananda triệu tập chúng lại và nói: “Các Thầy đã xa gia đình, không có người thân chăm sóc. Nay các Thầy đau thì ai chăm sóc. Thử hỏi nếu Như lai đau các Thầy có chăm sóc cho Như lai không? Chúng trả lời: “Thưa có.” “Vậy thì từ nay, nếu có ai bệnh thì các Thầy phải chia nhau săn sóc thuốc men như chính Như lai vậy.” Các Tỷ- kheo hoan hỷ vâng dạ.
Lúc này Phật đang an cư tại Sravasti và Ngài thuyết pháp tại Tịnh xá Jetavana (Kỳ Viên) và Tịnh xá Dubharama (Đông Viên). Ni trưởng Maha Pajapati đang lãnh đạo chúng Ni an cư gần đó. Sư cô Khema là người phụ tá cho Ni trưởng Pajapati (trước đây là Quý phi của Vua Bimbisara xứ Magadha). Vua Bimbisara trước đó đã đưa bà đến nghe pháp tại Venuvana. Nhờ nghe pháp và xuất gia sau đó trở thành vị lãnh đạo xuất sắc của Ni chúng.
- Phật thuyết kinh Quán niệm hơi thở.
Mùa hạ này thay vì kết thúc vào tháng 10 thì Phật cho phép kết thúc vào tháng 11 Âl theo lời yêu cầu của Tôn giả Sariputta. Mục đích là để các đệ tử từ xa về gặp Phật.
Trong một buổi thuyết giảng này, đặc biệt có Ni trưởng Pajapati Gotami, Yosodhara và Sundari Nanda cùng tham dự.
Phật thuyết kinh Tứ niệm xứ. Tất cả 16 đề tài được Phật chỉ dạy một cách kỹ càng.
-
Bốn đề tài về Thân
-
Thở vô dài, vị ấy rõ biết tôi thở vô dài.
Thở ra dài, vị ấy rõ biết tôi thở ra dài.
-
Thở vô ngắn, vị ấy rõ biết tôi thở vô ngắn.
Thở ra ngắn, vị ấy rõ biết tôi thở ra ngắn.
3. Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
4. An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
-
Bốn đề tài về Thọ
5. Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
6. Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
7. Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
8. An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
-
Bốn đề tài về Tâm
9. Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
10. Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
11. Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
12. Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
-
Bốn đề tài về Pháp
13. Quán vô thường, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Quán vô thường, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
14. Quán ly tham, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Quán ly tham, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
15.Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
16. Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.
16 đề tài quán hơi thở này dùng cả hai phương pháp Thiền là Chỉ và Quán, tức là định, huệ song tu.
- Tự sát không phải là tự giải thoát
Trong khi Phật đang nhập thất tại Tịnh xá Mahavana ở Vesali, có vài vị Tỷ-kheo rủ nhau tự sát vì quán cửu tướng (tức quán về 9 giai đoạn tàn hại của cơ thể: Từ lúc chết đi thì thân thể bầm xanh, lần lần sình chướng lên, kế đến nứt nẻ, nước vàng rịn chảy ra, da thịt rệu rã, lầy thúi, giòi, chim, thú cắn xé, rúc rỉa cho đến khi các mảnh xương rã mục nát). Khi quán như thế các Thầy tự cảm thấy ghê tởm, không muốn mang nó nữa, muốn vứt bỏ và tự sát để giải thoát.
Phật biết được và rầy la: “Này các Thầy, quán cửu tướng là để trừ ái dục, trừ ngã và ngã sở. Các
Thầy không nên bám víu vào thân, không nên nâng niu, chìu chuộng nó nhưng cũng không nên hủy hoại nó. Vì thân người khó được, nó là phương tiện tốt nhất để tu tập giải thoát. Nếu hủy hoại nó thì cũng ví như leo núi mà không có chân (vì chân đã bị chặt). Nhờ thân mà tu tập được giải thoát.”
Nghe Phật nói, các vị Tỷ-kheo rất vui mừng, từ đây mới phân biệt sự tự sát và giải thoát là thế nào.
23.Hạ thứ 23 tại Jetavana (năm 567)
- Giáo lý là ngón tay chỉ mặt trăng
Trong một lần giảng pháp với đề tài phá chấp. Tỷ-kheo Arittha nói, tất cả các lời dạy của Phật đều là chân lý. Tại Tịnh xá Jetavana, Phật dạy: Giáo lý của Như lai giảng có thấp, có cao, tùy từng đối tượng. Với những người dam mê dục lạc thế gian, Ngài dạy đời là bể khổ. Với những vị Bồ-tát mới phát tâm, Ngài dạy tất cả pháp giới chúng sinh đều thanh tịnh. Với những người ham muốn danh lợi thế gian, Ngài dạy các pháp là vô thường. Với người mong cầu hạnh phúc, Ngài dạy cảnh giới Niết-bàn đủ cả thường lạc ngã tịnh.
Ngài nói: “Giáo pháp của Như lai không phải là chân lý, nhưng không rời chân lý, cũng như ngón tay chỉ mặt trăng. Những người chưa biết mặt trăng phải nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng vì
chân lý không thể nghĩ bàn, nên không thể dùng lời nói và suy luận là diễn tả được. Các Thầy không nên chấp theo lời nói nơi văn tự mà phải nương theo đó để tìm hiểu chân lý, cũng như người nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Người nào chỉ chăm chú nhìn ngón tay thì không thể nhìn thấy mặt trăng.”
Cũng trong hạ này, nơi Tịnh xá Jetavana này, Phật dạy: “Giáo lý là chiếc bè đưa người sang sông, từ mê đến giác. Người mê phải dùng bè để vượt qua sông sinh tử. Nhưng khi đến bờ giác rồi thì chiếc bè trở nên vô dụng, không nên đội chiếc bè lên đầu mà đi.
Tất cả các pháp Như lai dạy các Thầy phải học, hiểu và thực hành để đạt đến giác ngộ và giải thoát, chứ không phải là tín điều chấp chặt.”
Trung tâm tu học của Ni chúng ở Sravasti có hơn 500 vị. Thường thường, Ni trưởng Pajapati thỉnh Phật hoặc vị đại đệ tử đến giảng. Năm nay Phật giao cho Ananda sắp xếp. Ngài Ananda thỉnh Tôn giả Bhanda đến giảng cho Ni chúng. Tôn giả không thể từ chối nên khất thực xong, Ngài vào thiền định trong rừng vắng và sau đó đến thẳng đạo tràng của
Ni chúng để giảng. Khi đến, Ngài lên pháp tòa đọc một bài kệ như sau:
“An trú trong tĩnh mặc, thấy Pháp, trở về nguồn, không hận thù bạo động, niềm an lạc trào tuôn. Điều phục được kiêu mạn, sống an hòa chân thật, vượt ra ngoài ái nhiễm, là niềm vui lớn nhất.”
Đọc xong bài kệ Ngài dự định rời pháp tòa, nhưng Ni trưởng Pajapati theo lời yêu cầu của chúng muốn Ngài giải thích thêm. Ngài cũng cứ đọc bài kệ trên một lần nữa rồi rời pháp tòa. Câu chuyện trên được trình lên Phật, Ngài dạy: Thân thuyết pháp thường có hiệu lực hơn là ngôn thuyết pháp và dặn Ananda từ nay nên theo ý Đại chúng mà thỉnh người sang thuyết pháp cho Ni chúng và nói bài kệ:
“Người nói pháp hoạt bát
Chưa hẳn là đạt đạo.
Người tuy nghe hiểu ít
Nhưng hiểu hành hợp nhất
Chính là người đạt đạo
Có khả năng truyền trao. ”
- Jivaka hỏi Phật về ăn chay, ăn mặn
Một hôm Phật ở Vương Xá để an cư và sau đó đến giảng pháp tại Trúc Lâm. Phật thường lên Linh Thứu ở để tĩnh tu vì nơi đây thoáng đãng.
Được ít hôm, Jivaka thỉnh Phật về vườn xoài của ông ở dưới chân núi để ông thăm bệnh và sắc thuốc cho Thế Tôn, nhân đó ông hỏi Phật về việc người ta đồn Phật cho phép ăn mặn. Phật dạy: Theo pháp khất thực, nếu khi đúng ngọ đi khất thực, người ta cho gì ăn nấy, miễn là không nghe, không thấy, không nghi là được. Còn nếu đã nghe, đã thấy, đã nghi người ta giết để cúng cho mình thì nên từ chối. Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Phật cấm sát hại sinh vật vì mình.
- Ni sư Suba gặp tên du đãng
Một hôm Tỷ-kheo-ni Suba trên đường đến thăm Phật ở vườn xoài của ông Jivaka thì gặp tên du đãng chặn đường và muốn cùng cô kết duyên. Cô từ chối vì cô đã xuất gia theo Phật. Nhưng tên du đãng không cho đi, dùng nhiều lời kích động buộc cô hãy trở về thế tục chung sống với hắn. Nhưng cô từ chối dứt khoát. Cuối cùng cô hỏi: “Ông thích gì ở tôi?” Hắn nói thích đôi mắt đẹp của cô. Cô liền lấy tay móc hai con mắt đưa cho hắn. Hắn kinh hồn bỏ chạy. Cô lần mò về đến chỗ ở của Phật kể lại sự tình. Kể xong thì đôi mắt của cô hoàn lại như cũ. Cô chứng A-la-hán ngay khi đôi mắt được phục hồi. Phật khen cô là người biết giữ giới và Phật lại dặn: Kể từ nay ni giới muốn đi đâu phải có 2 người cùng đi, cùng ở với nhau để bảo vệ cho nhau.
- Phật nói kinh Phạm võng
Trên đường trở về Jetavana để nhập hạ lần thứ 24, trong khi đi Đại chúng nghe lời đối đáp của hai thầy trò du sĩ Suppiya. Đề tài đối đáp là về Phật và giáo pháp của Ngài. Thầy thì dùng vô số phương pháp để đả kích Phật, còn trò thì dùng vô số lời nói hay đẹp để tán dương Phật.
Các Tỷ-kheo sau khi về đến vườn Amba- latthika gần Nalanda để nghỉ đêm, trong đó có 2 thầy trò du sĩ Suppiya.
Sáng hôm sau câu chuyện ấy được các Tỷ- kheo bàn tán sôi nổi. Phật nghe và dạy các Tỷ- kheo rằng: “Các Thầy khi nghe người ta công kích đừng để tâm khởi lên phiền não và khi được khen cũng đừng để tâm hân hoan chi phối. Tất cả các luận thuyết của thế gian đều là hý luận. Hãy để tâm thanh tịnh hướng đến giải thoát, không nên sa vào ổ nhện của hý luận một cách vô bổ.”
Và Phật dạy các hý luận của thế gian gồm trong 62 tà kiến và Phật phân tích 62 kiến chấp ấy.
. 18 kiến chấp về ngã trong quá khứ gồm:
4 chủ trương ngã và thế giới là thường trụ.
4 chủ trương ngã và thế giới vừa là thường trụ vừa là vô thường.
4 chủ trương ngã và thế giới là hữu biên, là vô biên, vừa là hữu biên vừa là vô biên, là không hữu biên cũng không vô biên.
-
chủ trương ngụy biện không có giải đáp rõ ràng.
2 chủ trương ngã và thế giới phát sinh không do nguyên nhân nào cả.
. 44 kiến chấp về ngã trong tương lai gồm:
16 chủ trương ngã và tri giác còn lại sau khi chết.
8 chủ trương ngã không còn tri giác sau khi chết.
8 chủ trương ngã không phải còn cũng không phải không còn tri giác sau khi chết.
7 chủ trương đoạn diệt sau khi chết không còn
ngã.
-
chủ trương Niết-bàn vừa là thú vui ngũ dục, vừa là thú vui thiền định trong đời này.
Phật dạy thêm: Hàng trăm ngàn học thuyết hiện hành đang tranh luận trong giới triết học và tôn giáo đều kẹt trong lưới của 62 kiến chấp đó. Tất cả kiến chấp đó đều phát sinh từ sự lừa gạt của tư tưởng, tri giác và cảm thọ. Mỗi khi thấy được nguồn gốc và bản chất của nó thì sẽ thấy tự tánh vô thường và duyên sinh của sự vật thì mới thấy được chơn như tánh thường lạc ngã tịnh thì không
còn vướng vào nó với tâm lý lo âu sợ hãi nữa. Khi ấy mới thấy rõ 62 kiến chấp là trò hý luận vô bổ, không có ý nghĩa.
- Lục sư ngoại đạo
Tôn giả Svastika vừa nghe Phật dạy về 62 kiến chấp, trong đó có các kiến chấp của sáu giáo pháp ngoại đạo thời bấy giờ, nhưng Thầy chưa hiểu rõ nên đã tìm đến Tôn giả Moggallana để nhờ chỉ rõ thêm về các kiến chấp của lục sư ngoại đạo.
Tôn giả Moggallana nói cho Svastika biết là tôn giáo cổ xưa nhất ở Ấn Độ là Bà-la-môn giáo (Brahmana) lấy kinh Veda (Vệ Đà, Phệ Đà) làm gốc, chủ thành 3 cảnh giới: Trời, Hư không và Đất. Mỗi cảnh giới đều có 11 vị Thần, cảnh giới Trời có 11 vị Thiên thần. Cảnh giới Hư không có 11 vị Hư không thần. Cảnh giới Đất có 11 vị Địa thần. Sinh hoạt của Bà-la-môn giáo lấy sự cúng tế làm trọng tâm, vì cúng tế được xem là phương tiện duy nhất để tiếp xúc với các vị thần linh gieo họa hoặc giáng phúc. Ngoài ra các tu sĩ Bà-la-môn cũng phải biết bói toán và tướng số. Dòng tu sĩ Bà-la-môn là do cha truyền con nối, người thuộc giai cấp khác không thể trở thành tu sĩ Bà-la-môn. Người tu sĩ Bà-la-môn được đầy đủ các ưu đãi về địa vị, uy quyền và tài chánh trong xã hội.
Vào thế kỷ thứ 7 trước Tây lịch, ở Ấn Độ có 6 giáo phái nổi lên chống tại tư tưởng cổ truyền của Bà-la-môn giáo, và tạo được uy thế rất mạnh trong dân chúng. Vì 6 giáo phái này không thuộc Phật giáo nên trong kinh Phật gọi là “Lục sư ngoại đạo” để tránh sự lầm lẫn với Phật giáo. Lục sư ngoại đạo gồm có:
-
Sanjaya Belatthiputta (San Xà Da Tỳ La Chi Tử): Hai Tôn giả Sariputta và Moggallana ở trong giáo phái này trước khi xuất gia theo Phật. Giáo phái này chủ trương Bất khả tri (Hoài nghi) và Thích ứng. Họ cho rằng tri thức con người không thể đạt được chân lý tuyệt đối (Bất khả tri). Cho nên chỉ có chân lý tương đối tùy theo hoàn cảnh, không gian và thời gian. Chân lý trong hoàn cảnh này, ở thời gian này, ở địa phương này, có thể không phải là chân lý trong hoàn cảnh khác, hoặc trong thời gian khác, hoặc ở địa phương khác. Người tu cũng không hiểu nổi, chỉ cần ăn ở hiền lành theo phong tục, tập quán của địa phương mình, trải qua 8 muôn kiếp tự nhiên chứng đắc.
