Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế

Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn : Sưu tập & giới thiệu. Năm xuất bản: 2009. Số trang: 560.

Chương 9: 3. Sự Tích Đức Phật Thích -Ca (Trang 195 - 330)

3
Sự tích ĐỨC PHẬT THÍCH-CA (*)

 
Giáo lý chỉ dạy con đường đến giác ngộ do đấng Giác ngộ tìm ra và truyền giảng, đó là Phật giáo. Đấng Giác ngộ tức là Đức Phật, tỏa ánh từ quang xua tan đau khổ.
Thế nhưng, các Đức Phật đã chứng ngộ Phật tánh, viên mãn ba thân, không thay đổi, xưa nay vẫn là một, không có chi gọi là sống chết, thì làm gì có lịch sử ở đời, hạn cuộc theo thời gian không gian, để cho chúng ta luận bàn khảo cứu. Có chăng, chỉ vì Phật thương xót chúng sinh mà hiện thân giáo hóa tùy theo căn cơ, do đó chúng sinh mới thấy Phật cũng có sanh có diệt như mình. Nhưng dù có sanh diệt thế nào vẫn chỉ là hỏa thân sanh diệt, chớ pháp thân và báo thân vẫn thường tự tại, như như. “Tương Ưng Bộ Kỉnh” (Bản Pali-Việt tập 4B) nói: “Như lai là thâm sâu, vô lượng, như biển cả, không thể đến tận đáy. Nếu muốn định nghĩa Như lai ngang qua thân sắc, nhưng thân sắc ấy Như lai đã đoạn tận, làm sao định nghĩa được”.
_________________________
(*) Do Hòa thượng Thích Thiện Siêu biên soạn.

Như vậy đủ biết Sự tích Đức Phật Thích-ca mà chúng tôi sưu tập sau đây chỉ là sự tích của một vị hóa thân Đức Phật Lô-xá-na. Hiểu được như thế, chúng ta mới khỏi dồn Lịch sử Đức Phật vào những sử liệu khô khan theo cái nhìn thiển cận thông thường.
Tiếp theo Sự tích, chúng tôi chọn thêm những mẩu chuyện hay có liên hệ đến Ngài và các đệ tử của Ngài do Ngài hóa độ, hầu để thấy rõ bản nguyện thị hiện độ sanh của Đức Phật: “Như lai xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vỉ an lạc cho chư thiên và loài người. ” (Kinh Tăng Chi 1).
Phật lịch 2535
Từ Đàm - Huế, ngày 9 tháng 3 năm 1992
Thích Thiện Siêu
Sự tích ĐỨC PHẬT THÍCH-CA
  1. Tại cung trời Đâu-suất (Tushita)
Theo Phật Bổn hạnh Kinh, đức Thích-ca từ khi được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký đã hiện ra vô số thân trong vô lượng kiếp, đặng kết thiện duyên với chúng sinh trong cõi Ta-bà này. Khi làm ơn, khi thị oai, khi làm vua hiền, khi làm con thảo, khi hoằng dương Chánh pháp, khi hộ trì Giới luật, cho đến khi cơ duyên đã thuần thục, Ngài mới hiện thân trong nội viện cõi trời Đâu-suất làm vị Bồ-tát tên Thánh Thiện Bạch xét rõ loài người ở thế giới này đã đủ trí thức nghe được Phật pháp, mới bảo rõ cho chư Thiên biết rằng, Ngài sẽ giáng sinh xuống cõi Diêm-phù-đề trong nhà vua Tịnh Phạn ở nước Ca- tỳ-la-vệ, tiếp đó Ngài thuyết pháp cho chư Thiên nghe mà từ biệt họ bằng bài kệ:
“Chư hạnh vô thường,
Thị sanh diệt pháp,
Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc. ”
(Các pháp đều sanh diệt vô thường, chấm dứt sự sanh diệt thì được tịch diệt an vui).
II. Đức Phật giáng sinh
Ấn Độ thuở xưa bao gồm nhiều nước nhỏ, tựu trung có 16 nước danh tiếng (theo kinh Nhân Vương):
  1. Ma-kiệt-đà    (Magadha, thành Vương Xá, La-duyệt-kỳ)
  2. Tỳ-xá-ly        (Vesali, Vaisali)
  3. Kiều-tất-la    (Kosala)
  4. Thất-la-phiệt, Xá-vệ (Sravasti, Savathi)
  5. Chiêm-ba (Campa)
  6. Ba-la-nại-ty (Baranassi)
  7. Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu)
  8. Câu-thi-na (Kusinara)
  9. Kiều-diệm-di (Kosambi)
  10. Bát-đá-la (Pancala)
  11. Ba-ra-lị-phất (Pataliputra- Hoa thị-thành)
  12. Mạt-thể-la     (Mathura)
  13. Ô-thi              (Usa)
  14. Bôn-tra-bạt-đa (Pungavardhana)
  15. Bồ-đề-bạt-đa (Devatara)
  16. Ca-thi             (Kasi)
Trong thời Phật tại Ấn Độ có 16 nước lớn, theo một tài liệu khác:
  1. Kasi: (Ca-thi) đô ở Varanasi nay là nước Bénarès trên bờ sông Ganges, giữa nước Kosala và Magadha.
  2. Kosala đô ở Savathi (Xá-vệ) gần Népal, có thành Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ)
  3. Anga đô ở Champa phía đông Magadha.
  4. Magadha (Ma-kiệt-đà) đô ở Rajagaha (Ba- liên-phất, Pataliputa, Vương-xá) phía Bắc sông Ganges, Tây giáp sông Sona.
  5. Vajji đô ở Vaisali, gồm nhiều giống Vajjis (Bạt-kỳ), Vaisali, Inatukas.
  6. Mala có 2: Khu Kusinara (Câu-thi-na) và khu Pava, nhưng đều ở dưới Chính phủ Cộng hòa Trung ương.
  7. Chedi 2 hạt: một miền núi nay thuộc Népal và một miền gần Kosambi.
  8. Vamsa đô ở Kosambi.
  9. Kutu đô ở Indraprastha gồm New Delhi. Phật có thuyết kinh Mahasatithana cho dân xứ này.
  10. Panchala đô ở Kampilya.
  11. Matisiya đô ở Virata.
  12. Sarasena đô ở Mathura
  13. Assakâ đô ở Patama.
  14. Avanti
15. Gandhara (Câu-đà-ra) nay là Kanddakar gần vùng Kashmir và Taxila.
16. Kamboja đô Dvaraka.
Nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía Bắc Trung Ấn, phía Nam chân núi Hy-mã-lạp, phía Tây sông Lô-miện- ni thuộc xứ Népal ngày nay.
Lúc ấy nước Ca-tỳ-la-vệ ở dưới quyền cai trị của Tịnh Phạn vương dòng họ Thích-ca, một nhánh của họ Kiều-đáp-ma (Cù-đàm, Gotama) thuộc giai cấp Sát-đế-lợi. Hoàng hậu nước này là Ma-da phu nhân. Vua và hoàng hậu tuổi đã lớn mà chưa có con nên ngày đêm cầu nguyện và sống một cuộc đời trong sạch phước đức để mong sanh quý tử. Bồ- tát Thánh Thiện Bạch đã quán thấy gia đình vua Tịnh Phạn xứng đáng cho Ngài thác sanh, nên Ngài đã cho bà Ma-da nằm mộng.
Vào một đêm trăng sau khi chính tay hoàng hậu mở một cuộc bố thí vô giá tặng phát đồ vật cho mọi người, bà nghỉ tại tiêu phòng trong một giấc ngủ thảnh thơi thoải mái. Bỗng bà mộng thấy một con voi trắng 6 ngà trẻ trung oai vệ mang hoa sen trắng, từ trên trời tuốt xuống bên hông bà trong lúc giữa hư không có tiếng thì thầm: “Hỡi ai có lắng nghe, hãy thức dậy, hỡi ai còn ngái ngủ, Đức Phật đã đến quả đất này để dạy bảo cho các người ”.
Bà liền thức dậy báo tin cho vua Tịnh Phạn hay, vua cho mời các vị Bà-la-môn khác phái đến đoán mộng. Họ đã đoán rằng: “Ồ, kính thưa hoàng hậu của cõi Trời, đức vua của dòng họ Thích, đức bà Ma-da sẽ làm mẹ của vị thánh Giác ngộ cao cả mà Ngài đã đến quả đất này như con voi trắng”.