-
Ajta Kesakamabala (A Kỳ Đa Xí Xá Khâm Bà La): Giáo phái này chủ trương Duy vật, Đoạn diệt và Khoái lạc, phủ nhận lý nhân quả. Họ cho rằng con người do bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tạo thành. Sau khi chết, bốn yếu tố đó tan rã,
không còn gì khác. Không có thiện ác, họa phước, nhân duyên, quả báo, quá khứ, vị lai gì cả. Theo phái này, mục đích của đời người phải là hưởng lạc thú khi còn đang sống.
3. Makkhali Gosaleiputta (Mạt Già Lê Câu Xá Lê Tử): Giáo phái này ra đời ở Sravasti, chủ trương thuyết Tự nhiên. Thế giới và chúng sanh đều sanh ra theo luật Tự nhiên. Các khổ vui và vận mạng con người đều do những quy luật vận hành tự nhiên. Con người không thể cưỡng lại được, tốt hơn hết là nên vui vẻ thuận theo luật vận hành tự nhiên đó, sau 8.400.000 kiếp sẽ được giải thoát.
4. Purana Kassapa (Phú Lan Na Ca Diếp): Giáo phái này chủ trương không có giá trị đạo đức, không có nghiệp báo thiện ác. Quan niệm thiện ác chỉ là một nhận thức sai lầm do con người bày đặt ra để được giải thoát.
5. Pakudha Kaccana (Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên): Giáo phái này chủ trương con người không thật có, mà chỉ là sự phối hợp của 8 yếu tố bất sanh bất diệt là đất, nước, gió, lửa, không gian, khổ, vui và linh hồn. Sống và chết chỉ là sự quy tụ hay phân tán của 8 yếu tố bất diệt đó. Mạng sống và khổ vui của con người đều do Tự tại thiên (Para nimmita vasa vattin) tạo ra và quyết định.
6. Nigantha Nataputta (Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử) còn gọi là Mahavira (Đại Hùng) hay Jina (Thắng Giải): Ông sanh trưởng ở ngoại ô Vesali, là khai tổ của đạo Jaina (Kỳ Na giáo) ngày nay. Ông mất năm 72 tuổi tại thành Pava, gần Kusinagar. Giáo phái này chủ trương tuyệt đối không sát sanh, cấm giết sinh vật để cúng tế, khổ hạnh tối đa nhất là về ăn uống, không mặc quần áo. Họ cho rằng vận mạng đời nay đều do đời trước tạo ra, không thể do sự tu hành mà thay đổi được. Tu hành trong kiếp này là để tạo phước cho đời sau, đến khi hết nghiệp là được giải thoát khỏi sinh mạng (jiva) để trở thành linh hồn (atta, atman) tự do không bị vật chất ràng buộc trong luân hồi nữa.
Tôn giả Moggallana nói:
a. Bà-la-môn giáo tuy là tôn giáo cổ xưa nhất, nhưng chỉ dành độc quyền cho những người thuộc dòng dõi giai cấp Bà-la-môn. Những người thuộc giai cấp khác không thể trở nên tu sĩ Bà-la-môn. Đó là một hình thức độc tài phi lý, vì không phải tất cả những người thuộc giai cấp Bà-la-môn đều toàn thiện, cũng không phải tất cả những người thuộc giai cấp khác đều bất thiện. Tu sĩ Bà-la-môn chỉ lo các nghi lễ cúng tế để cầu tránh tai họa, được phước báo, được sanh về cõi trời Phạm thiên. Như vậy là phủ nhận giá trị nội tại của con người.
Trái lại, chính giá trị đạo đức trong tâm con người mới thật sự đáng quý, mới có thể nâng cao con người lên bậc Thánh.
-
Giáo pháp của Sanjaya Belatthiputta chỉ có thể giúp người tu trở thành một con người tốt trong xã hội, không thể giúp người tu đạt được giác ngộ và giải thoát.
-
Giáo pháp của Ajta Kesakambala không khéo chỉ tạo nên những con người đồi trụy, chỉ biết thụ hưởng dục lạc thấp hèn, không biết trau dồi những đức tánh cao thượng.
-
Theo Giáo pháp của Makkhali Gosaleiputta thì việc tu hành như lục bình trôi trên sông, cứ thả trôi theo dòng đời sanh già bệnh chết, không nên có sáng kiến, không cần khổ công học tập hay xây dựng bất cứ cái gì, vì tất cả đều do luật tự nhiên điều động.
-
Theo Purana Kassapa thì không cần tu vì không có gì là thiện, không có gì là ác, ai muốn làm gì cứ làm. Giáo lý này chỉ đưa đến một xã hội rối loạn, đầy rẫy trộm cướp và giặc giã.
-
Theo Pakudha Kaccana thì sự sống và những khổ vui ở thế gian đều do Tự tại thiên tạo ra và quyết định. Như vậy con người chẳng khác nào con cờ của Tự tại thiên. Con người không thể có sáng
kiến và không có quyền quyết định gì cả, tất cả đều do Tự tại thiên điều khiển. Con người không có trách nhiệm gì cả.
g. Giáo phái Nigantha Nataputta có nhiều điểm hay như cấm sát sanh, cấm giết sinh vật để cúng tế, chuyên tu khổ hạnh, thiểu dục tri túc, nhưng vẫn còn kẹt trong những kiến chấp nên không thể đạt đến giải thoát. Vì còn kiến chấp nên thiếu tinh thần tùy thuận, hỷ xả. Do kiến chấp nên họ chủ trương tuyệt đối không mặc y phục. Rốt cuộc sự lõa thể của họ làm chướng mắt những người trần tục. Và khi Giáo pháp của họ được truyền đến các vùng băng giá ở Himalaya, các tu sĩ tại đây cũng phải mặc y phục màu trắng để chịu đựng khí lạnh. Ngoài ra họ cho rằng sống kiếp này là để trả các nghiệp đã tạo ra trong đời trước, như vậy chẳng khác nào nói kiếp này mình bị tù vì đời trước mình ăn trộm.
Đại đức Svastika cám ơn Tôn giả Moggallana, rồi suốt ngày hôm ấy Thầy trầm ngâm suy nghĩ mới thấy Giáo pháp của Đức Phật thật là cao siêu, vượt ra ngoài mọi kiến chấp và luận chấp. Giáo pháp của Đức Phật giúp cho người tu tự giải thoát tri kiến của mình, trước khi tự giải thoát ra khỏi sanh tử luân hồi.
Balaka Upali là một người giàu có nhất vùng, uy tín và học thức của ông đủ chinh phục mọi người. Ông là tín đồ thuần thành của phái Nigantha, là trợ thủ đắc lực của Giáo chủ Nigantha. Một hôm ông được phái đến gặp Phật để chất vấn và luận vấn về Nghiệp (Kamani). Sau khi tranh luận, ông không khuất phục được Phật mà bị Phật khuất phục ông. Ông xin chấp nhận thua và xin quy y với Phật. Phật khuyên:
-
Này Upali, ông hãy suy nghĩ cho thật kỹ, một người có tên tuổi như ông không thể kết luận một cách vội vã được. Ông hãy trở về suy nghĩ cho chín chắn đã.
-
Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ chín chắn lắm rồi. Cho con được quy y Phật, Pháp và Tăng.
-
Này Upali, lâu nay ông là thí chủ lớn cho Nigantha, vậy ông đừng vì quy y Phật, Pháp và Tăng mà bỏ lơ không cúng dường bên đó.
Ông hoan hỷ với lời dạy đó của Phật và so sánh nhân cách của Phật và Nagantha khác xa một trời một vực.
Nghe tin này các Tỷ-kheo vui mừng lắm. Phật dạy: “Này các Thầy, việc đáng mừng hay không đáng mừng là việc các Thầy có tu hay không tu.”
Trong lúc này Phật đang cư trú bên cạnh hồ Gaggara. Ở đây có một thanh niên Bà-la-môn nổi tiếng là giòng dõi Bà-la-môn 7 đời cả phụ hệ và mẫu hệ, nghe tiếng Thế Tôn liền xin đến đàm đạo, mặc dù các đồng đạo can ngăn.
Sau khi đàm đạo, thanh niên này chịu sự khuất phục của Thế Tôn và nhận ra chân lý chính là đây và xin quy y với Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng.
-
Hạ thứ 24 tại Jetavana (năm thứ 566)
Đức Phật hạ này cư trú ở Đông Viên (Pubbarama), nơi có giảng đường Lộc Mẫu. Bà Visakha đến đãnh lễ và nói, khi bà và các đạo hữu đến không gặp Thế Tôn, chỉ biết đi quanh Tịnh xá 3 lần rồi về và rất buồn. Phật khuyên, nếu không có Phật thì đã có các Thầy, bà nên học hỏi đừng xao lãng việc tu học.
Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn những vật nào có thể dùng để chúng sanh lễ bái, cúng dường mỗi khi tưởng nhớ Phật?
Này Ananda có 3 loại: 1. Xá-lợi; 2. Đồ dùng riêng; 3. Những vật để tưởng nhớ.
Ananda hỏi có nên tạo lập hình tượng hoặc xây tháp thờ Ngài không? Phật dạy không nên.
Chính vì vậy mà Tôn giả Ananda đã trồng một cây Bồ-đề con lấy từ cây mẹ ở Uruvella trước Tịnh xá Jetavana và bà Vesakha cũng trồng một cây tại Tịnh xá Pubbarama (Đông Viên).
Hôm nay Phật nói 12 nhân duyên:
-
Phiền não quá khứ gọi là vô minh.
-
Nghiệp quá khứ gọi là hành.
-
Trong đời hiện tại lúc sơ khởi nhập thai gọi là thức.
-
Năm phần nhập thai chưa đủ 4 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi) gọi là danh sắc.
-
Khi đầy đủ 4 căn gọi là lục nhập.
-
Chưa phân biệt khổ vui gọi là xúc.
-
Biết phân biệt khổ vui gọi là thọ.
-
Thích gần ngũ dục gọi là ái.
-
Tham cầu các thứ trong và ngoài gọi là thủ.
10. Do ái thủ các thứ trong và ngoài mà khởi nghiệp thân, khẩu, ý gọi là hữu.
11. Thức đời hiện tại gọi là vị lai sanh.
12. Hiện tại danh sắc, lục nhập, xúc, thọ gọi là vị lai, lão, bệnh, tử.
Chúng sanh cõi sắc không có 3 thứ thọ, 3 thứ xúc, 3 thứ ái, không có già, bệnh, nhưng cũng xem là đủ 12. Chúng sanh cõi vô sắc tuy có sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, già, bệnh, nhưng cũng gọi là 12.
-
Phật cho phép ăn sau giờ ngọ và giữ thức ăn qua đêm trong lúc bệnh
Trong khi an cư tại Jetavana, các Tỷ-kheo bị bệnh sốt rét nhiều. Các vị khác khất thực về toàn là thức ăn cứng và khi sốt các Tỷ-kheo ấy ăn không được. Bà Visakha thấy vậy xin cúng dường cháo, sữa, mật ong, đề hồ và dầu ăn nhưng những vật ấy để cách đêm nên không ăn được, khiến các vị bị bệnh nhịn ăn và bệnh kéo dài. Các vị nuôi bệnh đành cho quạ ăn. Phật thấy quạ kêu ra xem thì thấy hiện tượng ấy. Ngài dạy rằng đối với người bệnh có thể cho để đồ vật qua đêm nhưng phải thưa với Đại chúng trước.
-
Tôn giả Sariputta bị vu cáo khinh khi một tu sĩ trẻ
Vì danh tiếng của Sariputta ngày càng lớn mạnh, trong chúng có người ganh tỵ. Một hôm Tôn
giả lạy Phật theo Đại chúng để hành đạo phương xa. Nhưng một Tỷ-kheo trẻ ganh tỵ nên đến Phật thưa rằng: “Sư huynh Sariputta đi ngang xô con ngã và không thèm xin lỗi.”
Phật cho mời Tôn giả đến để trình bày. Tôn giả nói: “Cách đây 13 năm, Phật có dạy cho Rahula hãy học hạnh của Tứ đại. Con đã nghe và học hạnh Tứ đại trong suốt 13 năm qua như đất, như nước, như lửa và như gió.” Nói đến đó thì vị Tỷ-kheo trẻ tuổi bước ra cúi lạy Thế Tôn và Đại chúng, quay qua lạy Tôn giả Xá-lợi-phất và nói là do vì ganh tỵ nên đã có hành động ngu xuẩn ấy và vị ấy xin sám hối. Phật và Đại chúng chấp nhận và Tôn giả Xá-lợi-phất cũng hoan hỷ tha thứ.
Lúc Phật ở bộ tộc Kalama, giới thanh niên đến gặp Phật và thưa:
Này các vị, các vị chỉ nên chấp nhận và tin theo những gì hợp với lý trí các vị, những gì đã được các bậc Thánh hiền xưa nay đồng ý, những gì mà khi đem ra thực hành sẽ mang lại lợi ích cho
mình và cho người. Này các vị, ngoài việc dùng lý trí, các vị còn phải nương tựa vào tứ y:
-
Y pháp bất y nhân: Là nên tìm hiểu và học hỏi giáo pháp, chứ không nên chấp vào tên tuổi hay tướng mạo của người nói.
-
Y nghĩa bất y ngữ: Là nên căn cứ vào ý nghĩa chứ không nên chấp vào ngôn ngữ văn tự.
-
Y trí bất y thức: Là nên dùng trí tuệ sáng suốt để tìm hiểu giáo pháp và thực hành theo chứ không nên dựa vào giác quan hay tình cảm của mình.
-
Y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa: Là nên y kinh chỉ đúng chân lý chứ không nên chấp theo khế kinh, nói theo trình độ người nghe chứ chưa chỉ đúng chân lý.
Sau khi nghe pháp, đám thanh niên xin quy y Phật, Pháp và Tăng.
- Phật giảng 8 điều giác ngộ của bậc Đại nhân
Lúc này Phật đang ở trong vườn Bhesakala, Ngài dạy 8 điều của bậc Bồ-tát giác ngộ đem ra giáo hóa những người mê lẫm:
. Điều thứ nhất là giác ngộ rằng tất cả các pháp đều là vô thường vô ngã thì tránh được đau khổ và dần dần đạt đến giải thoát và an lạc.
. Điều thứ hai là giác ngộ rằng càng nhiều ham muốn thì càng nhiều đau khổ.
. Điều thứ ba giác ngộ rằng biết sống đơn giản là nguồn an lạc thì mới có thì giờ và tâm lực để tu tập và giúp đời.
. Điều thứ tư là giác ngộ rằng phải siêng năng tinh tấn mới có thể đạt được quả vị giác ngộ tánh lười biếng và hưởng thụ chỉ đưa đến sự sa đoạ vào thế giới ma chướng và phiền não.
. Điều thứ năm là giác ngộ rằng sống trong vô minh và buông thả sẽ bị giam hãm đời đời kiếp kiếp trong cảnh khổ của vòng sinh tử luân hồi.
. Điều thứ sáu giác ngộ rằng bố thí là một phương pháp rất hiệu nghiệm để tự giúp mình và giúp người cả về vật chất lẫn tinh thần.
. Điều thứ bảy là giác ngộ rằng người hành đạo vào đời để hóa độ phải luôn luôn giữ nếp sống đơn giản, thanh bạch, giới hạnh thanh cao, lấy điều từ bi hỷ xả mà đối xử với tất cả mọi người.
. Điều thứ tám là giác ngộ rằng muôn loài chúng sanh đều đồng chung một Phật tánh.