Từ đó hoàng hậu thụ thai. Bà càng tinh tấn đạo hạnh. Sau những tháng ngày hoan hỷ, đến lúc sắp sinh, theo tục lệ Ấn Độ, bà phải về nhà cha mẹ. Có các nữ tỳ săn sóc hầu hạ bà đi về nước Câu-ly. Nhân lúc dạo chơi trong vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) thấy cây Vô ưu trổ hoa tươi tốt, bà dang tay toan hái thì liền Đản sanh thái tử nhằm lúc ban mai, ngày trăng tròn tháng 4 Ấn Độ (về niên đại đức Thích-ca giáng sinh có nhiều thuyết khác nhau). Bỏ ngoài các thuyết không có bằng cớ, còn các thuyết có bằng cớ có thể chia ra hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất:
  1. Phật sử Tây Tạng : 626 năm trước kỷ nguyên Tây lịch
  2. Phật sử Tích Lan : 624 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  3. Bia Buddhagava : 623 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
Nhóm thứ hai:
  1. Chúng Thánh Điển Ký: 566 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  2. Thiện kiến luật: 559 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
  3. Bia Phật ở Miến Điện: 561 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
Trong các thuyết ấy có giá trị khác nhau, nếu so sánh với niên đại dịch kinh của các vị tổ sư ở Ấn Độ sang Trung Hoa thì niên đại giáng sinh của Phật theo sử đảo Tích Lan là đúng hơn cả.
Lúc Ngài mới sinh có nhiều điều lạ xuất hiện như cây khô đâm chồi nở bông, nước đục hóa trong, người bệnh tật được khỏe, quả đất sáu cách rung động v.v... Lại có thiên long phun nước tắm cho Ngài, Phạm thiên đem áo dâng và tán hoa mừng Ngài. Ngài tự đi bảy bước, mỗi bước đều có bảy hoa sen tự nhiên hiện ra đỡ chân. Ngài đưa một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất dạy rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn." (Trên trời dưới đất duy chỉ có Ta là tôn quý)(1) dạy xong nằm xuống như mọi trẻ thông thường.
__________________________
(1) Theo kinh tạng Pali ghi: “Ta là bậc tối thượng ở trẽn đời, Ta là bậc tối tôn ở trên đời, Ta là bậc cao nhất ở trẽn đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa. ”
Vua Tịnh Phạn và triều đình hay tin, mừng rỡ rước Ngài về cung ban các ấn chỉ, tha giảm cho những kẻ tù tội, bố thí cho những người nghèo khó và cho mời các thầy tướng giỏi đến xem tướng thái tử. Các thầy tướng tuy ai xem cũng biết là tốt, nhưng chẳng biết tốt đến bực nào, nên đồng thanh tâu vua xin mời đạo sĩ A-tư-đà (Asista) hiện tu ở Tuyết sơn, về xem tướng thái tử, vì ông ấy đã tu luyện được phép ngũ thông, đạo lực cao cường, thâu suốt mọi việc quá khứ, hiện tại, vị lai. Vua tán đồng và định sai người đi rước thì vua nghe tin ông A-tư-đà đến xin yết kiến thái tử. Vua mừng mời vào. Vừa thấy thái tử ông ta liền quỳ xuống vái chào và cung kính xem tướng, xem xong, bỗng nức nở khóc. Vua tưởng có điều gì không hay, vội hỏi thì ông tâu rằng: “Thái tử tướng tốt tột bực, đủ cả 32 tướng đại nhân và 80 vẻ đẹp. Theo Luận Đại Trí Độ tập 1 phẩm Bồ-tát thì 32 tướng đó là: 1. Lòng bàn chân bằng phẳng; 2. Lòng bàn chân có tướng bánh xe đủ ngàn tăm; 3. Ngón tay thon dài; 4. Gót chân rộng và bằng; 5. Ngón tay, ngón chân có lưới lụa xòe như của chim Nhạn; 6. Tay chân mềm mại; 7. Mu bàn chân cao và đầy; 8. Bắp đùi như nai chúa Y-nê-diên; 9. Khi đứng thẳng, ngón tay sờ đến đầu gối; 10. Tướng âm tàng như trâu chúa; 11. Thân cao và rộng cân đối như cây Ni-câu-loại; 12. Lông trên thân mọc xoay

hướng lên; 13. Mỗi lỗ chân lông có một sợi lông; 14. Thân sắc vàng như màu hoàng kim; 15. Có ánh sáng một trượng; 16. Da mỏng, mịn; 17. Bảy chỗ trên thân đều đặn; 18. Dưới hai nách đầy đặn; 19. Phần thân trên như sư tử; 20. Thân to lớn và thẳng; 21. Vai tròn và đẹp; 22. Có 40 cái răng; 23. Răng đều đặn; 24. Răng trắng trong; 25. Hai má như Sư tử; 26. Được thượng vị trong các vị; 27. Lưỡi rộng, dài; 28. Có âm thanh như của trời Phạm thiên; 29. Mắt xanh biếc; 30. Lông mi như trâu chúa; 31. Nhục kế ở trên đầu; 32. Tướng lông trắng giữa hai chân mày.
Và 80 vẻ đẹp là: 1. Đỉnh đầu không thể thấy; 2. Mũi thẳng, cao, đẹp, lỗ mũi kín; 3. Mí mắt như trăng mới mọc, có màu xanh lưu ly; 4. Vành tai mọc sáng khi đi thòng xuống; 5. Thân chắc thật như lực sĩ trời Na-la-diên; 6. Khớp xương như móc câu; 7. Mỗi lần thân xoay như voi chúa; 8. Khi đi chân cách đất bôn tấc, có dấu ấn hiện trên đất; 9. Móng tay màu đồng đỏ, mỏng và mướt; 10. Xương đầu gối cứng, tròn, đẹp; 11. Thân sạch sẽ; 12. Thân mềm mại; 13. Thân không cong; 14. Ngón tay tròn, thon; 15. Ngón tay đẹp; 16. Mạch sâu; 17. Mắt cá kín; 18. Thân mịn màng; 19. Thân vững chắc, đi không xiên xẹo; 20. Thân đầy đặn; 21. Thức đầy đủ; 22. Dung nghi đầy đặn; 23. Chỗ ở yên ổn
không thể động; 24. Uy đức chấn động hết thảy; 25. Mọi người đều ưa xem; 26. Mặt không lớn dài; 27. Dung mạo đẹp đẽ, không pha tạp; 28. Mặt đầy đủ; 29. Môi đỏ như màu trái Tần-bà; 30. Âm vang sâu lắng; 31. Rốn sâu, tròn, đẹp; 32. Lông trên thân xoay về phía hữu; 33. Tay đầy đủ; 34. Tay chân vừa ý; 35. Chỉ tay rõ ràng, ngay thẳng; 36. Chỉ tay dài; 37. Chỉ tay không dứt; 38. Chúng sinh ác tâm trông thấy hòa vui; 39. Mặt rộng, đẹp; 40. Mặt đầy đặn, trong sáng như trăng; 41. Theo ý chúng sinh vui vẻ cùng nói; 42. Lỗ chân lông tỏa mùi thơm; 43. Miệng tỏa mùi thơm; 44. Nghi dung như Sư tử; 45. Đi đứng như voi chúa; 46. Cách đi như ngỗng chúa; 47. Đầu như quả Ma-la-đà; 48. Âm thanh rõ ràng; 49. Răng bén; 50. sắc lưỡi màu hồng; 51. Lưỡi mỏng; 52. Sắc lông màu hồng; 53. Lông trong sạch; 54. Mắt rộng, dài; 55. Tướng các khiếu (lỗ) đầy đủ; 56. Tay chân trắng thuần như hoa sen; 57. Rốn không bày; 58. Bụng không bày; 59. Bụng nhỏ; 60. Thân không khuynh động; 61. Thân chắc nịch; 62. Phần thân lớn; 63. Phần cao ráo; 64. Tay chân sạch, mềm mại; 65. Hào quang thân dài một trượng; 66. Thân chiếu sáng khi đi; 67. Xem chúng sinh bình đẳng; 68. Không khinh chúng sinh; 69. Theo âm thanh của chúng sinh không quá, không giảm; 70. Thuyết pháp không sai khác; 71. Tùy

theo ngôn ngữ của chúng sinh mà thuyết pháp; 72. Một lần phát âm, tiếng vang đến nhiều người; 73. Có nhân duyên theo thứ lớp thuyết pháp; 74. Có tướng hết thảy chúng sinh không thể xem hết được; 75. Người xem không nhàm chán; 76. Tóc dài, đẹp; 77. Tóc không rối; 78. Tóc xoáy, đẹp; 79. Màu tóc như ngọc xanh; 80. Tay chân có đức tướng.
Nếu Ngài ở đời thì quyết định làm Chuyển Luân vương cai trị cả thế gian. Song, Ngài giàu lòng từ mẫn, không chịu yên hưởng phú quý. Đến khi lớn khôn thì chắc Ngài sẽ xuất gia học Đạo, thành vị Phật-đà độ cả chúng sinh ra khỏi thông khổ. Tôi nghĩ phận tôi gắng sức tu hành, cố tìm đạo chánh mà lâu nay chưa rõ, nay hiện có Phật ra đời mà tôi tuổi già, sức đã yếu chắc không còn sống đến ngày đó để nghe được những lời dạy cao siêu của Ngài, nên tôi tủi mình vô phước khóc chớ không có gì khác”.
Ông tâu xong liền từ tạ vua, kính lễ thái tử rồi đi về núi.
Bà Ma-da sanh thái tử được bảy ngày thì thăng hà và thác sanh lên cõi trời Đao-lợi. Vua đặt tên là Sĩ-đạt-ta (Sidhartha) và giao cho dì mẫu Ngài là Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Maha Prajapati) nuôi nấng.
Thái tử càng khôn lớn phương phi càng tỏ rõ những nét thông minh và đức độ siêu quần, thấy
vậy vua càng thương yêu quý mến, rước các danh sư về văn, về võ để dạy thái tử. Song thái tử thông minh tột bực. Ông thầy nào dạy ít lâu rồi cũng phải lui thưa không dám dạy nữa. Đến tám tuổi thì văn cũng như võ, các môn học kỹ thuật, kỹ xảo ở đời thái tử đều tinh thông cả.
Thái tử Sĩ-đạt-ta được nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục một cách toàn diện về hai mặt: văn chương và võ nghệ.
Khi Thái tử lên 8 tuổi, những thầy giáo giỏi nhất trong xứ được mời đến hoàng cung dạy cho Thái tử các môn học thế gian như Thanh minh (ngôn ngữ học và văn học), Công xảo minh (Công kỹ nghệ học), Y phương minh (môn học chữa bịnh), Nhân minh (Luận lý học), và Nội minh (Đạo học), về Đạo học, Thái tử được dạy về 4 sách thánh Veda, là các sách Thánh của Bà-la-môn giáo. Sách kể rằng: Chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên và 4 sách Thánh Veda. Đến năm 13 tuổi, Thái tử học võ thuật, theo truyền thống dòng dõi đẳng cấp võ tướng (Ksatryas - Sát-đế-lỵ). Nhờ có sức khỏe phị thường, Thái tử học môn võ gì cũng giỏi; về môn bắn cung, sách kể rằng, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên 7 lớp trống đồng, trong khi người giỏi nhất tại cuộc hội thi chỉ
bắn xuyên được ba lớp trống đồng. Vào tuổi 16, Thái tử cưới công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara), đồng lứa tuổi với Thái tử. Và trong gần 13 năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời. về quãng đời ấy của Ngài, Đức Phật kể lại như sau với các Tỷ-kheo, đệ tử của Ngài:
“Này các Tỷ-kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng mà không từ Kasi đến. Bằng vải Kasi là khăn của Ta, bằng vải Kasi là áo cánh, bằng vải Kasi là áo lót, bằng vải Kasi là áo khoác ngoài. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỷ-kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, tại lâu đài mùa mưa, Ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quanh Ta... (Tăng Chi I, 161-162).
Căn cứ vào lời tiên đoán của A-tư-đà và thấy tài năng đức độ của thái tử, vua biết thế nào Thái
tử cũng đi tu, điều mà vua không muốn, nên tìm đủ mọi cách hầu làm phai mờ ý chí cao thượng của thái tử. Nào thiết lập hoa viên, cung điện để thái tử ở theo thời tiết ba mùa, chọn nhiều cung nữ hầu hạ, tìm nơi xứng đáng cưới vợ cho thái tử. Và trong một cuộc tuyển phu, thái tử đã được nàng Da-du- đà-la (Yasodhara) con vua Thiện Giác (Supra- buddha) chọn làm chồng, về sau sinh được một cậu con trai tên là La-hầu-la (Rahula). Mặc dù sống trong cảnh tuyệt đỉnh của trần gian với danh vọng tiền tài, vợ đẹp, con ngoan, đền vàng điện ngọc, đàn ngọt, hát hay, song Ngài vẫn dững dưng không tìm thấy đời mình trong lối sống tạm bợ đó. Lối sống hợp với tâm hồn Ngài nhất phải là lối sống rạng ngời trăng sao bao trùm vũ trụ của một bậc siêu phàm vượt tục, còn đây chỉ là cảnh giả dối, phĩnh phờ, buông xuôi, chôn vùi những tâm hồn mê muội yếu đuối, phải làm sao thoát khỏi nó, cùng với mọi loài tới chỗ an vui.
Một hôm, nhân ngày lễ hạ điền, thái tử theo vua cha ra đồng xem dân chúng cày cấy, sau lớp xuân sắc tốt tươi, hoa cười chim hót, gió thoảng trời quang, tưởng như nhân sinh an lạc lắm nhưng thái tử đã không hời hợt vô tư, mà nhìn rõ tường tận sâu kín của chúng sinh: Đây bác nông phu đang theo sau con trâu, nhễ nhại mồ hôi phơi mình dưới nắng
cháy, để đổi lấy bát cơm nộm cỏ, nọ có đám côn trùng vừa bị lật lên trên luống đất cày, bị chim chóc dành nhau ăn sống và lũ chim chỉ biết say sưa theo con mồi để nuôi sống, không hề để ý cái chết đang chực sẵn bên mình từ mấy chiếc nỏ của những đứa trẻ con. Cảnh tượng này đã giúp cho thái tử nhận rõ thêm sự sống là khổ.
Rồi tiếp những lẫn khác, Ngài được phép vua cha cho đi dạo ngoài thành, để quan sát dân tình. Lần ra cửa Đông, Ngài gặp một người già, lần ra cửa Nam, Ngài gặp một kẻ bịnh, lần ra cửa Tây, Ngài gặp một đám chết, đã để lại trong trí Ngài thêm những ấn tượng về sự đau già khổ chết của nhân sinh, thúc giục Ngài phải sớm tìm đường giải thoát.
Vì vậy tuy sống giữa cảnh diễm lệ huy hoàng, mặn nồng thương mến, thái tử vẫn thấy cô liêu, tâm chí không lúc nào rỗi mối ưu tư trước những câu hỏi chưa được giải quyết: “Làm sao thoát khỏi cái khổ: sanh, lão, bệnh, tử? Làm sao được tự tại an vui?” Thì bỗng một hôm nhân đi dạo cửa Bắc, thái tử gặp một vị Sa-môn, trong dáng điệu khoan thai nhắm lối Ngài đi tới. Thái tử dừng lại hỏi: “Ngài là ai? Ngài tu theo hạnh gì mà dáng điệu thong dong, phong tư đĩnh đạc?”. Vị Sa-môn đáp: “Tôi là kẻ Sa-môn, tu hạnh giải thoát, quyết dứt bỏ
mọi sự ràng buộc trần thế, mở rộng tâm tư cầu cho mình được giải thoát và phổ độ chúng sinh đều được giải thoát như mình”.
Lời giải đáp của vị Sa-môn lọt tai, như mở rộng con đường trước mặt thái tử mà từ lâu hằng mơ ước. Thái tử nhất quyết bước theo con đường đó. Về cung, thái tử xin vua cha cho đi xuất gia, nhưng vua Tịnh Phạn không cho. Thái tử yêu cầu vua bốn điều, nếu vua giải quyết thì Ngài sẽ hoãn sự xuất gia để ở lại lo chăm dân trị nước.
Bốn điều là:

  1. Làm sao cho con trẻ mãi không già.
  2. Làm sao cho con mạnh mãi không đau.
  3. Làm sao cho con sống mãi không chết.
  4. Làm sao cho mọi loài hết khổ.
Bốn điều mới lạ này làm vua bối rối, không thể giải quyết một điều nào cả.