- Phật nói kinh Vu Lan Bồn
Tôn giả Mục-kiền-liên sau khi chứng lục thông:
-
Thiên nhãn thông: Có thể nhìn thấy tất cả mọi vật lớn nhỏ ở cõi Dục và cõi sắc.
-
Thiên nhĩ thông: Có thể nghe tất cả những âm thanh lớn nhỏ ở cõi Dục và cõi sắc.
-
Tha tâm thông: Có thể biết tư tưởng của các chúng sanh hữu tình.
-
Thần túc thông: Trong khoảnh khắc có thể hiện đến bất cứ nơi nào ở cõi Dục và cõi sắc.
-
Túc mạng thông: Có thể rõ biết các kiếp trước của một chúng sinh.
-
Lậu tận thông: Trí sáng suốt không còn phiền não mê lầm và biết cách chỉ cho người khác tu tập được như mình.
Khi chứng lục thông, Ngài thử tìm kiếm cha mẹ mình hiện đang ở đâu. Tìm cha thì thấy cha mình đang tái sanh làm một vị Bà-la-môn khá giả. Tìm mẹ thấy mẹ đang ở địa ngục. Ngài liền hiện đến thăm mẹ, thấy mẹ cực khổ trăm bề, ăn đói và mẹ Ngài than: “Mẹ đói quá, con có gì cho mẹ ăn không?” Ngài tức thì đi tìm cơm và mang đến cho bà. Một tay bà bốc cơm ăn thì cơm biến thành than lửa, tay kia giấu cơm còn lại vì sợ quỷ khác đến ăn. Cuối cùng bà đành nhịn đói. Tôn giả quay về hỏi Phật. Phật dạy “Tội mẹ ngươi nghiệp chướng quá nặng, một mình ngươi không đủ sức cứu đâu,
duy chỉ nhờ sự chú nguyện của Tăng chúng mười phương nhân ngày ra hạ chú nguyện cho thì may mới cứu được.” Ngày Tự tứ sắp đến, Ngài sắm sửa thức ăn, trái cây ngon quý, hương dầu, đèn nến, giường chiếu, y phục, thuốc men và vật dụng thường nhật cúng dường mười phương chư Phật và hiện tiền chúng Tăng chứng giám chú nguyện cho cha mẹ 7 đời và mẹ Ngài được sanh vào cảnh giới an lành. Ngay sau khi nhờ sự chú nguyện của chư Tăng, tức thì mẹ Ngài được sanh về cõi trời Quảng Quả. Ngài đến gần dưới chân Phật đảnh lễ tạ ơn, nhân đó Phật dạy hãy nên lấy ngày này là ngày báo hiếu cho cha mẹ, bà con và phổ biến cho dân chúng được biết gọi là ngày Vu Lan báo hiếu.
25. Hạ thứ 25 tại Jetavana (năm 565)
Tôn giả Puna mantaniputta (Phú-lâu-na Mãn-từ- tử) là con của Quốc sư triều vua Tịnh Phạn. Tôn giả xuất gia sau hạ thứ nhất cùng với 29 người bạn tại Lộc Uyển. Tôn giả là một trong 10 đệ tử nổi tiếng nhất của Phật - là người thuyết pháp hay nhất.
Một hôm Phật hỏi Tôn giả rằng, Ông có muốn đến xứ Thâu Lô Na để giáo hóa không, vì dân xứ này còn man ri mọi rợ và cục cằn thô lỗ lắm? Tôn giả thưa rằng con muốn đến đó hoằng pháp.
Phật nói:
-
Này Phú Lâu Na Mãn Từ Tử, người ta đồn dân xứ Thâu Lô Na hung dữ, thường hay bạo động. Ngươi có kham nổi đến đó thuyết pháp không?
-
Bạch Thế Tôn, con đến đó khuyên nhủ họ điều hay, lẽ phải có lợi ích cho họ, con nghĩ không vì thế mà họ la ó, chửi mắng con.
-
Nhưng họ la mắng chửi bới thì sao?
-
Con nghĩ họ vẫn còn tử tế vì họ chỉ la ó, chửi mắng chứ không ném đá và đồ dơ vào người con.
-
Nhưng nếu họ lại ném đá và đồ dơ uế vào con thì sao?
-
Con nghĩ họ vẫn tử tế với con vì họ từ xa ném đá và đồ dơ chứ chưa đến gần dùng gậy đập đánh con.
-
Nhưng nếu đến gần đánh đập con thì sao?
-
Con nghĩ họ vẫn còn tốt với con chứ chưa dùng dao chém con.
-
Nhưng nếu họ dùng dao chém con thì sao?
-
Con nghĩ nếu hy sinh vì đạo pháp thì thật là vinh hạnh, vì họ đã kết thúc thân ngũ uẩn đầy ô uế giúp con toại nguyện.
Phật khen:
Lành thay, này Phú Lâu Na Tử, Thầy có khả năng đến đó hoằng pháp độ họ được.
Quả nhiên sau một năm, Thầy đã độ được 500 người cư sĩ trở thành Tỷ-kheo và Phật thọ ký cho Thầy làm Phật hiệu là Pháp Minh Như lai.
- Phật thuyết cho A-tu-la Paharada
Kỳ hạ này Phật nói với Paharada rằng: Có 8 đặc tính của biển mà các A-tu-la yêu thích vì:
-
Biển có những bãi cát thoai thoải đưa ta đi từ từ xuống nước, tuần tự sâu dần, không có sâu thình lình như một vực thẳm.
-
Biển luôn luôn ở một chỗ, khiến ai muốn ra biển thì biết ngay phải đi hướng nào.
-
Biển không chấp nhận thây chết, khi có thây chết biển liền đẩy nó lên bờ.
-
Biển chấp nhận nước của các dòng sông dù đó là sông Ganga, Yanuna Acinavati, Sarabhu hay Mahi. Sông nào chảy ra biển đều bỏ tên riêng và hòa cùng biển.
-
Tuy ngày đêm muôn sông liên tiếp đổ ra biển, biển không vì vậy mà có khi vơi khi đầy.
-
Nước biển ở đâu cũng chỉ có một vị mặn.
-
Biển chứa rất nhiều châu báu như san hô, xa cừ, ngọc bích, mani và ngọc quý....
-
Biển là nơi sinh sống thoải mái của vô số sinh vật, có loài lớn hơn voi, có loài nhỏ hơn sợi chỉ.
Và các A-tu-la hỏi Thế Tôn: Các Tỷ-kheo có thích thú trong Pháp và Luật này không? Phật dạy, có.
Sáng hôm sau, Phật dạy cho Paharada và các Tỷ- kheo như sau: Biển có 8 điều đặc biệt ấy thì trong giáo pháp Như lai cũng có 8 điều vi diệu chưa từng có:
-
Trong Pháp và Luật, các học pháp, các quả dị thục, các con đường đều tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình.
-
Khi các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử kỹ càng dù có chết cũng không vượt qua.
-
Người nào ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh đáng ngờ, không phải sa-môn cho là sa-môn, không phạm hạnh cho là phạm hạnh... lập tức bị chúng tăng đuổi ra khỏi tăng chúng.
-
Trong Pháp và Luật chỉ có một vị là vị giải thoát.
-
Có 4 giai cấp: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, khi từ bỏ nó để xuất gia thì bỏ họ tên ở đời và đều lấy họ Sa-môn Thích tử.
-
Nếu có nhiều Tỷ-kheo nhập Niết-bàn giới không có dư y. Niết-bàn giới không vì vậy có vơi đầy.
-
Trong Pháp và Luật có 5 căn, 5 lực, 7 giác chi, bát chánh đạo.
-
Pháp và Luật là Trú xứ lớn: Dự lưu, Dự lưu hướng, Nhất lai... Bất lai, Bất lai hướng... A-la-hán.
Năm này Phật an cư ở Sravasti xứ Kosala, Tôn giả Ananda xin Phật nói rõ những điểm căn bản trong giáo lý của Ngài. Phật dạy có ba pháp ấn: Vô thường, Vô ngã và Niết-bàn.
. Chư hành vô thường: Các pháp hữu vi ở thế gian đều vô thường. Vô thường là nhân của khổ. Chúng sanh vì mê nên vô thường chấp là thường nên mới khổ mới luân hồi.
. Chư pháp vô ngã: Các pháp hữu vi và vô vi đều vô ngã, không thật có. Chúng sanh mê nên vô ngã chấp là ngã nên phiền não nổi lên, nghiệp lại nổi lên đưa chúng sanh vào dòng sanh tử.
. Niết-bàn tịch tịnh: Phật dạy vắng lặng thanh tịnh và sáng suốt là hạnh phúc chân thật là Niết- bàn. Chúng sanh mê muội chạy theo các dục lạc ở thế gian cho là vui, là khoái mà không biết đó là nguyên nhân của tham, sân, si, nên bị luân hồi trong vòng sinh tử.
26. Hạ thứ 26 tại Jetavana (năm 564)
Một hôm vua Pasenadi cùng đoàn tùy tùng đến Tịnh xá Jetavana thì gặp Phật, vua đang trò chuyện với Phật thì gặp 7 vị tu phái lõa thể đi ngang qua.
Vua xin phép đến đảnh lễ họ rồi quay về với Phật. Vua hỏi Phật trong số 7 vị ấy có ai chứng A-la-hán không. Phật dạy chỉ có giới tu hành mới biết ai chứng ai không. Muốn biết thì phải sống với họ, coi họ hành trì có đúng chánh đạo hay không, đừng vội nhìn bề ngoài mà đánh giá thì không đúng. Vua đổi đề tài, hỏi về chuyện chết phải chuẩn bị ra sao. Phật nói: “Như vua hàng ngày, công việc triều chính bận rộn, có người báo Đông, Tây, Nam, Bắc, có 4 hòn núi xê dịch và tiến gần vua. Vua nghĩ sao? 4 ngọn núi ấy là sanh, lão, bệnh, tử!” Vua nói: “Đã biết vậy e Trẫm chỉ còn một cách là cố gắng tu tập đúng chánh pháp để làm lợi mình, lợi người, cái gì đến chắc phải đến, trẫm không sợ và dao động nữa.” Phật khen: “Phải như vậy.” Vua còn than mệt mỏi cả tinh thần và vật chất mỗi khi giải quyết việc triều chính xong. Phật nói phải ăn ít lại và giao bớt công việc đã phân cho các triều thần chứ không nên ôm đồm. Vua cho là phải và vua từ tạ ra về.
- Bốn người mù rờ voi
Mùa hạ năm nay, các phái ngoại đạo cùng nhau rủ về Sravasti để luận bàn cao thấp về giáo thuyết của từng phái. Đến dự còn có cả tín đồ của các giáo phái nữa. Phật tử họ cũng tham dự và về kể với Phật. Họ nói: “Mới đầu thì vị nào cũng
thuyết êm ái dịu dàng, nhưng càng về sau họ đã kích lẫn nhau to tiếng và ai cũng cho mình là đúng. Phật mỉm cười và kể câu chuyện: Xưa trong triều đình có hội họp để bàn chuyện an bang tế thế, các đại thần ai cũng tranh cãi nhau và cho mình là đúng. Người phụ trách kinh tế, người coi về luật pháp... ai cũng cho mình là đúng, không ai chịu nghe ai. Vua liền sai dắt một con voi ra giữa sân đình và đem theo 4 người mù, cả đời họ chưa thấy voi bao giờ. Vua bảo người thứ nhất ra rờ voi trước, họ rờ được cái bụng thì cho voi to như cái thùng; người thứ hai rờ nhằm tai thì cho voi như cái quạt lớn; người thứ ba rờ nhằm đuôi voi thì cho voi như cái chổi; người thứ tư rờ nhằm chân voi thì cho nó như cột đình, nhưng sần sùi hơn. Cả 4 anh mù đều kích bác lẫn nhau. Vua nói, cả 4 anh đều đúng nhưng chỉ đúng một phần và xoay qua đại thần nói: “Các khanh đều đúng cả, nhưng chỉ đúng về phần chuyên môn của mình thôi.” Và Ngài xoay qua nói với các Tỷ-kheo rằng: “Các Thầy phải lắng nghe tất cả và phải dùng trí sáng suốt để xét điều nào đúng với chánh pháp thì theo, không đúng thì không theo. Người tu học theo chánh pháp phải có tâm khiêm cung. Người bị kiến chấp và kiến thủ ràng buộc thì dù chân lý có đến nhà họ gõ cửa, thì họ cũng không mở cửa cho vào đâu!
27. Hạ thứ 27 tại Jetavana (năm 563)
Tỷ-kheo Vangisa là một thi sĩ, là một nhà văn, thường mơ tưởng và hư cấu hình tượng trong đầu mỗi khi các tiểu thư khuê các đến cúng dường cho Đại đức. Một hôm Thầy đem chuyện ấy bộc bạch cùng Tôn giả Ananda và được khuyên nên quán bất tịnh và hộ trì các căn. Từ đó Thầy Vangisa luôn luôn thực hành và kết quả là Thầy đã bước trên con đường chánh niệm được Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi.
-
Các luận chấp và các câu hỏi siêu hình do đầu mà có ?
Thầy Isidatta người Avanti là tu sĩ trẻ tuổi và tài năng đức độ. Một hôm cư sĩ Citta đến tịnh xá thỉnh 9 vị Tỷ-kheo đến thọ trai tại nhà. Cư sĩ Citta là người có uy tín như Cấp-cô-độc. Sau khi thọ trai xong, cư sĩ xin phép hỏi đạo để được sáng tỏ hơn. Ông bạch chư Đại đức rằng có nghe Phật nói 62 kiến chấp đương thời của các giáo phái tranh nhau không dứt. Vậy do đâu mà có kiến chấp ấy? Các vị Tỷ-kheo im lặng thì Isidatta xin phép được trả lời như sau: Ấy là do bị vướng vào ngã kiến. Một khi diệt được ngã kiến, người ta sẽ không còn luận chấp và thắc mắc nữa.” Cư sĩ Citta lộ vẻ ngạc nhiên
và thán phục, rồi hỏi quê quán. Isidatta nói ở Avanta. “Vậy Thầy có biết một người nổi tiếng tên là Isidatta không?” Thầy trả lời có biết và cư sĩ hỏi tiếp: “Vậy Thầy ấy giờ ở đâu?” Thầy im lặng. Cư sĩ ngộ ngay rằng chính Thầy là Isidatta. Liền hỏi lại: “Có phải Thầy là Isidatta không?” Thầy trả lời phải. Cư sĩ Citta đảnh lễ và xin cúng dường tứ sự và thỉnh cầu Thầy năng lui tới chỉ dạy cho cư sĩ. Nhưng Thầy không có dịp trở lại nơi này cho đến khi nhập diệt.
28. Hạ thứ 28 tại Jetavana (năm 562)
- Tôn giả Ananda và cô gái hạ tiện Prakriti
Trong mùa hạ này, Tôn giả Ananda bị cô gái tiện dân Prakrit say mê Thầy vì giọng nói, đẹp trai, dịu dàng quyến rũ. Thầy Ananda sau khi khất thực và xin nước uống từ tay cô rồi ra về. Cô đâm ra thẩn thờ mê mệt vì Thầy và xin mẹ giúp cô lấy cho được Ananda, nếu không cô sẽ chết mất. Thương con nên bà chìu con bằng cách dùng chú thuật Sankhya Kapila (Ca-tỳ-ca-la tiên Phạn thiên). Bà ngồi bên bếp lửa với 108 cành hoa Arka và bắt đầu đọc thần chú cho đến hết 108 cành hoa ấy.
Quyền lực của chú khiến Ananda không cưỡng nổi, bèn vội vàng ôm y bát ra khỏi tịnh xá đến phòng cô gái trên. Bà bảo con gái dọn sẵn một
phòng đe tiếp Ananda. Khi Ananda vào phòng và ngồi như đã sửa soạn sẵn thì cảm thấy lúng túng, ngột ngạt khó chịu liền nghĩ đến Đức Phật và niệm: Bạch Thế Tôn, xin Ngài cứu con ra khỏi họa này. Thế Tôn từ tịnh xá Jetavana linh cảm biết Ananda mắc nạn dâm thuật uy hiếp, Đức Phật liền ngồi kiết già đọc thần chú Thủ Lăng Nghiêm nhập đại định phá tan chú thuật Sankhya Kapila. Ananda tỉnh táo và trở về tịnh xá. Nhưng cô gái như bóng với hình theo sau Ananda. Thầy Ananda vào phòng lễ Phật, cô gái đứng ngoài cửa chắp tay lễ Phật và đứng qua một bên đợi. Phật hỏi lai lịch và vì sao lại thích Thầy Ananda. Cô nói: Thầy là người mà con không thể rời được. Con có chết chứ không để mất Thầy. Phật dạy, nếu cô thích Thầy thì hãy cùng xuất gia như Thầy để được gần Thầy. Cô bằng lòng và xuất gia. Một thời gian tu tập, cô hiểu ra rằng những điều cô mong muốn trước đây là sai quấy nên cố gắng tu tập và sau đó cô đã chứng quả A-la-hán. Thầy Ananda năm nay đã 43 tuổi vẫn chưa chứng quả.
Đại vương Pasenadi nghe đồn một cô gái hạ tiện được Phật cho xuất gia thì thấy bị tổn thương giai cấp nên đến bạch Phật rằng các giáo đoàn khác phản đối. Ngài nói: Nếu một người hạ tiện được tắm trong một dòng nước và trang hoàng bằng
hương hoa, người ấy có sạch sẽ thơm tho không? Có còn giai cấp không? Vua thưa không. Phật nói: Trong giáo đoàn của Phật không có giai cấp nào hết, ai tu thì người ấy chứng quả. Vua đuôi lý và chào Phật ra về.
Sau đó Như lai kể câu chuyện tiền thân:
Vào thuở xa xưa có một làng tên là Chandala ở cạnh sông Ganga, vị Xã trưởng tên Trisanku, ông có một cậu con trai đẹp lạ thường, tên là Sardulakama, thuộc lòng 3 tập Vệ Đà. Ông ước mong cưới cho con một người vợ xinh đẹp, nết na, thùy mị. Ông nhờ người dọ hỏi và được biết cô tên là Prakriti, con của một người Bà-la-môn tên Puskarasasi, nhưng ông không gã. Ông Trisanku nhẫn nại cho người đến cầu hôn nhiều lần và rồi cuối cùng ông đồng ý.
-
Thưa Đại vương, Prakriti thuở xưa là Prakriti ngày nay. Sardulakama là Tỷ-kheo Ananda bây giờ. Hai người đã có duyên tiền kiếp với nhau. Và ông Xã trưởng Trisanku chính là Như lai vậy.
-
Phật nói kinh Thủ Lăng Nghiêm
Ananda sau khi được cứu thoát liền quỳ xuống bạch Phật: Bạch Thế Tôn con được kề cận Thế Tôn, nghe nhiều, nhớ nhiều, nhưng đạo lực của con còn non kém, suýt bị mất giới thể vì chú thuật Ca-
tỳ-ca-la tiên Phạn thiên, xin Thế Tôn dạy cho con các diệu pháp Sa-ma-tha, Samadhi, Dhyana là những pháp môn tu chứng đạo quả Bồ-đề một cách chắc chắn và nhanh chóng của mười phương chư Phật. Phật nhân đó dạy kinh Thủ Lăng Nghiêm cho Ananda và đại chúng. Được biết khi bây giờ Ananda chỉ chứng Tu-đà-hoàn mà thôi.
29. Hạ thứ 29 tại Jetavana (năm 561)
- Lòng từ đối với các tân Tỷ-kheo
Trong số đệ tử có người sáng dạ nhưng cũng có người tối dạ. Đối với người tối dạ, Phật rất kiên nhẫn.
Tại Tịnh xá Jeta vana có Tỷ-kheo Bhaddali rất hay quên. Dặn đâu Thầy quên đó, khi ăn Thầy hay đứng lên ăn và đi lại lung tung. Phật dạy cho Thầy hãy cố gắng nghĩ đến: Tôi làm gì để đại chúng hoan hỷ. Và quay qua đại chúng, Phật nói: Trong gia đình có người bị mù một con mắt thì người ấy cố gắng giữ gìn con mắt còn lại để thấy đường. Trong đại chúng, một người có khuyết điểm mấy họ vẫn còn một chút thiện tâm dù rất nhỏ. Đại chúng nên giúp đỡ họ để cho chút thiện tâm ấy còn lại hầu giúp họ duy trì trí tuệ. Trong giáo đoàn có người xin ra vô khỏi đại chúng 3 lần cuối cùng cũng trở thành A-la-hán. Có người vô ra 6 lần
cũng được Phật chấp nhận, có người học không thuộc 16 phép quán niệm hơi thở mà Phật vẫn vỗ về và khuyến khích họ.
Một hôm, Phật gặp một vị huấn luyện ngựa, Phật hỏi: Anh huấn luyện cách nào chỉ cho tôi với. Người huấn luyện ngựa nói: Có nhiều loại ngựa, có loài dễ dạy, có loại khó trị, có loại rất khó, với loại này thì phải dùng biện pháp mạnh. Phật hỏi tiếp: Khi gặp loại ngựa chứng rất khó dạy thì phải làm sao? Trường hợp ấy thì con sẽ hạ sát để khỏi làm hư đàn ngựa. Bạch Thế Tôn, còn Ngài huấn luyện đệ tử như thế nào? Như lai cũng vậy. Nếu người quá khó dạy thì Như lai cũng hạ sát. Ủa, cũng hạ sát sao? Không, hạ sát là không cho họ gia nhập chúng Tỷ-kheo làm đệ tử. Nhưng trường hợp này rất hiếm.
Một hôm, ngài Ananda dẫn Hiệp sĩ Rohitassa đến gặp Phật và ông ta hỏi Phật:
Bạch Thế Tôn, có một cõi nào không có sinh, già, bệnh, chết không? Có một cõi nào không chịu luật sinh diệt không? Có thể di chuyển bằng cách nào ra khỏi thế giới sinh diệt này để đi đến một thế giới không sinh diệt không?
Rồi Phật nói: Dù trong kiếp trước ông đã dùng thần thông bay cả ngày lẫn đêm, ông cũng không thể bay vượt sinh, già, bệnh, chết và cuối cùng ông cũng chết giữa đường. Tuy vậy, Như lai không nói rằng ông không thể vượt ra khỏi cõi sinh tử này. Nếu ông muốn Như lai chỉ cho ông cách vượt ra khỏi thế giới sinh tử, này Rohitassa, chính từ nơi thân tâm ông mà thế giới sinh tử được sinh khởi, cũng chính từ nơi thân tâm ông mà ông có thể tìm thấy được sự chấm dứt của sinh tử. Này Rohitassa, để vượt khỏi thế giới sinh diệt đau khổ, ông không cần di chuyển đâu hết, ông chỉ cần im lặng nhìn sâu vào tự tánh của thân tâm ông để chứng nghiệm và sống với cái thực thể bất sanh bất diệt của vạn vật. Cái thực thể ấy không có hình tướng nên khó nhận ra, nhưng nó ở khắp nơi, không cần đi tìm kiếm đâu cả.
Rohitassa quỳ xuống đảnh lễ Phật và xin Thế Tôn nhận ông làm đệ tử.
30. Hạ thứ 30 tại Jetavana (năm 560)
Một hôm Du sĩ Uttiya vào gặp Phật và hỏi:
. Thế giới chúng ta đang ở còn mãi hay sẽ bị hoại diệt?
. Thế giới chúng ta đang ở hữu biên hay vô biên?
. Thân thể và linh hồn là một hay hai?
. Sau khi chết, Samôn Gotama còn hay mất?
. Sau khi chết, Ngài vừa còn vừa mất.
. Sau khi chết Samôn Gotama không còn cũng không mất?
Phật im lặng và Uttiya bỏ đi.
Cũng với câu hỏi đó, Vacchagota hỏi Phật, Phật cũng im lặng và ông ta bỏ đi.
Sau đó Phật giải thích cho Ananda rõ: Đạo lý vô ngã mà Như lai dạy là một phương pháp hướng dẫn thiền quán để phá chấp ngã chứ không phải là chủ thuyết vô ngã. Câu hỏi của các vị du sĩ chỉ có mục đích muốn biết lập trường của Như lai về ngã, nên Như lai không thể trả lời vì trả lời là rơi vào biên kiến hoặc chấp có hoặc chấp không.
- Như lai không từ đâu tới, cũng không đi về đâu cả.
Một hôm Tôn giả A Nặc Lâu Đà đi khất thực thì bị một nhóm du sĩ chặn lại bắt phải trả lời các câu hỏi họ đặt ra rồi mới cho đi. Họ nói:
Sau khi chết Sa-môn Gotama còn? mất? Vừa còn vừa mất? Không còn cũng không mất? Thầy im lặng vì trong 4 câu hỏi đó không có câu nào phù hợp với giáo lý của Đức Phật hết. Nhưng đám du sĩ ấy bắt Tôn giả phải trả lời. Cuối cùng Ngài trả lời, trong 4 câu hỏi đó không có câu nào diễn tả đúng về Sa-môn Gotama cả. Họ cho Ngài mới tu không biết gì cả nên cho đi.
Hôm sau Ngài trình bày câu ấy với Phật. Phật
dạy:
- Này A Nặc Lâu Đà, có thể tìm Sa-môn Gotama nơi cảm giác (thọ) không? Nơi tư tưởng, nơi hành động và lời nói không? Ngoài sắc thân này không? Ngoài cảm giác này không? Ngoài tư tưởng, ngoài hành động và lời nói hay ngoài tri thức không?
Tôn giả trả lời là không. Phật dạy: Đúng thế, Sa-môn Gotama không ở nơi ngũ uẩn, cũng không ở ngoài ngũ uẩn, không ở nơi thất đại cũng không ở ngoài thất đại. Nói Sa-môn ở nơi nào, có hay không, còn hay mất đều không đúng sự thật. Này A Nặc Lâu Đà, Sa-môn Gotama còn ngồi đây mà Thầy còn không khẳng định được có hay không thì sau khi Như lai diệt độ rồi thì làm sao Thầy có thể nói còn hay mất. Thầy nên biết tự thể tự tánh của vạn pháp là chân như mầu nhiệm, bất biến, bất
sanh bất diệt, trong cái tổng thể đó vạn vật hoán chuyển biến đổi như trò ảo thuật không thể nói có hay không, còn hay mất. Thế nên nói Như lai không từ đâu tới và cũng không đi về đâu cả.
31. Hạ thứ 31 tại Jetavana (năm 559)
Mùa an cư này Phật nói kinh Sư Tử Hống. Sư tử là loài chúa của muôn loài. Trước khi đi săn, nó vươn vai rống lên 3 tiếng. Loài nào nghe cũng đều cao bay xa chạy. Tiếng rống của Phật cũng thế, đánh tan mọi tà thuyết và đưa con người đến giải thoát và giác ngộ. Đó là ý nghĩa của kinh Sư Tử Hống.
32. Hạ thứ 32 tại Jetavana (năm 558)
Một hôm ở trong Tịnh xá sau khi thọ trai xong, Tôn giả Subhuti (Tu-bồ-đề) đứng dậy bạch Phật: Trong đây có người phát tâm vô thượng Bồ-đề nhưng tâm còn vọng động chưa dứt. Xin Thế Tôn chỉ cách trừ cho: Làm sao an trụ tâm, làm sao hàng phục tâm?
Này Subhuti, muốn an trụ tâm phải biết nên an trụ vào chỗ nào, an trụ vật gì? Không nên an trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà phải trụ
tâm vào nơi không có chỗ trụ và không có gì để trụ. muốn như vậy phải độ tất cả chúng sanh vào vô dư y Niết-bàn mà không thấy có người độ và có chúng sanh được độ. Này Subhuti nên biết:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệt như điện
Ưng tác như thị quán.
Nghĩa: “Tất cả các pháp hữu vi, toàn là giống như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảnh tượng, sương mai, điện chớp, rất cần phải có cái nhìn như vậy. ” (Kinh Kim Cương - HT. Trí Quang dịch)
Lại nữa, này Subhuti, người đã phát tâm vô thượng, muốn hàng phục tâm thì trước hết phải bố thí mà không trụ tướng thì phước đức vô lượng.
Này Subhuti, Thầy nghĩ sao? Có thể do thân tướng mà thấy Như lai chăng? Không thể được vì thân tướng là vô thường mà Như lai là thường trụ.
Phật dạy thêm:
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như lai.
Tạm dịch: Nếu lấy sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Kẻ ấy hành tà đạo,
Không thể thấy Như Lai.
33. Hạ thứ 33, 34, 35 tại vườn Jetavana (năm 557 - 555).
-
Các mùa hạ này Phật thuyết Đại Bát Nhã
Phật thường dạy quán chiếu Bát Nhã. Quán chiếu Bát Nhã là tánh không của các pháp. Thật tướng của 5 uẩn đều là không. Chư Phật trong ba đời nhờ tu pháp môn này mà chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
34. Hạ thứ 36 tại Jetavana (năm 554)
- Bà Visakha đau khổ than khóc về một đứa cháu mới chết
Bà Visakha có 12 con và 5 cháu. Đứa cháu vừa mất mà bà thương nhất nhà vì nó thường theo bà đến tịnh xá cúng dường. Bà khóc một mình khi đến tịnh xá. Phật dạy và an ủi bà:
Bà rất thích đông con cháu, trong thành Sravasti đông đúc ít nhất 1 ngày cũng có 10 người chết. Nếu họ là con cháu bà thì bà ngày nào cũng khóc thì vui ở chỗ nào? Vậy bà đừng buồn nữa. Tình thương thế tục thường phát sinh đau khổ và lo
sợ. Chỉ có Từ bi Hỷ xả là mang đến niềm vui và hạnh phúc chân thật cho tất cả mọi người mà thôi.
- Người tu phải biết lượng sức mình
Ba tháng hạ trôi qua, Phật đi thăm lại các di tích đã giúp Ngài thành đạo như Tháp Dhamekh (Chuyển pháp luân), giảng đường Kittoe là nơi tu học cho các Thầy, tại vườn Nai, cây Bồ-đề tại làng Uruvela năm xưa. Tháp Đại Giác do Vua Bimbisara xây cất để kỷ niệm nơi Phật thành đạo.