Tất cả cố gắng của vua Tịnh Phạn để buộc thái tử khỏi xuất gia đều trở nên bất lực trước ý chí cương quyết của Ngài.
Nhưng Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái tử không vui: công chúa Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: “Một trở ngại (ràhu)

Đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra”. Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La hầu la).
  1. Đức Phật xuất gia
Vào giữa đêm trăng tròn tháng 2, trong lúc mọi người đang yên giấc, thái tử lén vào phòng nhìn vợ, nhìn con lần cuối rồi trở ra đánh thức Xa-nặc (Channa) bảo thắng ngựa Kiền-trắc (Kanthaka) rồi thầy trò ra đi không ai hay biết. Lúc ấy thái tử vừa được 29 tuổi. Ra khỏi thành, thái tử đi về hướng Đông Nam, thẳng đến bên kia bờ sông A-nô-ma (Anoma) dừng ngựa lấy gươm cắt tóc, cởi hoàng bào trang phục giao cho Xa-nặc, bảo trở về Ca-tỳ-la-vệ tâu lại vua cha để yêu cầu vua cha và công chúa Da-du-đà-la yên tâm để cho Ngài đi tầm đạo. Sau khi Xa-nặc trở về, thái tử đổi áo cho một vị đạo sĩ, rồi lần vào rừng khổ hạnh của các Bà-la- môn Bạt-già-bà (Bhrarnana). Khi thấy thái tử các người ấy vội vàng nghinh tiếp. Thái tử thấy họ tu theo nhiều lối khổ hạnh kỳ lạ, có người lấy lá vỏ cây làm áo, có người chỉ ăn hoa quả, lá cây, người thì ăn ngày một bữa, người hai ngày một bữa, có mấy người nhịn đói, có người thờ nước, thờ lửa, thờ mặt trời, thờ mặt trâng, người thì co một chân giang một tay lên trời, kẻ lại nằm trên chông gai... Thái tử hỏi họ tu khổ hạnh ép xác như vậy được kết quả
gì? Họ muốn làm Thiên vương hoặc Ma vương. Có kẻ muốn thần thông quảng đại. Thái tử nghe liền than: “Trên các cõi trời tuy vui sướng thật, nhưng hưởng hết phước lại phải sa đọa, trước sau vẫn chỉ nổi chìm trong bể luân hồi. Các ông nhẫn công kham khổ tu hành như thế mà rốt cục không khỏi quả báo thì vô ích lắm!” Thái tử không thỏa mãn với lối tu ấy, Ngài bèn từ giã ra đi và theo lời khuyên của họ, Ngài đi đến hai ông Bà-la-môn tên A-la-la (Alalakalama) và Ưu-đà-ca (Uddaka) ở gần thành Vương Xá nước Ma-kiệt-đà là hai vị nổi danh thuộc phái Số luận để hỏi phép tu. Ông A-la- la bảo Ngài: “Ngài muốn tu hành phải theo cách xuất gia, thề giữ giới hạnh, đi xin ăn đủ sống, áo quần thế nào cũng xong, ăn ngủ thế nào cũng được, tìm chỗ thanh vắng đi một mình, lánh xa lòng tham, lòng dâm, coi mọi cái ở thế gian như tro bụi, không ưa đắm giữ gìn. Phải tắm gội linh hồn bằng kinh kệ và chuyên nhập định. Lần lần được định Sơ thuyền, Nhị thuyền, Tam thuyền, Tứ thuyền rồi đến định Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ. Như vậy khi đặng định Bất dụng xứ, sinh về cõi trời Vô tưởng là đặng giải thoát. Định Bất dụng xứ tôi đã chứng được. Tu đến như vậy mới là giải thoát”.
Thái tử nghe lời tu tập ít lâu đã chứng tới định Bất dụng xứ (Vô sở hữu xứ) rồi hỏi ông Alala dạy
lối tu tiếp, nhưng ông không biết gì hơn nữa. Thái tử khen lối tu ông hay nhưng chưa rốt ráo nên Ngài từ giã đi đến nơi khác. Thái tử nghe đồn nhà đạo sĩ Lama là người giỏi nhất Ấn Độ. Sau khi ông chết, giáo đồ chúng lại cho người con trưởng tên Uất- đầu-lam-phất (Udraka-Rama-putra), thái tử vượt qua sông Hằng, tìm đến ông thầy để thọ giáo. Được ông dạy rằng: “Phàm người chấp nơi hình tướng sự vật hay nơi không hình tướng, đều là sai lạc cả. Vậy cần phải suy xét cho chín chắn, chỉ lãnh thọ cái thể nhiệm mầu của muôn sự vật, thì mới chắc đặng quả giải thoát cao nhất và sinh về cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng. Tôi hiện đang tu tập phép nhiệm mầu ấy”.
Thái tử nhập định một hồi đã chứng được định Phi tưởng, phi phi tưởng, nên hỏi ông Uất-đầu-lam-phất dạy thêm cho cái khác, Ông này trả lời: “Ngày xưa thân phụ tôi chỉ được chừng nấy”. Thái tử lại hỏi: “Ở cõi trời Phi phi tưởng còn có ngã hay không ngã? Nếu không ngã thì không nên nói Phi tưởng phi phi tưởng, còn nếu có ngã thì ngã ấy có biết hay không biết? Ngã ấy nếu không biết thì đồng cây đá. Ngã nếu có biết thì đồng có tâm phan duyên, đã có phan duyên thời có nhiễm trước, làm sao giải thoát được. Các ông chỉ mới dứt được thô kiết, không tự biết kiết sử vi tế đương còn, lại lầm
cho là rốt ráo giải thoát. Nên biết phải trừ sạch ngã và ngã tướng mới chơn giải thoát được”.
Lại một lần nữa, thái tử từ giã ông Uất-đầu-lam-phất, mà chỉ đi đến ông Ca-la. Nhưng ông này chỉ dạy những điều như ông trước, nên thái tử lại phải rời ông và đến ở tạm núi Bàn-đồ-bà thành Vương Xá.
Một hôm vào thành khất thực, gặp vua Tần-bà- sa-la (Bimbisara) vua thấy thái tử thì kính phục hết sức, khuyên thái tử trở về tục, đặng nhường ngôi báu. Thái tử không chịu, vua thỉnh cầu thái tử khi thành Đạo nhớ độ cho vua thoát khỏi luân hồi. Từ giã vua Tần-bà-sa-la, thái tử tìm đến rừng khổ hạnh, xóm Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela) ở phía Nam núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni-liên-thuyền (Nai ranjana) ngày nay gọi là sông Phalgu. Thái tử ở lại đó cùng tu khổ hạnh với 5 ông:
  1. Kondanna  (Kiều-trần-như hay Hỏa Khí, Giải Không).
  2. Bhaddya     (Bạc-đề hay Tiểu Hiền).
  3. Vappa          (Thập Lực hay Khởi Khí).
  4. Mahamana  (Mahanam hay Đại Sanh).
  5. Assaji            (Ác-bệ hay Bạc Sư, Mã Thắng, A-thuyết-thị).




 
Ròng rã tu khổ hạnh giữa rừng núi thâm u thỉnh thoảng bóng tối đêm dài gây nên trong Ngài nỗi niềm lo sợ. Để xua đuổi, thái tử đã tập quán tưởng theo kinh nghiệm của mấy người Bà-la-môn “Ngày là đêm, đêm là ngày”. Phương pháp này chỉ tạm thời bớt lo sợ lúc đầu, thái tử nghĩ rằng đó là một phép quán tưởng chối bỏ sự thật, phải quán tưởng “Ngày là ngày, đêm là đêm” mới khỏi sai lạc sự thật và mới hiệu nghiệm được. Quả vậy, sau khi Ngài đổi cách, mỗi khi thấy lòng mình nao nao sợ hãi, thì Ngài liền tiếp niệm tưởng ngày là ngày, đêm là đêm, tự nhiên cơn sợ biến tan.
Sau khi quyết chí tu khổ hạnh ép xác, thân thể gầy ốm, sức kiệt hơi tàn chỉ còn da bọc xương nhưng tinh thần vẫn không có gì thay đổi mới mẻ, Ngài đứng dậy không nổi nữa. Ngài vừa sửa soạn đứng dậy kinh hành thì liền bị ngã xuống bất tỉnh. Người chung quanh tưởng Ngài đã chết. Phút chốc Ngài suy nghĩ: “Không thể có một tinh thần minh mẫn trong một thân thể suy tàn, bạc nhược. Lối tu ép xác nhịn đói nhịn khát này chỉ đem lại cho Ta một thân thể yếu đuối. Đạo giải thoát ta vẫn chưa tìm được. Ta sẽ thọ thực trở lại và tiếp tục tìm Đạo bằng chính tự tâm Ta, bằng trí tuệ quán tưởng của Ta”.
Đương lúc đó tại xóm Tu-na-do-na, gần xóm Ưu-lâu-tần-loa có hai nàng mục nữ tên: Nan-đà
(Hỷ) và Bà-la (Lực) thường ngày hâm mộ hạnh đức thái tử, họ vừa nghe thái tử chịu ăn uống, liền đem thức ăn đến dâng cúng cho Ngài.
Nhóm ông Kiều-trần-như thấy thái tử chịu ăn uống, tưởng thái tử đã thối chí ngã lòng nên bỏ thái tử qua xứ Ba-la-nại (Bénarès) vào vườn Lộc giã cùng nhau tu khổ hạnh. Thái tử một mình rời xóm Ưu-lâu-tần-loa đi đến Ni-liên-thuyền cởi áo xuống tắm rồi lên bờ ngồi tại dưới gốc cây, tĩnh tâm nhiếp niệm. Lúc ấy trong xóm Ưu-lâu-tần-loa có nàng Tu-xà-đa (Sujata, Thiện sinh) con ông thôn chủ (thôn trưởng) đựng cháo sữa trong bát vàng đem đến cúng trả lễ vị thổ thần ở đó. Chợt trông thấy thái tử đang ngồi trầm tư mặc tưởng, nàng tưởng là vị thổ thần ứng hiện lên thành tâm cúng dường bát cháo sữa cho Ngài. Sau khi thọ thực, Ngài thấy thân thể khỏe mạnh, tinh thần kiện tráng, sẵn có chiếc bát vàng trong tay, Ngài liền quăng xuống sông Ni-liên-thuyền với lời ước rằng: “Nếu tôi có thể thành Đại giác thì cái bát này sẽ nổi trên sông và trôi ngược giòng”.
Quả thực khi cái bát được quăng xuống, thì đúng y như lời ước, khiến thái tử tin chắc mình sẽ thành một ngôi Đại giác. Trọn ngày đó Ngài vẫn tỉnh tọa bên sông Ni-liên-thuyền. Đến chiều Ngài rời chỗ này và nhắm núi Tượng Đầu đi đến, giữa
đường Ngài gặp người cắt cỏ tên là Tô-đế-gia (Sothiya) hiến cho Ngài 8 lọn cỏ tốt. Ngài nhận cỏ đem đến trải dưới cây Tất-bát-la (Pippala) trong núi Tượng Đầu, rồi ngồi kiết-già tề chỉnh, xây mặt hướng đông, thề rằng: “Nếu không đắc đạo thì dù thịt nát xương tan quyết không đứng dậy khỏi chỗ này". Thề xong, Ngài bắt đầu quán tưởng, đặc biệt chú ý tìm cho ra manh mối của kiếp luân hồi sanh tử. Suốt 49 ngày Ngài đã phát minh ra định luật 12 nhân duyên là nguồn gốc của sự thống khổ và Ngài phá trừ được nó nhờ một năng lực trí tuệ cao siêu để trở thành Giác ngộ. Suốt thời gian 49 ngày tu quán, biết bao nhiêu ma chướng trong ngoài xuất hiện quấy phá, quyết liệt nhất là đêm cuối cùng trước khi Ngài thành Đạo, bọn ma vương biết Ngài sắp thành Phật và đem Chánh đạo truyền dạy mọi người, chúng sợ không còn ai theo chúng nên họp nhau tìm đủ mọi cách phá hoại. Trước hết chúng dùng sức mạnh vũ lực, kéo cả đại đội binh mã với đủ cả vũ khí và sĩ tốt mặt mày hung tợn kéo đến cây Bồ-đề, chỗ Bồ-tát ngồi tu. Cùng lúc huơ mâu múa kiếm, chúng còn hô phong hoán vũ sa mưa gió ầm ầm nhưng Bồ-tát vẫn ngồi an nhiên bất động. Dùng vũ lực không thành, chúng liền dùng nữ sắc. Ma vương chọn ba nàng ma nữ kiều mỹ tên Ái-dục (Tanha), Tình-yêu (Arati), Tham ái (Raga) với hy

vọng thế nào cũng lôi cuốn được thái tử. Không dè sau khi chúng bày hết trò trêu chọc vẫn không làm Bồ-tát lung lay, còn bị Ngài quở cho mang bộ mặt xấu xí nhăn nheo chạy về. Bồ-tát đã thắng phục ma vương và thắng phục giặc phiền não trong nội tâm nên đầu canh một, Ngài dứt sạch dục lậu phiền não (Kamasava), chứng được Túc mạng minh (Pubbenivasa nusatinana) biết tất cả kiếp quá khứ của mình. Qua canh hai phá sạch hữu lậu phiền não (Tái sinh lậu: Bhavasava), chứng được Thiên- nhãn-minh (Cutusppatanana) thấy tất cả chúng sinh tạo nhơn quả trong thế giới lớn nhỏ trong vũ trụ. Cuối đêm, nhờ trí tuệ kiên cường, thấy rõ pháp Tứ đế dứt sạch phiền não vô minh lậu (Arjjosava), chứng được Lậu tận minh (Asavakkhayanana) diệt sạch nguồn gốc mê lầm.
IV. Đức Phật Thành Đạo
Đến khi sao mai vừa mọc Ngài hoát nhiên đại ngộ thành bậc Vô thượng giác. Ngài tuyên bố: “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà chẳng gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta đã tìm được ngươi rồi, ngươi không còn làm nhà được nữa. Bao nhiêu rui mè của ngươi đều gãy cả, kèo cột của ngươi tan vụn rồi. Trí Ta đã đạt đến vô

thượng Niết-bàn, bao nhiêu dục vọng Ta đều dứt sạch hết”. Quả đất rung động, trời người hoan ca. Lúc ấy Ngài vừa tròn 35 tuổi, nhằm ngày trăng tròn tháng Vesaka Ấn Độ.
Ngày nay ở phía Nam thành Bát-na (Patna) chừng 110 cây số có rừng Già-gia (Gaya), xa thành ấy 13 cây số có linh địa gọi là Phật-đà-già-gia (Buddhagaya) tức là chỗ đức Thích-ca thành Đạo.
Núi Già-gia tiếng Phạn là Gayasirsa, Trung Hoa dịch là Già-gia, Già-xà, Yết-xà, Khi-lị-xa, dịch nghĩa là Tượng Đầu sơn (chót núi như đầu voi). Từ khi đức Thích-ca thành Đạo tại đó thì chỗ ấy đổi tên là Phật-đà-già-gia. Còn cây Tất-bát-la, đổi tên là cây Bồ-đề (cây Giác ngộ), cây này đến nay vẫn còn.
Đức Thích-ca thành Đạo rồi, Ngài lặng im suốt bảy tuần lễ (có chỗ nói bốn tuần) để hưởng thọ Pháp lạc tối thượng của Đạo quả Niết-bàn mà Ngài vừa chứng ngộ. Trong lúc đó có hằng hà sa số vị Bồ-tát ở mười phương thế giới và chư Thiên đến chúc tụng cúng dường. Phật rất thương xót than rằng: “Lạ thay mọi loài chúng sinh đều có trí tuệ đức tướng Như lai, chỉ vì bị vọng tưởng vô minh che lấp không Giác ngộ được”, và ý tưởng sau đây đã hiện lên nơi Ngài:
“Giáo pháp Ta vừa chứng ngộ được rất cao siêu huyền diệu, thuần một tánh bình đẳng từ bi, vô ngã vô tướng, còn chúng sinh thì tánh vốn hẹp hồi ích kỷ, chấp ngã chấp pháp, dục vọng đầy dẫy, nghiệp chướng sâu nặng làm sao hiểu nổi. Nếu cứ đem Giáo pháp này ra truyền dạy thì chắc chúng sinh sẽ mơ màng không hiểu, không tin, không lãnh hội được, rồi trở lại hủy báng khinh rẻ, mang lấy tội lỗi đúng thương”. Phật nghĩ như vậy nên do dự chưa muốn đi thuyết pháp.