Phật cũng đã đi thăm nơi Phật tu khổ hạnh 6 năm (khổ hạnh lâm), nơi mà 49 ngày Ngài đã thành đạo dưới cây pippala. Dưới cây Ajapala nơi Ngài nhận bát sữa của cô Sujata trước đêm thành đạo và cũng là nơi Ngài ngồi nhập định suốt tuần lễ thứ 5 để suy nghiệm về giáo pháp. Đây là cây Bồ-đề nơi Ngài nhập đại định chiến thắng ma quân, chứng lục thông và tam minh, và tiếp một tuần để hưởng lạc giải thoát. Đây là nơi Ngài đã đứng nhìn cây Bồ-đề suốt tuần lễ thứ 2 không nháy mắt. Đây là con đường bằng ngọc mà Ngài đã kinh hành suốt tuần lễ thứ 3 sau khi thành đạo. Đây là bảo cung nơi Ngài ngồi suốt tuần lễ thứ 4 để suy niệm về giáo lý Abhidhamma. Đây là cây Mucalinda nơi Ngài ngồi nhập định tuần lễ thứ 6 dưới cơn mưa và Thần rắn Mucalinda che chở. Đây là cây Rajayatana nơi Ngài ngồi nhập định suốt
tuần lễ thứ 7. Phật nói lại những kỷ niệm xưa cho đến lúc Ngài thành đạo.
Cũng trong dịp này, Ngài còn dạy cho một Tỷ- kheo mới là Sona, trước đây là con nhà giàu, sau xuất gia tu không có tiến bộ và muốn trở lại đời sống thế tục. Phật biết và khích lệ như sau: Này Sona, trước đây sở thích của Thầy là gì? - Con thích đánh đàn – Muốn tiếng đàn trong phải làm sao? - Phải lên dây đàn làm sao cho đúng độ của nó. Căng quá dây sẽ đứt, giùng quá tiếng không kêu. Tu tập cũng vậy, này Sona, giãi đãi, lười biếng thì đạo nghiệp không thành tựu được. Cố gắng quá sức sẽ sanh mệt mỏi bệnh hoạn thối chí ngã lòng. Nếu muốn tu có kết quả thì phải chọn cho mình pháp môn tu thích hợp với căn tánh, năng khiếu và trình độ của mình. Phật còn chỉ cho phương pháp tu chỉ và tu quán, 7 giác chi để có kết quả tốt đẹp.
Sona hoan hỷ lễ Phật và lên núi Linh Thứu tịnh tu và đắc quả A-la-hán sau đó.
35. Hạ thứ 37 tại Venuvana (năm 553)
- Devadatta xin thay Phật lãnh đạo giáo đoàn
Năm nay Phật đã 71 tuổi, Jivaka lên núi Linh Thứu cúng Phật để thăm sức khỏe cho Ngài. Núi Linh Thứu đường lên tầng cấp bằng đá do vua Bimbisara làm để cúng dường cho Phật và Đại
chúng. Sau khi thăm bệnh xong, Jivaka bạch Thế Tôn, thầy Devadatta và Kokaloka tụ tập các Thầy, đệ tử thân tín đang âm thầm liên hệ mật thiết với Thái tử Ajatasattu, âm mưu lật đổ Phụ hoàng và Thế Tôn để nắm quyền lãnh đạo.
Một đêm nọ, Thái tử cầm gươm lén vào phòng riêng để ám sát vua. Cận vệ bắt được trình vua. Vua tha thứ và định ngày truyền ngôi cho Thái tử. Sau khi đăng quang, Vua mới bắt cha và cận thận giam trong ngục thất cho đến chết.
Còn Devadatta thì xin Phật cho lãnh đạo giáo đoàn thay Phật, lấy cớ Ngài đã già.
Phật trả lời không đồng ý. Ngài nói: Đến như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và các đại đệ tử giỏi Ta còn chưa giao, đâu đến lược ngươi.
Bị Phật chê và không cho lãnh đạo Giáo hội, Devadatta căm hận và cố tình sắp đặt âm mưu hại Phật.
- Devadatta lập giáo đoàn riêng
Trong một buổi thuyết pháp của Phật ở Venuvana, có cả Vua và Thái tử Ajatasattu, sau khi thuyết giảng xong, Devadatta đứng dậy xin Phật cho áp dụng 5 điều luật thiểu dục tri túc.
1. Các Tỷ-kheo phải suốt đời đi khất thực, không được ngủ trong thành phố hay thôn xóm.
2. Các Tỷ-kheo phải đi khất thực suốt đời, không được đáp lời mời của giới cư sĩ thọ trai ở nhà trọ.
3. Các Tỷ-kheo chỉ được lượm giẻ rách vất bỏ ngoài bãi tha ma vá thành y mà mặc, không được nhận y do giới cư sĩ cúng.
4. Các Tỷ-kheo chỉ được ngủ dưới gốc cây, không được ngủ trong phòng ốc, am thất.
5. Các Tỷ-kheo suốt đời ăn chay, không được ăn thịt cá do tín thí cúng dường.
Phật không chấp nhận 5 điều đề xuất của Devadatta.
Từ đó Devadatta rủ rê các tân Tỷ-kheo bỏ giáo đoàn và có sự yểm trợ của Thái tử Ajatasattu. Họ kéo nhau lên núi Tượng Đầu để hành lễ Bồ-tát riêng. Như lai dạy các đệ tử rằng: Devadatta đi hay ở không có ảnh hưởng gì đến việc tu tập giải thoát hết. Mọi chuyện Như lai đã biết trước và đã được định rồi. Phật khuyên các Tỷ-kheo hãy im lặng sinh hoạt coi như không có gì xảy ra.
- Thái tử Ajatasatta soán ngồi vua.
Dù bị cận vệ bắt và lộ rõ âm mưu soán ngôi vua của Thái tử, nhưng vua vẫn quyết định nhường ngôi. Ngày giờ đã quyết định nhường ngôi và cũng quyết định tha tội cho Devadatta.
Ba ngày sau, Thái tử ra lệnh cho nhốt vua vào đại lao không cho ai được vào thăm trừ Hoàng hậu Videhi.
Khi lễ đăng quang, Phật và đại chúng không đến dự, chỉ có phía của Devadatta đến dự mà thôi, khiến Thái tử càng ghét Phật và các Tỷ-kheo theo Phật hơn.
Một hôm trong đêm khuya trên núi Linh Thứu, Phật thoáng thấy một bóng đen tiến về phía Ngài để ám hại. Phật hỏi ai? Thần lực của Ngài đã khiến người ấy đặt đao và quỳ trước Phật thuật hết mọi chuyện. Phật tha thứ và chỉ cho hắn cách trốn đi để khỏi bị hại. Người ấy sợ không khai Devadatta là chủ mưu, nhưng Phật biết. Sau khi thất bại, Devadatta thuê 31 tên đao phủ phục kích bắn tên vào Phật nhưng khi Phật đi qua, họ đều bỏ cung và xin sám hối Phật là do Devadatta mua chuộc họ và họ xin xuất gia theo Phật.
Sau khi Vua băng hà, Hoàng hậu Videhi nhờ y sĩ Jivaka sắp đặt tại nhà của Jivaka để Hoàng hậu đến hầu Phật. Khi gặp Phật, Bà kể lại mọi sự tình thống khổ trong gia đình của bà. Bà xin Phật sau khi chết được đầu thai một nơi nào an lạc hơn cõi
Ta-bà này. Phật kể nguyên cớ của Ajatasattu cho bà nghe rằng: Trước kia, trong khi cầu tự mong được có con nối dõi, Thượng hoàng có lên núi gặp một đạo sĩ chuyên tu thiền định để cầu xin đạo sĩ giúp đỡ. Vị ấy bảo phải đợi 20 năm nữa, khi đạo sĩ mãn phần sẽ thọ sanh làm con của Thượng hoàng. Thượng hoàng bắt đạo sĩ phải cam kết sẽ thọ sanh làm con của vua sau khi mạng chung. Nhưng sau đó, nóng lòng có con sớm nên mới sai người lên núi giết vị đạo sĩ trong lúc đang ngồi thiền định. Vị đạo sĩ sau tái sanh làm con vua tên Ajatasattu như đã cam kết và quyết đòi nợ máu vì đã giết ông sớm hơn dự định.
Hoàng hậu Videhi bèn kể lại cho Thế Tôn nghe, khi mang thai bà rất thích hút máu của vua. Có lần vua bị đứt tay, khi bà đang mang thai, bà liền lấy tay vua hút máu cho đỡ đau. Chiêm tinh gia nói hiện tượng ấy là đứa con trong bụng có nợ máu với vua, nếu không sớm giết sau sẽ bị nó hại chết. Vua có lần đem lên lầu liệng xuống nhưng không chết chỉ gãy một ngón tay.
Sau đó Phật chỉ cho bà một thế giới không có hận thù, chỉ sống đời an lạc, đó là cảnh giới của Phật Di Đà. Nếu muốn sanh về đó thì phải phát tâm: chí thành tha thiết, mong muốn sâu nặng, phát nguyện tu 6 niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm Giới và niệm Thiên và phải
tu ba tịnh nghiệp sau đây:
-
Hiếu dưỡng cha mẹ, vâng lời thầy dạy, từ tâm chẳng giết, tu 10 nghiệp thiện.
-
Quy y Tam bảo, giữ đúng 10 giới, không phạm oai nghi.
-
Phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, trì tụng kinh chú khuyên người khác cùng tu.
Thái hậu nghe lời Phật đảnh lễ Phật rồi trở về cung.
- Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đến Gayasina (Tượng Đầu)
Sau khi hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền- liên xin Phật đến núi Tượng Đầu để thuyết phục các huynh đệ đi theo Đề-bà-đạt-đa, hãy quay về với Thế Tôn. Khi đến hai vị được Devadatta đón tiếp rất nồng nhiệt vì cho là đã bỏ Phật. Hai vị im lặng theo dõi và được phân công giảng cho hội chúng. Với phong cách giảng và đạo lực của hai vị, dần dần chúng Tỷ-kheo nhận rõ đâu là chánh pháp và tà pháp, mặc dù Tỷ- kheo phụ tá cho Devadatta can ngăn.
Khi biết các Tỷ-kheo tâm đã thuần thục, hai vị từ giã ra đi và nói: Này các huynh đệ, chiều hôm nay hai chúng tôi sẽ từ giã chư huynh đệ. Chúng tôi phải về với Phật và đại chúng. Nếu các huynh đệ muốn trở về với Thế Tôn thì hãy đến Tịnh xá
Venuvana, chúng tôi sẽ đưa các huynh đệ lên Griddhakuta để phát lễ sám hối. Và đúng như vậy, đợt đầu có 385 vị và đợt sau có 35 vị. Tất cả đều được hai Tôn giả dẫn đến sám hối với Phật và đại chúng. Phật chấp nhận cho trở lại Tăng đoàn.
Một hôm Phật đi bộ trên đường núi Griddhakuta đến chỗ đường hẹp, Devadatta đứng trên núi lăn đá xuống. Khi đá lăn xuống thì vấp vào một hòn khác và bể ra nhiều mảnh. Một mảnh văng trúng chân Thế Tôn. Jivaka băng bó cho Phật xong và phải đi khám bệnh nơi khác về không kịp nên cửa thành đã đóng. Jivaka sợ nếu để hôm sau tháo băng thì sẽ bị bong da. Phật quán biết và nói Tôn giả Ananda hãy tháo băng và vết thương lành lại. Sáng hôm sau, Jivaka vội vàng chạy đến xem vết thương thì rất ngạc nhiên. Thế Tôn nói Ngài biết ý ông nên đã nói với Ananda tháo băng rồi. Jivaka mừng khôn xiết và Ngài nói: Người đã giải thoát hết thảy, đã dứt hết thảy buộc ràng, là người đi đường đã đến đích chẳng còn chi lo sợ khổ đau. (Pc. 90)
Một hôm Phật từ Venuvana đến Rajagriha để khất thực thì Devadatta thuê người cho voi hung dữ uống rượu. Khi biết Thế Tôn đang đi khất thực, ông
thả voi ra và voi thấy người liền xông tới. Khi còn khoảng 3 mét, voi tự nhiên ngẩng đầu và quỳ mọp xuống trước mặt Thế Tôn. Thế Tôn liền dùng lòng từ vỗ về nó làm cho tâm nó được bình tĩnh trở lại. Phật sai người đi báo người giữ voi dắt trả lại chuồng voi của vua.
-
Hạ thứ 38 tại Jetavana (năm 552)
Này Sariputta, cách đây trên 100 tỷ cõi Phật, có một thế giới tên là Cực lạc, vì ở đó không hề bị khổ não mà thường được an lạc.
Ở cõi Cực lạc đầy dẫy những vật quý giá, cây cối, đất đai, đồi núi, sông rạch, nhà cửa, bát đĩa bằng vàng bạc châu báu, hoa sen đủ loại thơm ngát. Chúng sanh ở đây đều do hoa sen hóa sanh, không có ái dục.
Phật dạy: Khi Như lai nói cuộc đời đầy dẫy đau khổ như sanh, già, bệnh, chết, nào là ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, là để nhắc nhở những người đang đam mê, mong cầu hạnh phúc trong dục lạc, quên mất đời vô thường, thân tâm đều vô thường, nên vô thường là sanh diệt khổ đau. Ví như một người bị bệnh ghẻ ngứa ngáy khó chịu,
nếu họ đứng trên đống lửa thì thấy đỡ ngứa. Nếu khi hết ngứa mà đứng trên đống lửa ấy sẽ thấy nóng bức không chịu nổi. Phật dạy: Dục lạc như hố than hồng đối với người mắc bệnh hủi, chỉ có những người bệnh mới thấy dục lạc là vui. Người lành đều tránh xa nó. Khi nhận thức đời là khổ, nếu muốn tìm hạnh phúc thì phải diệt từ cái gốc của nó là mê lầm (vô minh, tham ái, kiến thủ). Thân, tâm vô thường cho là thường. Ái dục đau khổ cho là vui. Ham danh, lợi, giàu sang, sắc đẹp, ca nhạc êm tai, hương thơm, ham người khen, được rồi giữ, nhưng giữ không được vì nó đều là vô thường. Thế giới chiến tranh cũng vì vậy. Muốn có hạnh phúc chân thật thì phải diệt trừ mê lầm, ham muốn. Hết ham muốn là an lạc, theo chánh pháp, thực hành thiền quán để trừ vô minh, giữ giới thanh tịnh. Vậy phải sống theo chánh pháp sẽ chứng được hạnh phúc chân thật ngay trong hiện tại và sẽ tiến dần đến 4 quả Tu, Tư, A-na-hàm và A-la-hán, và quả vị Phật.
- Phật thăm cư sĩ Cấp-cô-độc trên giường bệnh
Bà Punnalakkhana, vợ của Cấp-cô-độc đến đảnh lễ và báo cho Phật biết chồng bà đã bị bệnh hơn 10 hôm, ước được gặp Phật trước khi qua đời.
Phật và Tôn giả Xá-lợi-phất đến thăm và nói: Với công đức bố thí rộng lớn, ông đã làm vơi nỗi
khổ của biết bao nhiêu người. Biệt danh Cấp-cô- độc mà người đời tặng ông thật xứng đáng. Công đức hộ trì chánh pháp của ông thật to lớn. Giờ thì ông nên an nghỉ và tịnh dưỡng. Như lai sẽ bảo Xá- lợi-phất thỉnh thoảng đến thăm và hướng dẫn cho ông tu học. Cấp-cô-độc hoan hỷ vâng lời.
Một hôm, Phật kể cho Đại chúng nghe câu chuyện lễ bái 6 phương của Thiện Sinh. Thiện Sinh từ bé được cha dạy cho rằng sáng thức dậy phải lễ bái 6 phương. Chàng vâng lời nhưng không biết ý nghĩa. Phật thấy vậy mới kêu chàng đến dạy: Này Thiện Sinh, Như lai sẽ nói ý nghĩa lễ 6 phương cốt để làm gì:
Muốn có ích lợi hơn nữa thì phải quy y Tam bảo và giữ gìn giới.