Bấy giờ Ma vương đã không quyến rũ được Phật trước khi đắc Đạo, lần này thấy Phật đang do dự việc hoằng dương Chánh pháp, nó chen vào yêu cầu Phật sớm nhập Niết-bàn an nghỉ bằng những lời lẽ giả trá: “Bạch Ngài, Ngài đã biết đường thoát thân sao Ngài còn chậm trễ ở cõi này? Ngài thổi đèn đi, làm cho ngọn lửa tắt đi, đã đến lúc rồi sao Ngài chưa nhập Niết-bàn? Chúng sinh ngu muội lắm không thể cứu độ được đâu”.
Nhưng Đức Phật trả lời: “Không, Ta chưa tắt ngọn đèn, Ta chưa nhập Niết-bàn đâu. Ta còn kiếm các đệ tử truyền đạo, để cho họ tiếp tục truyền cho người khác. Này Ma vương, Ta quyết dùng lời nói và hành động làm cho những kẻ can cường trở nên thuần hậu. Bao giờ người trần thế chưa gặp Phật,

bao giờ đạo Phật chưa phổ cập sự lợi ích ra đều, thời Ta chưa nhập Niết- bàn”.
Ma vương nghe nói hổ thẹn quay đi. Đức Phật đang ngồi dưới cây Bồ-đề thình lình có luồng gió mạnh thổi tới, kế đến một đám mưa đổ xuống lạnh lẽo thấu xương. Vua loài rắn Naga tên Mục-chân- lân-đà (Mucalinda) liền rời khỏi động lấy lốt mình quấn chung quanh Phật bảy vòng và giương cao bảy chiếc đầu che lên trên Ngài, nên trọn bảy hôm ấy Ngài không bị ướt lạnh gì cả.
Tiếp đó có đoàn xe năm trăm cỗ từ xứ Ukala (có chỗ ghi là Hastinpour) thuộc miền Nam chở hàng hóa lên miền Bắc vừa đến địa phận làng Ưu- lâu-tần-loa thì có nhiều xe trục trặc không đi được. Hai người lái buôn chủ đoàn xe tên Đề-lê-phú và Bạc-lê-ka (Tripussa và Bhallika) xuống xe rảo bước đi tìm nguyên do, bỗng trông thấy Phật đang tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ-đề, hào quang tỏa sáng như mặt trời ban mai.
Hai người đem lòng cung kính dâng Phật món ăn. Phật đang do dự tự hỏi phải làm thế nào để nhận món ăn cúng dường, thì bốn đại Thiên vương liền hiện đến dâng cho Ngài một cái bình bát bằng đá. Hai người liền để đồ ăn vào bình bát dâng Phật. Phật ban ít lời khích lệ và ban phúc lành cho họ bằng câu: “Ai bố thí đều được thu hoạch lợi ích.
Nếu vì vui bố thí, chắc sẽ được an vui”. Họ liền xin qui y Phật, Pháp. Phật thâu nhận họ làm đệ tử đầu tiên và cho họ ít sợi tóc và móng tay để làm kỷ niệm. Vua trời Phạm thiên (Brahma-Sahampati) thấy Phật đang do dự trong việc đi truyền đạo, hiện xuống cầu Phật mở rộng cửa chân trích cho chúng sinh nhờ.
Phật quán thấy căn cơ chúng sinh có kẻ hiểu đặng Pháp của Ngài liền, kẻ phải chờ một thời gian...
Như ánh sáng mặt trời chiếu vào đầm sen. Có những nụ sen đã vượt khỏi mặt nước để tiếp đón ánh kim quang, có những tược sen còn ngâm mình trong nước, còn ngó sen thì trầm dưới sình lầy tận đáy hồ. Chúng sinh có nhiều hạng giống như vậy. Đức Phật mĩm cười: “Ta sẽ nói Pháp, ai có tai hãy lắng nghe”.
V. Trên đường du hóa
Phật thuyết pháp lần đầu tiên: Phật quyết định đi truyền Đạo. Ngài liền nghĩ đến ông A-la-la và ông Uất-đầu-lam-phất là bực thông minh mau hiểu. Nhưng hai ông này đã qua đời rồi. Bây giờ chỉ có năm người là các ông Kiều-trần-như ... từng cùng tu khổ hạnh với Ngài trong mấy năm trước có thể đủ căn trí thọ lãnh Giáo pháp của Ngài thôi.
Phật liền thân hành đến xứ Ba-la-nại tìm năm ông ấy trong vườn Lộc dã (hiện nay là xứ Sarnats). Trên quãng đường độ 10 km từ Bồ-đề đạo-tràng đến thành Gaya, Đức Phật gặp một thầy Bà-la-môn tên là Ưu-ba-ca (Upaka). Ông này thấy dung mạo của Phật trầm tĩnh phong nhã liền đứng lại kêu hỏi: “Thầy của ông là ai?” Đức Phật trả lời: “Ta không có thầy và cũng không có ai bằng Ta. Ta là một vị Phật”. Ông Upaka ngạc nhiên nói lớn: “Không lẽ ông quá quắt đến nỗi tự xưng là một bậc Thánh nhân nữa sao?” Đức Phật đáp: “Chính Ta là bậc Thánh nhân, bậc Thầy tối thượng của thế gian”. Ông Upaka càng ngạc nhiên hỏi rằng: “Không lẽ Ông quá quắt tự xưng là một bậc Toàn thắng?” Phật đáp: “Thật vậy, Ta là đấng toàn Thắng, thắng tất cả những dục vọng trần tục”. Tới đây ông Upaka trở giọng trầm: “Thầy đi đâu mà vội vã vậy?” Phật đáp: “Ta đi đến Ba-la-nại, đem giáo pháp mới ra truyền giảng để thức tỉnh người đời”. Tốt lắm, tốt lắm! Thầy cứ đi đi.
Nói rồi đạo sĩ Ưu-ba-ca đi thẳng về hướng Nam, Đức Phật trực chỉ về hướng Bắc tới Ba-la-nại. Khi đến tại Chư Tiên Đọa Xứ (Isipatana) vườn Lộc đã, Phật thấy năm người đang tu khổ hạnh, liền dạy rằng: “Hình mà khổ lắm thì tâm dễ rối loạn, thân mà vui lắm thì ý buông lung. Chạy theo dục lạc hay ép
xác khổ hạnh đều chưa phải là lối tu chân chánh”. Rồi Ngài giảng tiếp pháp Tứ đế và pháp Vô ngã tướng cho họ nghe và cả năm người đều lần lượt chứng được quả A-la-hán, trở thành đệ tử xuất gia đầu tiên. Bấy giờ trong thế gian mới có đủ ba ngôi báu: Phật là Phật bảo, Pháp Tứ đế là Pháp bảo, năm vị Tỷ-kheo(l) là Tăng bảo. Lần khai đạo này gọi là Sơ chuyển pháp luân.
2. Phật độ ông Da-xá (Yasa): Thanh niên Da- xá, con duy nhất của một nhà triệu phú tại Ba-la- nại, gã đang sống một cuộc đời đầy hạnh phúc như một vị hoàng tử trong một tòa lâu đài cực kỳ sang trọng với một người vợ đẹp và một nhóm hầu thiếp. Bỗng đêm nọ thức giấc, chàng nhìn thấy người yêu của mình đang say mê trong giấc điệp, nằm sống sượt như thây ma ghê gớm nhờn nhã rồi chàng nghĩ đến cuộc đời mà lâu nay chàng chỉ có dạng bề ngoài mê hoặc, mà chàng quên tìm một lẽ sống cao thượng thích hợp với phẩm cách của người thiện trí thức. Nghĩ tới đó như có một sức mạnh vô hình thúc đẩy chàng mau mau tẩu thoát. Chàng liền mở cửa ra đi trên bước đường vô định. Chàng đến bờ sông Vanara, thấy nước cạn, cát
__________________________
(1)Năm vị này là bạn đồng tu khổ hạnh với Phật lúc trước (xem trang...).
phơi, chàng bỏ dép và xăn quần lội qua sông đến xóm Baranasi thuộc về ngoại ô thành Bénarès ở giữa hai ngọn rạch Banara và Asi, rất thanh vắng. Chàng gặp Đức Phật và 5 vị A-la-hán đang tĩnh tọa dưới gốc cây cổ thụ hào quang rực rỡ. Chàng mừng gặp được thánh nhân, liền đến quì lạy và xin thọ giáo. Đức Phật biết chàng đủ duyên lành, dạy bảo cho nghe và cho xuất gia làm Thiện lai Tỷ-kheo (Ehibhikkhu). Sáng ngày thấy mất chàng, cả nhà tuôn ra đi tìm kiếm và gặp chàng đã xuất gia tại nơi chỗ Phật. Cha mẹ chàng nghe Phật thuyết pháp được tỉnh ngộ bèn xin qui y Phật, Pháp, Tăng và thọ năm giới làm người cận sự nam và cận sự nữ chính thức đầu tiên trong Phật giáo.