Phật còn dạy tiếp: Muốn tìm hạnh phúc chân thật thì phải tìm kiếm trong đời này, chứ không tìm đâu xa. Ngoài ra, Ngài còn dạy thêm:
-
Nên chọn nghề sinh sống có lợi cho mình, cho người; thân cận với người hiền đức, bậc thiện tri thức; phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc vợ và con cái; chia xẻ với mọi người về tiền tài và tình thương; biết ơn, sống khiêm nhường, tri túc; chọn môi trường tốt để tu học và làm thiện; sống đời trong sạch và cao thượng; chăm chú học hỏi giáo lý giác ngộ; tu tập để trừ mê lầm và phiền não.
Nên theo gương ông Cấp-cô-độc để tu tập và phụng sự cho chúng sanh và Phật pháp.
Một hôm thấy bà Visakha đến tịnh xá sớm lễ Phật để tu tập Bát quan trai giới, Phật dạy có 8 cách tu tập gọi là 8 trai giới, nếu tu tập sẽ đưa đến hạnh phúc.
-
Không sát.
-
Không trộm.
-
Không tà hạnh trong các dục.
-
Không nói dối.
-
Không uống rượu.
-
Không trang sức.
-
Không nằm và ngồi trên giường ghế cao rộng.
-
Không xử dụng tiền bạc trong ngày tu tập 8 trai giới.
Mười ngày sau khi Phật thăm Trưởng giả Cấp- cô-độc, được tin ông sắp lâm chung, Phật sai Xá- lợi-phất và Ananda đến thăm và giúp đỡ hướng dẫn ông trong giờ lâm chung như sau:
-
Phật đã tán dương công đức ông đối với sự hộ trì chánh pháp rồi, giờ ông nên lắng nghe và quán tưởng như sau:
-
Quán tưởng xong, Xá-lợi-phất nói tiếp:
-
Những gì tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi, tôi nếm, tôi xúc chạm, cũng không phải là tôi..
-
Tiếp theo ông nên quán tưởng:
-
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không phải là tôi; sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp không phải là tôi; thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc giác, suy nghĩ, cũng không phải là tôi. Vì nếu mất một trong 18 thứ đó thì tôi vẫn là tôi, không bị sứt mẻ gì, tôi không bị ràng buộc và giới hạn trong những yếu tố đó.
-
Tiếp ông nên quán tưởng:
Thân xác này không phải là tôi. Cảm giác đau đớn này không phải là tôi.
Suy nghĩ cũng không phải là tôi. Sự biến đổi thân xác và tư tưởng không can hệ gì đến tôi. Sinh tử không chạm được đến tôi. Sinh không làm cho tôi có, tử không làm cho tôi mất. Phải nhận thức được cái tôi chân thật, chưa hề sinh nên cũng chưa hề diệt.
Nghe xong, Trưởng giả Cấp-cô-độc trút hơi thở cuối cùng và ông sanh lên cõi trời Đâu Suất và ngay hôm sau lúc 4 giờ sáng, ông đã hiện thân xuống đảnh lễ Phật tại Tịnh xá Jetavana.
Ông có bốn người con: Ba gái (Maha Subhadda, Culla Sudhadda, Sumana) và một con trai (Kala). Tất cả đều đắc quả Tu-đà-hoàn, duy nhất có Sumana là đắc quả Tư-đà-hàm.
- Chiến tranh giữa Magadha và Kosala
Trong mùa an cư 38 này, xảy ra cuộc chiến giữa Ajatasattu, vua xứ Magadha và vua Pasenadhi của Kosala.
Cuộc chiến nổ ra, ban đầu Ajatasattu thắng trận, trận sau vua Pasenadhi thắng trận và bắt cả Vua cùng quan quân triều đình chỉ vì vua Pasenadhi lấy một quận mà trước đây đã nhượng cho vua cha của Ajatasattu để làm của hồi môn cho em gái mình là Videhi, mẹ ruột của Ajatasattu.
Sau khi thắng trận, vua Pasenadhi đến hầu Phật kể rõ cho Phật biết và xin lời khuyên của Phật.
Phật khuyên xong, vua Pasenadhi làm theo lời Phật: Trả tự do cho Ajatesattu và trả đất lại. Vua nhận Ajatasattu là cháu ruột, cũng là con rể của Ngài. Hai nước hòa hiếu trở lại.
39. Hạ thứ 39 tại Jetavana (năm 551)
Sau hạ, Phật sai các Thầy đi hoằng hóa hai xứ Kosala và Magadha, an ủi họ để xóa bỏ hận thù và tàn tích chiến tranh chết chóc của cả hai nước. Nên sống theo chánh pháp vì cuộc đời là tạm bợ không nến chấp chặt, gây hận thù.
40. Hạ thứ 40 (năm 550)
Vua Pasenadhi phát tâm xây dựng tịnh xá mới tại xứ Sravasti, lấy tên là Rajakatoma. Trong thời gian này tại Rajagriha thủ đô Magadha, Devadatta không còn được vua Ajatesattu ủng hộ nữa, 80 vị còn lại đều rời chỗ ở của Devadatta để về sám hối xin gia nhập với Phật. Devadatta bị đau liệt giường trên núi Gagasisa 9 tháng không còn sinh hoạt gì cả.
Hoàng hậu Mallika xứ Kosala từ trần, vua Pasenadhi rất buồn. Phật an ủi vua và khuyên vua nến chăm sóc người dân nghèo bằng cách cấp giống má, tiền bạc cho họ để họ tự túc làm ăn hầu
trừ nạn do đói kém mà sinh ra trộm cắp. Vua nghe lời Phật và thi hành được quần chúng yêu mến. Hằng ngày vua sau khi triều chính xong đến tu học với Phật làm cho lòng được thanh thản hơn khi Hoàng hậu mất.
41. Hạ thứ 41 tại Jetavana (năm 549)
Năm nay Phật đã 75 tuổi, sức khoẻ không còn tốt nữa, Ngài muốn trở về Griddhakussa để tịnh dưỡng và A-nan theo Ngài đến đó.
42. Hạ thứ 42 tại Venuvana (năm 548)
Một hôm vua Ajarasattu mời Hoàng hậu dùng cơm, con vua nghịch phá với con chó gây khó chịu, nhưng vua rất thương con nên xin lỗi mẹ, bà liền kể chuyện vua cha ngày xưa thương con làm sao thì ngày nay vua con như thế, đó là tình mẫu tử. Bà nói: Cha con ngày xưa đã ẵm con cả tuần và ngậm tay con bị mụt để con khỏi đau suốt một tuần liền. Bao giờ cũng lo cho con cả. Vua ân hận đã giết cha mình và có lần đã mời các đạo sĩ nổi tiếng các giáo phái Makkhali, Gosala, Samjaya Belatthi-putta, Nigantha Nataputta, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccana và Purana Kassapa, đến để tham vấn và chữa trị tâm bệnh nhưng không thành công.
Khi Jivaka đến chữa, Vua kể cho Jivaka nghe hết tâm sự của mình. Javaka nói: Thần chỉ chữa
thân bệnh chứ không chữa được tâm bệnh cho Hoàng thượng. Duy chỉ có một người có thể chữa cho Vua được mà thôi, đó là Sa-môn Gotama, Ngài là bậc Y vương có thể chữa lành tết cả các tâm bệnh. Xin Bệ hạ đừng ngại. Trẫm sợ Sa-môn Gotama còn thù ghét Trẫm. Bệ hạ đừng nói thế, Sa-môn không hề thù ghét ai cả. Ngài là Thầy của Thượng hoàng và cũng là bạn của Hoàng thượng kia mà.
Sau cuộc nói chuyện đó, Vua Ajatasattu đã chấp nhận sẽ đi thăm Phật.
- Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kỳ hạ thứ 42 này, Phật nói kinh Pháp Hoa tại núi Linh Thứu. Ngài tóm tắt kinh Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở hộ niệm cho các vị Bồ-tát.
Ngài nói: Các Đức Phật Thế Tôn ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên là khai, thị, ngộ nhập tri kiến Phật nên mới phân biệt nói ba thừa.
Ngài lại nói với Bồ-tát Dược Vương rằng: Nếu có thiện nam tín nữ nào, sau khi Như lai diệt độ muốn vì 4 chúng mà nói kinh Pháp Hoa này cho đúng cách thì người đó phải vào nhà Như lai, mặc áo Như lai, ngồi tòa Như lai. Nhà Như lai chính là tâm từ bi rộng lớn đối với tất cả chúng sanh. Áo Như lai chính là tánh nhu hòa nhẫn nhục. Tòa Như
lai chính là tất cả các pháp đều không. Khi có ai nói kinh Pháp Hoa như thế thì Như lai dù đang ở đâu cũng sẽ sai thiên thần, hộ pháp hóa thân đến ủng hộ người đó về mọi phương diện.
Cuối mùa an cư này Jivaka đã 55 tuổi xin xuất gia và được Phật chấp nhận và ban hiệu Vimala Kondarina, bây giờ là y sĩ riêng chăm sóc sức khoẻ cho Phật.
- Phật nói kinh Sa-môn Quả
Y sĩ Javaka sắp đặt cuộc gặp giữa Phật và Ajatasattu tại vườn xoài của ông dưới chân núi Linh Thứu. Vua đi có quan quân hộ tống. Khi gần đến vườn xoài, bỗng vua phát sợ vì thấy yên tĩnh quá. Jivaka nói vườn xoài của ông có trên 1.000 Tỷ-kheo và Phật đang ở. Vua hỏi sao im lặng quá, đâm nghi ngờ và nói: Này khanh, có phải khanh đang lừa Trẫm đến tử địa chăng? Thưa Hoàng thượng, thần không dám đâu. Đằng kia, nơi có ngọn đèn là chỗ thuyết giảng của Phật đó. Vua xuống voi và cùng quần thần đi bộ vào giảng đường. Jivaka vào báo cho Phật biết. Phật hoan hỷ chào đón và nói với vua rằng: Chắc vua có điều gì nghi ngờ xin cứ hỏi. Vua nói: Bạch Ngài, tu hành có kết quả lợi ích gì mà hàng ngàn người tu theo, có quả gì xin chứng minh cho Trẫm thấy. Phật nói: Đại vương đã hỏi câu ấy với ai chưa? Thưa rồi
nhưng Trẫm chưa thấy thỏa đáng kể cả Thầy Devadatta. Vậy thì Đại Vương hãy lắng nghe:
* Kết quả của Sa-môn hạnh thứ nhất
. Nếu Đại vương có một người nô bộc, thức khuya, dậy sớm, làm đẹp lòng mọi người, nói lời ái kính. Chú ý từng nét mặt vua, người ấy nghĩ: Thật hy hữu, kỳ diệu thay, quả vị thác sinh, dị thục của các công đức! Vua Ajstasattu nước Magadha là người, tôi đây cũng là người. Nhà vua sống tận hưởng đầy đủ không khác gì vị thiên thần, còn tôi là người nô bộc khốn khổ. Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia, ta nên cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia, vị ấy sống chế ngự thân, lời nói, ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh. Nếu những người của Vua đến tâu rằng, có người nô bộc của Đại vương đã xuất gia tu đạo, Đại vương có ra lệnh cho họ hãy trở lại làm nô bộc như xưa chăng?
. Bạch Thế Tôn, không. Trái lại, chúng con khích lệ, đứng dậy mời ngồi ghế, cúng dường y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men và chúng con ra lệnh bảo vệ, che chở người ấy đúng pháp luật.
. Này Đại vương, Ngài nghĩ thế nào, nếu quả như vậy, thì đó có phải là kết quả thiết thực hiện tại của Sa-môn hạnh không?
. Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
. Này Đại vương, như vậy là kết quả thiết thực của Sa-môn hạnh mà Như lai đã trình bày.
. Bạch Thế tôn, có thể cho biết một kết quả khác nữa của Sa-môn hạnh không?
. Nếu Đại vương có một nông phu, gia chủ đã nạp thuế và đã làm giàu cho quốc khố. Người ấy nghĩ: Thật hy hữu kỳ diệu thay quả vị thác sinh, dị thục của các công đức... Ajatasattu sống như thiên thần, vậy ta hãy xuất gia... Nếu người của Đại vương đến tâu họ đã xuất gia, Đại vương có ra lệnh bắt họ trở lại và làm giàu cho quốc khố không?
. Thưa không, trái lại, chúng con sẽ cung kính và cúng dường, bảo vệ họ đúng pháp luật.
. Này Đại vương, đó là kết quả Sa-môn hạnh mà Như lai đã trình bày.
. Bạch Thế Tôn, có thể có thêm một ví dụ và kết quả của Sa-môn hạnh vi diệu, thù thắng hơn không?
. Này Đại vương, Như lai sau khi chứng ngộ với thượng trí, là Thầy của thế giới này với Thiên giới, Ma giới và Phạm thiên giới, đã thuyết pháp
sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa và truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Nếu ai nghe pháp ấy sẽ sinh lòng tín ngưỡng Như lai và suy nghĩ: Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật khó cho một người có gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vậy, ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản, xa rời bà con quyết thuộc, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình và sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha. Vị ấy thành Tỷ-kheo đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thắng nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong Giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, giữ gìn giới hạnh đầy đủ và giữ gìn các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc.
- Thiền định với sự hộ trì các căn.
Chánh niệm tỉnh giác với hạnh biết đủ vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng lại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt.
- Tu tập và loại bỏ các phiền não.
. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái.
. Từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận.
. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, sống thoát ly hôn trầm, thụy miên, với tâm tưởng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa hết hôn trầm, thụy miên.
. Từ bỏ trạo cử, hôi tiếc, sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa hết trạo cử, hối tiếc.
. Từ bỏ nghi ngờ, sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Ví dụ 1: Ví như một người mắc nợ, liền làm các nghề nghiệp và được phát đạt, trả được nợ cũ, còn dư để nuôi vợ, như vậy được sung sướng.
Ví dụ 2: Ví như một người bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu, sau một thời gian khỏi bệnh, thể lực khôi phục, nhờ vậy được sung sướng.
Ví dụ 3: Ví như một người bị nhốt trong ngục, sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc, kiện toàn, tài sản không bị tổn giảm, nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ.
Ví dụ 4: Ví như một người nô lệ không được tự chủ, lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, tự do đi lại, nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
Ví dụ 5: Như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, thiếu lương thực, đầy nguy hiểm, sau một thời gian đã đi qua khỏi sa mạc, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm, người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
Quán.
Như vậy, Tỷ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc.
-
Này Đại vương, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật, được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, Tỷ-kheo quán 5 triền cái khi diệt trừ chúng.
. Chứng và trú thiền thứ nhất:
-
Khi quán tự thân đã xả ly 5 triền cái ấy, hân hoan sinh, do hân hoan sinh nên hỷ sinh, do tâm hoan hỷ nên được khinh an, do thân khinh an, lạc thọ sinh; do lạc thọ tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, với tầm với tứ.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại của Sa-môn hạnh còn vi diệu thù thắng hơn các quả Sa-môn hạnh trước.
. Chứng và trú thiền thứ 2:
-
Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sinh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa- môn vi diệu thù thắng hơn trước.
. Chứng và trú thiền thứ 3:
-
Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ 3.