Quyến thuộc của Da-xá là người thiện nam tín nữ đầu tiên chính thức qui y Tam bảo và thọ trì ngũ giới làm kẻ Ưu-bà-tắc (Upasaka) và Ưu-bà-di (Upasika).
Tin đồn Da-xá đi tu theo đạo Phật, 54 người bạn thanh niên trí thức của ông trong hàng Bà-la- môn, công khanh, vương tôn, và 4 trưởng giả thành Bénarès như Tỳ-ba-la, Tu-ba-hậu, Phú-lan-ra-ka, Già-đà-đạc-đề rủ nhau đến ra mắt Phật.
Nhờ Phật thuyết pháp đều được tỏ ngộ xin xuất gia theo Phật, tinh tấn tu hành, lần lượt kẻ trước người sau đều được đắc quả A-la-hán.
Sau 5 tháng khai đạo (gồm ba tháng kiết Hạ) tại Bénarès tính ra Đức Phật độ được 61 đại đệ tử xuất gia.
Mùa mưa vừa chấm dứt, Đức Phật nhóm các đệ tử bảo phải tách ra đi riêng từng vị, cùng khắp mọi nơi. Đem đạo giải thoát phổ cập cho nhân gian. Ngài dạy: “Nầy chư môn đệ, các thầy đã hoàn toàn giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, các thầy nên khởi hành chu du từ xứ này sang xứ khác, đem đạo giải thoát truyền bá cho tất cả chúng sinh. Vì lòng từ bi đối với đời, mỗi thầy tách ra đi một nơi, ban bố an lành hạnh, cứu độ chư thiên và nhân loại. Nhiều người sẵn có đạo tâm, nếu họ không nghe được giáo lý giải thoát của Như lai, họ sẽ sa đọa, bằng nghe được, họ sẽ thọ giáo với các thầy và sẽ liễu ngộ được chân lý”.
Phật độ 30 thanh niên nhạc sư: Sau khi giao phó nhiệm vụ hoằng pháp cho các vị đại đệ tử, Phật lên đường trở về Ưu-lâu-tần-loa. Chưa ra khỏi địa phận Bénarès, Ngài gặp một nhóm độ 30 thanh niên hớt hải chạy đến hỏi rằng: “Ngài có thấy một người đàn bà đi qua đây không?” Phật đáp: “Không thấy, các ông là ai?” Họ trả lời: “Chúng tôi là những nhạc sư đi từ thành này qua thành khác, thường biểu diễn những khúc nguyệt cầm cho các vua chúa nghe. Bữa này chúng tôi có dắt theo một
người đàn bà, đặng giúp vui cho chúng tôi. Trong lúc chúng tôi nghỉ bên lề đường ở đằng kia, người đàn bà đó ăn cắp đồ đoàn và trốn đi mất. Chính chúng tôi đang kiếm người đó”. Phật bèn hỏi: “Các anh đi kiếm một người đàn bà hay là các anh đi kiếm các anh, điều nào hay hơn hết?” Mấy vị nhạc sư nghe Phật hỏi lạ lùng như vậy thì ngó nhau mà cười vang.
Phật nói với người lớn hơn hết rằng: “Anh lấy nguyệt cầm biểu diễn một khúc nghe coi”. Vị nhạc sư lấy đờn khảy một khúc nhạc rất hay. Vừa dứt bản, Phật bảo: “Thôi các anh đưa cây đàn cho tôi”. Phật đàn một bản rất thâm trầm, tuyệt diệu, gió dường như ngừng lại để nghe, còn các vị thần ở trong rừng đều ra khỏi động.
Mấy vị nhạc sư rất kinh ngạc. Không dè trong nguyệt cầm sinh ra những tiếng lảnh lót như vậy. Khi Phật đàn xong, họ thưa rằng: “Bạch Ngài chúng tôi tưởng chúng tôi là tay thiện nghệ, bây giờ chúng tôi mới hiểu chúng tôi chưa hiểu những yếu tố đầu tiên của nghệ thuật. Vậy cầu xin Ngài dạy chúng tôi những điều Ngài biết” Phật nói: “Bây giờ các anh mới biết và các anh hiểu rằng các anh chỉ biết âm nhạc một cách sơ sài, nhưng mà các anh không chịu tìm học cái học thuật chân chính. Cũng thế các anh tưởng rằng các anh đã tự
biết các anh mà kỳ thực các anh chỉ biết các anh một cách mơ hồ. Các anh cầu xin Ta dạy những điều các anh chưa biết thế mà khi Ta bảo các anh đi tìm các anh thì các anh lại cười ầm lên”.
Các nhạc sư không dám cười nữa và thưa: “Bạch Tôn sư, chúng tôi đã hiểu rồi, chúng tôi sẽ đi tìm chúng” Phật gật đầu nói: “Được các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ dạy các ngươi đạo lý. Rồi cũng như vua Bát-ma-ca (Padmaka) hy sinh xác thân đặng cứu an bá tánh trong nước Ngài, các con sẽ dùng trí tuệ các con đặng cứu vớt quần sanh ra khỏi chôn trầm luân khổ ải”.
Các nhạc sư lẳng lặng nghe lời Phật thuật chuyện vua Bát-ma-ca và hoan hỷ đồng xin xuất gia theo Phật. Thầy trò vây đoàn trực chỉ đến rừng Ưu-lâu-tần-loa.
4. Phật độ anh em ông Ca-diếp (Kassapa): Đức Phật biết trong rừng Ưu-lâu-tần-loa có nhóm Bà-la-môn quan trọng, thuộc phái jatila thờ thần lửa do 3 anh em ruột ông Ca-diếp cầm đầu. Ba ông chiếm cứ một vùng dọc theo bờ sông Ni-liên, ẩn dật dưới những chùa tranh với rất nhiều đệ tử và súc vật, chuyên tu khổ hạnh và thờ cúng thần lửa, đã nổi tiếng thông suốt các khoa thần học, giỏi cả triết học văn chương, lại có nhiều thần thông phép lạ, nên được dân chúng cảm mộ rất nhiều.
Muốn cảm hóa ba nhóm này không phải là chuyện dễ, bởi vì thuyết Vô ngã của Phật trái ngược chủ thuyết hữu thần của họ. Vả lại 3 ông này là người rất tự tín tự cao, thấy không ai hơn mình được, Đức Phật khôn khéo đến xin tá túc với người anh cả, được ông nhận lời. Nhưng trong lúc ở chung ông biết Phật là một Sa-môn trẻ tuổi được dân chúng ở vùng lân cận sùng tín, ông đem lòng ngờ vực Đức Phật là một đối thủ nguy hiểm. Thấy không dùng lý trí để thắng phục một người đầy lòng tự tín và kiêu mạng, Phật dùng đến phép thần thông. Sau khi đã chuyển nhiều phép lạ, vẫn chưa thắng phục được lòng sùng kính của ông Ca-diếp, Phật lại xin ông cho vào ngủ trong ngôi nhà thờ cúng thần lửa, ông thành thật khuyên Ngài chớ dễ ngươi, vì nơi ấy có con rồng dữ tợn nguy hiểm, Đức Phật cố nài nỉ xin được, cho vào đến nơi, quả thật con quái vật hiện ra phun lửa, Phật liền phóng hỏa quang tam-muội đối lại, làm con ác long phải quy phục. Phật bắt nhốt vào bình bát đem ra cho thầy trò ông Ca-diếp xem. Chừng ấy ông mới nhìn nhận tài năng siêu việt của Phật và xin theo làm đệ tử.