-
Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại vi diệu thù thắng hơn trước.
. Chứng và trú thiền thứ 4:
-
Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước chứng và trú thiền thứ 4 không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Chứng và trú chánh trí chánh kiến.
-
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh không câu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản, Tỷ-kheo dẫn tâm hướng đến chánh trí chánh kiến. Vị ấy biết thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sinh, nhờ cơm áo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phẫn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thiếu, ta lại nương tực và bị trói buộc.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Hóa hiện các loại thân:
-
Với tâm thuần tịnh (như trên), Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nội thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Chứng các loại thần thồng:
-
Với tâm định tĩnh... Tỷ-kheo dẫn tâm đến với các thần thông và chứng các loại thần thông. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền, ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và sờ mặt trăng, mặt trời; những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Chứng thiên nhĩ thông:
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Chứng tha tâm thông:
Với tâm định tĩnh... Tỷ-kheo dẫn tâm hướng đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sinh, của loài người, với tâm của mình,
vị ấy biết: Tâm có tham, sân, si, biết là có tham, sân, si; tâm không tham, sân, si, biết là không tham, sân, si; tâm chuyên chú, tâm tán loạn biết là tâm chuyên chú, tán loạn; tâm đại, không đại hành đều biết; tâm chưa vô thượng biết là chưa vô thượng, vô thượng biết là vô thượng; tâm thiền định biết là thiền định; tâm chưa thiền định biết là chưa thiền định; tâm giải thoát, chưa giải thoát đều biết.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Chứng túc mạng minh:
- Với tâm định tĩnh, thuần tịnh... Tỷ-kheo dẫn tâm hướng đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ như một đời... một trăm ngàn đời... nhiều hoại kiếp... nhiều thành kiếp... nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ lại: Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ, giai cấp, khổ lạc, tuổi thọ như thế này... Sau khi chết tại chỗ kia ta được sinh tại chỗ nọ, tại chỗ ấy ta có tên, dòng họ, giai cấp, thọ khổ lạc, tuổi thọ đến mức như thế này... Sau khi chết tại chỗ nọ được sinh tại đây. Như vậy, Tỷ- kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và chi tiết.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước
Chứng sanh trí:
Với tâm định tĩnh thuần tịnh... Tỷ-kheo dẫn tâm hướng đến trí tuệ về sinh tử của chúng sinh, thấy sự sống chết của chúng sinh. Như, này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về thân, lời, ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Trái lại, làm thiện hạnh... thì được sinh thiện thú, thiên giới, cõi trời, trên đời này.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại thù thắng vi diệu hơn trước.
. Chứng lậu tận trí:
Với tâm định tĩnh... Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt, đây là những lậu hoặc, đây là nguyên nhân của lậu hoặc, đây là sự diệt trừ các lậu hoặc, đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc. Nhờ hiểu như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát, vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa.
Đó là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Samôn, còn thù thắng vi diệu hơn những quả thiết thực hiện tại của Sa-môn hạnh trước.
Vua A-xà-thế tán thán đức Thế Tôn và xin quy y.
Được nghe nói vậy, Ajatasattu, Vua nước Magadha bạch Thế Tôn:
-
Thật vi diệu, thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho những kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt còn thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích.
. Vua A-xà-thế xin quy y Thế Tôn,
Với lời giải thích của đức Thế Tôn, Vua Ajatasattu tỏ niềm hoan hỷ, xin quy y ba ngôi báu và thú nhận đại tội của mình đã giết phụ vương Bimbisara (Tần-bà-ta-la). Đức Phật chứng giám cho sự sám hối của Vua. Và sau khi Vua từ biệt về, Đức Phật dạy các vị Tỷ-kheo, Vua Ajatasattu có thể chứng được pháp nhãn ngay tại chỗ ngồi của Vua nếu Vua không phạm đại tội giết vua cha đoạt ngôi báu.
Vua A-xà-thế ăn năn xin sám hối.
. Vua ăn năn xin sám hối:
Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội... vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chơn chánh, để đạt được vương quyền. Mong Thế Tôn nhận con tội ấy là một tội để con ngăn chặn về tương lai.
. Đức Thế Tôn chấp nhận lời sám hối:
Đại vương, thật là một trọng tội, vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Đại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chơn chánh để đoạt vương quyền. Vì Đại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với chánh pháp và ngăn chặn ở tương lai.
. Vua từ giã Thế Tôn
Được nghe nói vậy, Ajatasattu, Vua nước Magadha bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải cáo từ, chúng con có nhiều bổn phận, nhiều việc phải làm.
- Đại vương hãy làm những gì Đại vương nghĩ là hợp thời.
Khi vua Ajatasattu đi chưa bao lâu, Thế Tôn liền bảo các Tỷ-kheo:
-
Này các Tỷ-kheo, tâm vua rất ăn năn, rất hối tiếc. Nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì ngay tại chỗ này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn không triền cái, không ô uế.
43. Hạ thứ 43 tại Jetavana (năm 547)
Di mẫu Pajapati Gotama năm nay 117 tuổi đã viên tịch. Tôn giả Nanda 44 tuổi cũng đã viên tịch.
Vua Pasenadi đến Jetavana thăm Phật. Năm nay vua đã 77 tuổi, cùng tuổi với Phật. Vua than với Phật đã giết nhầm Tổng tư lệnh Quân đội và là bạn cùng học với Vua đã đánh thắng Ajatasattu. Vua rất ân hận và đã tìm cháu của Tướng Bandhula lên thay.
44. Hạ thứ 44 tại Jetavana (năm 546)
Phật đang trú tại làng Ulumpa trong xứ Sakya thì có Vua Pasenadi đến thăm và thưa Phật: Trẫm có vài điều muốn nói với Thế Tôn hôm nay, sợ sau này không có dịp nói:
-
Bạch Thế Tôn, người ta nói Sa-môn Gotama hiểu biết tất cả, không có gì Ngài không biết? - Phật trả lời: Nói thế hơi quá. Đúng ra chỉ nên nói Sa-môn có đầy đủ tam minh: Túc mạng, Thiên nhãn và Lậu tâm thông.
-
Có người cho rằng Thế Tôn đã nói không có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể hiểu biết tất cả? - Phật nói: Như lai chỉ nói không có ai có thể thấy và biết tất cả cùng một lúc.
-
Trẫm đã từng quen các tu sĩ các giáo phái tu 10, 20, 30 hay 40 năm, nhưng rồi sau đó họ đều hoàn tục. Riêng các tu sĩ của Thế Tôn là tu phạm hạnh trọn đời.
-
Trong xã hội: Vua chống vua, tướng. Bà-la- môn, vợ chồng con cái, anh em, bạn bè đều cãi cọ nhau. Nhưng các Tỷ-kheo sống trong lục hòa.
-
Các đạo sĩ giáo phái khác tu tỏ ra khắc khổ nhưng các Tỷ-kheo ở đây luôn tỉnh táo, thong dong.
-
Trẫm là Vua có quyền sinh sát trong tay, nhưng khi họp họ còn cướp lời Trẫm mà ở đây khi Thế Tôn giảng tất cả đều im lặng không một tiếng động. Thật là mầu nhiệm.
-
Trẫm đã biết nhiều người trong xã hội họp bàn soạn nhiều câu hỏi hóc búa để hỏi Thế Tôn,
nhưng khi đến Thế Tôn, tất cả họ đều bị hóa giải, quy phục Thế Tôn.
8. Trẫm có hai người thợ mộc, khi ngủ họ đều quay đầu về Linh Thứu, xoay chân lên đầu của Trẫm. Tất cả già trẻ, tri thức, giàu nghèo, không phân biệt đều được lòng từ bi của Phật bao phủ tất cả.
9. Trẫm nay 78 tuổi, Thế Tôn cũng đã 78 tuổi. Đây là lần cuối Trẫm thăm Thế Tôn và xin từ giã The Tốn.
Phật chúc Vua làm những gì mà vua cho là phải thời.
Sau khi viếng thăm Phật, Vua Pasenadi bị con trai cùng đám quần thần soán ngôi, sau khi giết em trai mình. Cháu kêu cậu tên là Ajatasattu muốn cất binh đánh Vua Vidudabha nhưng Tỷ-kheo Jivaka khuyên không nên. Sau khi cử hành chôn cất cậu là vua Pasenadi, Vua sai sứ công nhận Vua mới vì đó là con trai của Vua Pasenadi.
Tôn giả Mục-kiền-liên là vị Tỷ-kheo tính tình thẳng thắn nên khi bọn ngoại đạo hỏi rằng trong
ngoại đạo có A-la-hán không, Ngài nói không có nên bị bọn họ mai phục và đánh giết. Sau đó, đệ tử đem thiêu và mang xá lợi về tịnh xá trình Phật.
Phật an ủi: Không phải Mục-kiền-liên không chống nổi với ngoại đạo, nhưng vì trong đời quá khứ đã nghe lời vợ giả làm bọn cướp dùng cây đánh cha mẹ già mù lòa đến gãy xương, chết giữa rừng và trong một kiếp khác đã làm nghề chài lưới sát hại oan uổng không biết bao nhiêu sinh linh, do đó ngày nay phải chịu quả báo. Các vị nên biết thần thông không qua được nghiệp lực, chỉ có sám hối mới có thể làm cho quả báo nhẹ bớt.
Một hôm hai thị giả dìu Devadatta lên núi Linh Thứu xin gặp Phật. Ông ta đã bị bệnh gần 9 tháng qua và nay muốn sám hối Phật.
Phật chấp nhận và Devadatta đã qua đời sau đó. Phật nói: Devadatta vì tham danh lợi nên tạo nhiều ác nghiệp và đã đọa vào ngục A-tỳ. Nhưng nhờ nghiệp lành xuất gia nên sau 100 ngàn kiếp sẽ tái sanh thành Bích Chi Phật hiệu là Atthissara.
Ajatasattu cử Đại thần Vassakara đến hầu Phật, nói ý của vua muốn đánh Vajji và dặn
Vassakara rằng: Phật nói thế nào thì về báo lại. Phật không trả lời mà quay lại hỏi Ananda rằng:
-
Thầy có nghe dân Vajji thường hay hội họp đông đảo để bàn bạc chính sự không? - Con có nghe.
-
Thầy có biết khi họ hội họp với nhau, họ có hoà thuận đoàn kết không? - Thưa có.
-
Thầy có nghe dân Vajji có tôn trọng những pháp chế và luật lệ đã được ban hành không? - Thưa có.
-
Và dân Vajji có kính trọng và nghe lời những bậc Tôn trưởng của họ không? - Thưa có.
-
Thầy có nghe trong nước họ có những vụ bạo động, trộm cướp, giết hại lẫn nhau không? - Thưa rất ít khi xảy ra.
-
Thầy có nghe dân Vajji còn biết bảo vệ tông miếu và di sản tổ tiên họ không? - Thưa họ còn biết.
-
Thầy có nghe dân Vajji biết tôn trọng, cúng dường và chịu học hỏi theo các Thánh nhân tu sĩ không? - Thưa có.
Vậy chắc dân Vajji còn cường thịnh, chưa bị suy đồi.
Như lai đã từng dạy cho giới lãnh đạo ở Vesali về 7 yếu tố giữ gìn cho quốc gia không bị suy thoái, đó là:
-
Chuyên cần hội họp.
-
Hòa thuận và đoàn kết.
-
Kính trọng và nghe lời các bậc Tôn trưởng.
-
Không bạo động với cấp trên hoặc hiếp đáp kẻ dưới.
-
Biết bảo vệ di sản của Tổ tiên.
-
Tôn kính và học hỏi các vị Hiền thánh.
Nghe xong, Đại thần Vassakara thưa:
-
Bạch Thế Tôn, dân Vajji chỉ cần thực hành một vài điều trong 7 điều Phật dạy cũng đủ làm cho nước họ cường thịnh rồi. Bạch Thế Tôn, con nghĩ vua Ajatasattu không thể thắng bằng vũ lực mà chỉ có thể thắng họ bằng ly gián trong nội bộ giới lãnh đạo mà thôi. Con xin chào Thế Tôn.
-
Phật dạy 7 pháp bất thối để giữ gìn chánh pháp.
Tại núi Linh Thứu, Phật dạy các Tỷ-kheo hãy thực hành 7 pháp này thì chánh pháp sẽ trường tồn.
-
Nên gặp mặt nhau trong các buổi hội họp để cùng học hỏi và luận bàn về chánh pháp.
-
Đến họp và sau khi tan họp phải trong tinh thần hòa hợp đoàn kết.
-
Cùng nhau tôn trọng sống theo giới luật đã được ban hành.
-
Biết tôn trọng và vâng lời các bậc Trưởng
lão có đạo đức và kinh nghiệm trong Giáo hội.
5. Có nếp sống thanh đạm giản dị, đừng để lôi cuốn vào tham dục.
6. Biết quí trọng sự im lặng (nói năng như chánh pháp, im lặng như chánh pháp).
7. Biết an trú trong chánh niệm giải thoát.
-
Hạ thứ 45 tại làng Beluva gần Vesali (năm 545).
Khi Phật ở tại ngôi nhà gạch ở Ginjakavasattha, Tôn giả Ananda hỏi Phật về những người thân đã mất, hiện ở cõi nào: Tỷ-kheo- ni Sandari Nanda, em gái Phật, Tỷ-kheo Sadha, Nadika, Cư sĩ Sujata dâng bát sữa cho Phật, Kakudha, Bhadda, Subhadda... Phật nói những vị ấy cùng 50 vị khác sống ở đây đều chứng quả Nhập lưu đến Bất hoàn, có 2 vị chứng A-la-hán.
Khi đến làng Beluvagamala, ngoại ô Vesali, Phật quyết định an cư ở đây. Đây là mùa an cư cuối cùng của Phật. Giữa mùa an cư, Phật bị bệnh nặng. Nhưng 1 tuần sau Ngài chế ngự cơn bệnh và bệnh thuyên giảm.
Khi thấy Phật bị bệnh nặng, Ananda lo lắng. Tôn giả nghĩ, chắc Thế Tôn chưa di chúc gì cho đệ tử nên Ngài không nhập Niết-bàn chăng? Phật biết và nói với Ananda: Này Ananda, các Thầy còn chờ đợi gì ở Như lai nữa mà Thầy bảo Như lai phải để lại di chúc. Chánh pháp đã được Như lai giảng dạy cho mọi người rồi, có điều gì cần cho sự tu tập giải thoát mà Như lai chưa dạy cho chúng Tỷ-kheo nữa đâu. Phật, Pháp, Tăng đều có sẵn nơi mỗi chúng ta. An trú trong chánh pháp mà Như lai đã dạy đó chính là hòn đảo. Các Thầy hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Pháp và luật mà Như lai dạy đó là đức Thầy cao cả của các Thầy.
Tôn giả trước khi viên tịch đã xin phép Phật cho về quê Ngài là làng Upatissa để độ mẹ. Sau khi thuyết pháp cho mẹ chứng quả Tu-đà-hoàn và bà con trong làng, Ngài đã nhập định viên tịch chính trong căn phòng mà mẹ Ngài đã sinh ra Ngài. Như vậy, các đệ tử lớn của Ngài đã viên tịch. Những người thân của Ngài trong gia đình Sakya cũng đã viên tịch. Các bạn hữu đồng lứa dưới sự hướng dẫn của Ngài cũng đã viên tịch. Còn ngài thì sao?
Phật nhập Niết-bàn tại Kusinagar (năm 544)
. Phật báo tin sẽ nhập Niết-bàn trong 3 tháng nữa
Sau mùa an cư, Phật từ Beluva vào Vesali khất thực và thọ trai xong, Phật bảo đến đền Capala để nghỉ trưa. Trên đường đi, Ngài nói: Này Ananda, Vesali thật đẹp. Đền Udena, Gotamaka, Sattan- baka và Bahuputta cũng đẹp. Đền Capala sắp đến cũng đẹp. Tôn giả đang đi với Thế Tôn, nhưng tâm hồn lo nghĩ đến sự mất mát của các bậc đàn anh như Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất, không chăm chú nghe những lời Phật dạy.
Ngài nói: Như lai đã trau dồi và phát triển các đức hạnh, thực hành đầy đủ các nguyện lớn, chứng nghiệm đầy đủ thực tại an lạc thanh tịnh, có đủ các thiện phương tiện. Nếu muốn Như lai có thể sống đến 100 tuổi hay hơn thế.
. Sau khi đến đền Capala sắp đặt chỗ cho Phật, Ananda ra ngoài đi thiền hành thì thấy quả đất rung động dữ dội. Tôn giả tiên đoán sắp có điều chẳng lành, liền vào bạch Phật. Phật dạy: Có 8 điều khiến quả đất rung động:
-
Vì đất nương trên nước, nước nương trên gió, gió nương vào không gian, nên khi gió thổi nước động, nước làm đất động.
-
Khi tu sĩ đắc quả thần thông hay một vị trời hành phép quán địa đại hay quán thủy đại.
3. 4, 5. Khi một vị Bồ-tát nhập thai, sinh ra hay thành đạo.
-
Khi Phật chuyển Pháp luân.
-
Khi Phật quyết định nhập diệt.
-
Khi Phật nhập đại Niết-bàn.
Này Ananda, Như lai đã quyết định rồi, sau 3 tháng nữa Như lai sẽ nhập Niết-bàn.
Ananda xin Phật trụ thế nhưng đã quá trễ.
. Bát cháo nấm của thợ rèn Cunda
Chiều hôm ấy, Phật tới làng Bhandagama, sau khi thuyết pháp ở đây xong, Ngài tới Hatthigama rồi đến Ambagama và Jambagama.
Đến ngày thứ 6, Phật tới thủ đô Bava xứ Malta, sau khi nghe pháp, thợ rèn Cunda mời Đại chúng đến nhà ông thọ trai. Tại nhà, ông nấu loại cháo nấm hương đen (loại đặc biệt) để dâng Phật. Phật nhận lấy và dặn Cunda nên đem thức ăn có nấm mà ông đang dùng chôn sâu dưới đất. Cunda vâng lời.
Đêm đến Phật đau bụng dữ dội và khát nước. Phật sai Ananda tìm nước nhưng sông đã cạn, số còn lại bị xe ngựa làm cho vẩn đục, Ananda về thưa lại cho Phật hay. Phật nói: Ông cứ lấy về cho Như lai uống. Ananda vâng lời, lạ thay dòng nước
đục ấy lại trở nên trong vắt lạ thường. Ananda lấy về dâng Phật.
Sau khi nghỉ ngơi, Phật bảo Ananda: Vào lúc canh ba, Như lai sẽ nhập diệt ở Kusinagar.
Như tiên liệu mọi người sẽ nguyền rủa Cunda, Phật dạy Ananda rằng: Bát cháo mà Cunda cúng là bữa cơm có phước đức rất lớn, như bát sữa dâng Phật trước khi Phật Thành đạo.
Phật dạy Ananda: Hãy sắp xếp chỗ nằm cho Như lai giữa 2 cây Sala, đầu hướng về phía Bắc, nghiêng mình bên phải, bàn tay phải ngửa lót dưới mặt, tay trái để nghiêng trên hông trái, chân trái nằm trên chân phải. Ngài dặn Ananda: Này Ananda, khi Như lai nhập diệt rồi thì giáo pháp và giới luật ấy sẽ là đạo sư của các Thầy.
. Tôn giả Upavana đứng che án chư Thiên
Thị giả Upavana đứng trước mặt Phật để quạt, Ngài liền nói: Này Upavana, thầy hãy đứng sang một bên.
Tôn giả Ananda bạch Phật: Lâu nay Upavana thường hầu cận Thế Tôn, sao hôm nay Thế Tôn lại quở trách Thầy? Ngài nói: Chư Thiên thầm thì oán trách Upevana rằng: Đêm nay canh ba, Thế Tôn nhập vô dư y Niết-bàn, vậy mà ông ta đứng che mặt Thế Tôn, làm chúng ta từ xa tới không thấy
mặt Thế Tôn. Trong Lâm viên này cách 12 dặm không còn một chỗ nào trống hết, vì chư Thiên 10 phương đã tề tựu đông đủ để chiêm bái Như lai lần cuối.
. Lợi ích của sự chiêm bái 4 Thánh tích
Tôn giả Ananda bạch Phật: Thường lệ, sau mùa an cư, chư Tăng thường đến thăm Ngài và đảnh lễ Thế Tôn. Lỡ sau khi Thế Tôn nhập diệt, họ sẽ lấy gì để đảnh lễ? Phật nói: Có 4 Tịnh tâm có thể đảnh lễ coi như Như lai còn sống: Nơi Như lai giáng sanh, Thành đạo, Thuyết pháp lần đầu, nơi Như lai nhập Niết-bàn. Nếu đảnh lễ với tín tâm, Như lai tin chắc những người ấy sẽ được phước báo và sau khi mạng chung họ sẽ sanh về cõi trời.
. Phật dạy chư Tăng cách đối xử với nữ giới
Bạch Thế Tôn, chúng con nên đối xử với nữ giới có sức quyến rũ thế nào? - Các Thầy không nên nhìn họ. Nếu lỡ phải nhìn thì sao? - Không nên nói chuyện. Nếu họ đến bắt chuyện thì sao? - Nên chánh niệm tỉnh giác.
. Lễ an táng Thế Tôn như thế nào?
Bạch Thế Tôn, lễ an táng Thế Tôn như thế nào? - Nên theo lễ của một vị Chuyển luân Thánh vương. Còn tháp thì sao? - Nên xây ở ngã tư đường.
. Phật an ủi Ananda
Ananda sau khi hỏi, liền ra gốc cây ngồi khóc, Phật bảo ra gọi vào và Ngài nói: Có sinh phải có diệt. Làm Thị giả mấy chục năm không ai hơn Ananda. Như lai rất cám ơn Thầy. Công đức của Thầy rất lớn. Thầy cố gắng nương theo Pháp và Luật của Như lai dạy thì trong tương lai Thầy sẽ vượt qua khổ ải. Phật nói thêm: Có 4 ưu điểm đặc biệt của Ananda:
-
Thường ai muốn gặp Như lai thì gặp Ananda trước.
-
Vừa gặp mặt Ananda thì họ liền cảm mến.
-
Khi vừa gặp mặt Ananda nói chuyện thì họ càng cảm mến hơn.
-
Khi Ananda thuyết giảng một thời pháp ngắn thì họ thường hoan hỷ muốn nghe thêm, khi Ananda làm thinh thì họ càng thích thú.
. Phật có Ananda làm Thị giả, cũng như 6 Đức Phật trước kia có 6 Thị giả.
Các Thị giả của các chư Phật phải có những đức tính như sau:
Tín căn bền vững: Khi nghe Như lai giảng Ananda liền có đức tin vững chắc và ghi nhớ đầy đủ, không sai, không thiếu.
2. Tâm tính chất trực: Tính hiền hòa, chất phát, ngay thẳng, dễ gây cảm tình với tất cả mọi người.
3. Thân không bệnh khổ: Rất ít khi mắc bệnh.
4.Thường sống tinh tấn: Vững tin theo chánh pháp, cứ một đường thẳng mà tiến, không bao giờ thối chí nản lòng.
5. Niệm căn đầy đủ: Luôn luôn ghi nhớ chánh pháp, không bao giờ quên.
6. Tâm không kiêu mạn: Luôn luôn nhẫn nhịn, hòa nhã với mọi người.
7. Thành tựu định ý: Tâm ý không bao giờ rời chánh pháp.
8. Từ nghe sanh trí: Nghe suy nghĩ, hiểu rõ và trí tuệ bùng phát.
. Ananda xin Thế Tôn đừng nhập diệt ở Kusinagar.
Phật dạy: Kusinagar xưa là một thành phố lớn chính tiền thân Phật bấy giờ là Chuyển luân Thánh vương Maha Sudassana (Đại Thiện Kiến Vương). Bây giờ ở dưới cây sala cũng có rất đông chư Thiên trổi nhạc cúng dường và chư Thiên cũng tung hoa Mạn-đà-là và Mạn-thù-sa cúng dường Như lai. Thầy hãy nên vào báo cho các quan chức chính quyền biết là đêm nay, vào lúc canh ba, Như lai sẽ nhập diệt ở đây.
. Subhadda, người đệ tử xuất gia cuối cùng
Phạm chí Subhadda (Tu-bạt-đà-la) trên 100 tuổi xin yết kiến Phật để xin giải đáp một số nghi vấn trong lòng nhưng Ananda từ chối. Phật nghe được và gọi cho vào. Phạm chí thưa: Bạch Sa- môn, có con đường nào đi xuyên qua không gian không? Một người ngoài giáo đoàn được gọi là Tăng không? Năm uẩn có trường tồn không? - Này Subhadda, không có con đường nào xuyên qua không gian, không có Tăng ngoài giới luật và giáo pháp của Phật, không có năm uẩn trường tồn, chư Phật không hề thay đổi. Rồi Phật giảng cho ông về Bát chánh đạo. Ngoài Bát chánh đạo ra không tìm đâu ra quả vị Thánh nhân. Subhadda xin quy y Phật, Pháp và Tăng. Vì là ngoại đạo, Phật cho ông thọ giới Tỷ-kheo đó là một ngoại lệ, vì sau đó ông tu tập tinh tấn và chứng quả A- la-hán.
- Lời nói cuối cùng của Đức Phật
Phật cho phép ai còn hồ nghi gì về Phật, Pháp, Tăng hay giới luật Phật dạy thì cứ hỏi. Nhưng 500 Tỷ-kheo hiện diện không ai hỏi gì. Sau đó Phật cho phép có thể bỏ một số điều nhỏ nhặt trong giới luật. Đại chúng im lặng, không ai nói gì và hỏi gì. Cuối cùng Ngài nói:
Này các Thầy Tỷ-kheo, hãy lắng nghe, Như lai sẽ nói: Vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt, các Thầy hãy tinh tiến lên để đạt tới giải thoát.
Nói xong Ngài nhắm mắt. Đó là lời di huấn cuối cùng của Phật.
Quá trình nhập diệt của chư Phật xảy ra như
sau:
Ngài nhập sơ thiền; xuất sơ thiền, ngài nhập nhị thiền; xuất nhị thiền, ngài nhập tam thiền; xuất tam thiền, ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền, ngài nhập không vô biên xứ; xuất không vô biên xứ, ngài nhập thức vô biên xứ; xuất thức vô biên xứ, ngài nhập vô sở hữu xứ; xuất vô sở hữu xứ, ngài nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ; xuất phi tưởng phi phi tưởng xứ, ngài nhập diệt thọ tưởng định. Xuất diệt thọ tưởng định, ngài nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ; xuất phi tưởng phi phi tưởng xứ, ngài nhập vô sở hữu xứ; xuất vô sở hữu xứ, ngài nhập thức vô biên xứ; xuất thức vô biên xứ, ngài nhập không vô biên xứ; xuất không vô biên xứ, ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền, ngài nhập tam thiền; xuất tam thiền, ngài nhập nhị thiền; xuất nhị thiền, ngài nhập sơ thiền. Rồi Thế Tôn tiếp tục xuất sơ thiền, nhập nhị thiền; xuất nhị thiền, nhập tam
thiền; xuất tam thiền, nhập tứ thiền. Cuối cùng Thế Tôn xuất tứ thiền và nhập diệt liền sau đó vào đại Niết-bàn.
Lúc ấy đại địa rung động, hoa sala rụng xuống cúng dường. Mọi người đều chấn động mạnh. Lúc bấy giờ lúc nửa đêm trăng tròn tháng Vesatha năm 544 trước Tây lịch.
. Lễ Trà tỳ
Tôn giả Anuruddha bảo Ananda hãy vào thành phố báo cho chính quyền và dân chúng biết đức Đạo sư đã diệt độ.
Dân chúng trong thành phố Malla và các quan chức địa phương đều mang hoa cúng dường Phật.
Đến ngày thứ 7, tám vị Tộc trưởng bộ tộc Malla tắm gội sạch sẽ, mặc lễ phục và bắt đầu rước Kim thân Phật vào thành phố. Và sau cùng đặt Kim thân Phật lên ngôi đền chính của Bộ tộc Malla. Kim thân Đức Phật được đặt tại đây.
Lễ Trà tỳ Đức Phật được làm lễ như một vị Chuyển luân Thánh vương (Đại đế). Cuối cùng được đưa lên một dàn hỏa vĩ đại chất toàn bằng gỗ thơm.
Bốn vị Tộc trưởng Malla cầm 4 ngọn đuốc châm lửa, nhưng lửa không cháy. Thì bỗng nhiên
có một người cỡi ngựa đến nói rằng: có Tôn giả Maha Kassapa và 500 vị Tỷ-kheo sắp đến. Tôn giả Ananda đề nghị hãy chờ trong vài giờ nữa.
Khi Tôn giả Maha Kassapa và 500 vị Tỷ-kheo đến, Tôn giả trật vai phải áo Sanghati xuống và chắp tay lạy, rồi đi nhiễu quanh 3 vòng xong thì dàn hỏa tự nhiên bốc cháy. Sau khi lửa tàn, các vị Tộc trưởng thâu lượm xá-lợi bỏ trong một bát bằng vàng và đặt trên bàn thờ trung ương trong đền. Có quân lính canh gác cẩn mật. Các vị Tỷ-kheo và dân chúng tiếp tục lễ bái xá-lợi của Phật.
. Phân chia xá lợi ra làm 8 phần
Tin Đức Phật nhập diệt và hỏa táng lan đi rất nhanh. Các nước đều cử sứ thần đến để xin chia xá-lợi Phật về thờ, nhưng dân chúng và chính quyền Malla không chịu. Sau khi không phân giải được thì vị đại thần Dona đại diện chính quyền Malla đứng ra dàn xếp và cuối cùng xá lợi của Phật được chia 8 phần bằng nhau:
-
Xứ Magadha, (thủ đô Rajagriha) vua Ajatasattu một phần.
-
Xứ Vajji (thủ đô Vesali) vua Cedaga Licchavi một phần.
-
Xứ Sakya (thủ đô Kapilavastu) một phần.
-
Xứ Koliya (thủ đô Ramagama) một phần.
5. Xứ Buliya (thủ đô Allakappa) một phần.
6. Một vị Bà-la-môn xứ Vethadipa, xứ Malla nhận 2 phần xá lợi. Một xây tháp ở thủ đô Pava và một ở Kusinagar.
7. Vị Bà-la-môn Dona xin thỉnh cái chân vàng dùng để phân chia xá lợi đem về vườn nhà mình xây tháp thờ.
8. Sứ giả xứ Moriya đến trễ xin thỉnh phần tro còn lại về xây tháp thờ tại thủ đô Ripphalivana.
*
* *