Trong khi nhiệt tâm theo làm đệ tử Phật, cả ông và 500 đệ tử ông khuân liệng tất cả y phục và đồ thờ thần lửa xuống sông Ni-liên. Hai em ông Ca-diếp ở phía hạ lưu trông thấy đồ đạc thường
dùng của anh mình trôi bềnh bồng giữa dòng, hốt hoảng cùng nhau kéo 500 đồ đệ đến tiếp cứu, giữa đường gặp anh mình và bọn đệ tử đã xuất gia theo Phật, hai ông Ca-diếp em và 500 đệ tử cũng đồng xin thọ giáo làm Tỷ-kheo luôn. Phật họp cả nghìn người lên trên núi Già-đồ thuyết pháp cho họ nghe, nói về tham dục mà Ngài ví nó là ngọn lửa đốt cháy tâm can, người nào tu đạo phải dập tắt cho hết mọi thứ lửa tham dục. Lần thuyết pháp này là lần thứ 3 từ khi đắc Đạo, gọi tên là thuyết pháp về lửa cháy (Aditta payâya). Các nhà bác học Tây phương có khi gọi là bài kinh thuyết pháp trên núi [trong Tăng Chi Bộ kinh] (có ý so sánh với chuyện Cơ-đốc cũng có một lần thuyết pháp trên núi vậy).
Phật độ vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara - Bình Sa Vương): Rời khỏi Ưu-lâu-tần-loa, Phật cùng với chúng đệ tử trên 1000 người đi thẳng tới thành Vương-xá kinh đô nước Ma-kiệt-đà là nơi phong phú, dân cư đông đảo. Tin Phật vào thành, nhân dân trong thành hoan nghênh nhiệt liệt, cả các trời Đế Thích (Indra) từ trên trời xuống hiện hình ở đó. Vua Bình-sa nghe tin Phật đến tự xuất quan quân ra tận ngoài thành nghinh tiếp. Vua thỉnh Phật và chúng Tăng vào cung cúng dường. Phật giảng đạo cho vua nghe, nghe xong Vua phát nguyệt quy y theo Phật và xin thọ 5 giới. Sau đó Vua dâng cúng
Phật vườn Trúc (Veluvana) rất rộng rãi để làm tinh xá (Vihara). Từ khi nơi này biến thành tinh xá, Phật và đồ chúng đã có nơi trú ở hẳn hoi nên thường về đây luôn, nhà vua hết sức bảo hộ và tín đồ đến xin thọ giáo mỗi ngày một đông.
5. Phật độ ông Xá-lợi-phất và ông Mục- kiền-liên: Trong số người mới được Phật độ tại Vương-xá (Rajagaha) có hai ông Xá-lợi-phất (Sari-puta Oupatisa) và ông Mục-kiền-liên (Moggalyana Kolita) là hai đệ tử trứ danh về sau này gọi là hữu thủ (cánh tay mặt) và tả thủ (cánh tay trái) trong việc trợ giúp Đức Phật để thuyết pháp độ sanh, phá tà hiển chánh.
Xá-lợi-phất có tiếng là trí huệ đệ nhất và Mục-kiền-liên có tiếng là thần thông đệ nhất. Cả hai ông đều thuộc dòng Bà-la-môn, nhà giàu có, tài trí hơn người và kết bạn thân với nhau. Một hôm nọ, hai ông rủ nhau đi dự một cuộc lễ vui nhộn như chợ phiên. Giữa lúc thiên hạ vui mừng ăn lễ, ông Xá- lợi-phất lại nảy sinh trong trí óc một ý tưởng lạ thường “Trong vòng 100 năm nữa, đám đông có mặt tại đây lại hóa ra người thiên cổ. Không nhận thức là mình đang đi đến chỗ chết, nhóm người này thản nhiên vui say theo trò chơi thế sự; thật đáng thương, đáng buồn cho họ”. Ông Xá-lợi-phất liền tỏ ý ấy cho bạn mình nghe, ông Mục-kiền-liên cho
biết rằng ông cũng đương suy nghĩ như thế và đang bối rối trước cảnh phù phiếm nhân sinh.
Hai ông liền rủ nhau đi học đạo và tìm đến thụ giáo với đạo sĩ Sằn-dạ-da (Sanjaya) thuộc nhóm lục sư danh tiếng đang tu luyện ở kế cạnh với 250 đệ tử. Khi nhận biết học thuyết của đạo sĩ này không thích hợp với trình độ mình, hai ông quyết chí đi tìm vị minh sư chính đáng. Họ cam kết với nhau hễ ai gặp được minh sư trước thì mau mau đến báo tin lại cho người kia biết.
Vào một sáng sớm trong lúc ông Xá-lợi-phất đang bước theo chí nguyện tầm sư học đạo, bỗng gặp Ngài Tỷ-kheo A-va-ri (Ajvaji: Ác-bệ, Mã Thắng, A-thuyết-thị) đang đi khất thực tại thành Vương Xá, ông tiến lại gần chào hỏi:
“Bạch Ngài! Chẳng hay Ngài nương nơi sự hướng dẫn của ai mà được một tinh thần tự tại biểu lộ ra ở dáng điệu ung dung như thế? Tôn sư của Ngài là ai? Ngài theo giáo pháp của ai?
Ngài A-va-ri đáp, này ông bạn, Thầy của tôi là vị Đại Sa-môn thuộc dòng Thích-ca, là người đã hoàn toàn giải thoát. Chính nhờ sự hướng dẫn của Ngài mà tôi được xuất gia thoát tục. Tôn sư của tôi chính là Đức Phật Gotama.
“Bạch đại đức, Tôn sư của Ngài nói những gì? Dạy điều gì?”
“Này bạn, tôi chỉ là một đệ tử sơ cơ, xuất gia chưa được bao lâu, tôi không thể trình bày trọn cả giáo pháp của Thầy tôi cho bạn được, chỉ xin tóm tắt những điều cốt yếu như sau:
“Các pháp nhân duyên sanh,
Pháp ấy là nhân duyên,
Pháp ấy nhân duyên diệt,
Đại sư nói như vậy. ”
Ông Xá-lợi-phất vừa nghe dứt lời, tâm liền mở ngộ, lật đật về báo tin cho Ngài Mục-kiền-liên hay. Hai vị liền từ giã thầy Sằn-dạ-da và kéo theo hết cả số đệ tử đến Trúc Lâm tinh xá ra mắt Phật, được Phật độ cho xuất gia và sau đều chứng quả A-la-hán.
7. Phật độ ông Cấp-cô-độc và vua Ba-tư-nặc: Trong khi Phật còn ở thành Vương Xá có một nhà trưởng giả ở nước Kiều-tất-la (Kosala) tên là Tu-đạt-đa (Sudhatta) người giàu có, nhân đức, hay chẩn cấp cho kẻ nghèo nàn, nên dân chúng thường gọi là Cấp-cô-độc (Anatha-pindika) nghe tiếng Phật bèn đến mời Phật về thành Xá-vệ (Savatthi) là kinh đô nước Kiều-tất-la để hóa đạo, được Phật nhận lời. Ông liền về nước cùng thái tử trong nước tên là Kỳ-đà (Jeta) kiến tạo một tinh xá (Vihara) đẹp đẽ dâng Phật, gọi là Kỳ Viên tinh xá (Jetavana).
Kỳ viên tinh xá là nơi Phật thường ở, dù đi thuyết pháp đâu rồi cũng hay về đây. Song Phật
bình sinh vẫn không ở nơi nào nhất định. Chính ngay ở Xá-vệ, Phật cũng còn ở một nơi nữa gọi là Đông-viên (Purvarama) của một tín nữ tên là Visakha dâng cúng. Phật đến Xá-vệ thiên hạ xem đông lắm. Vua Ba-tư-nặc cũng như vua Tần-bà-sa- la cùng sinh một ngày với Phật, nghe nói có Phật đến cũng chưa tin, vì không ngờ rằng người còn trẻ thế mà đắc Đạo, bèn thân hành đến xem và chất vấn về đạo. Phật thuyết pháp cho vua nghe, giải bày cho vua rõ, bài thuyết pháp ấy gọi là Thiếu niên kinh hay là Gương thiếu niên (Dahara sutrakumar drienatantasutra). Hai vị vua này cảm kích thấy Ngài cũng là dòng họ vua lại dám hy sinh ngôi báu xuất gia và đắc Đạo, còn sống một cuộc đời thanh đạm, theo đuổi công việc tế độ quần sinh, nên hết sức kính phục và nhiệt thành ủng hộ trong việc hoằng hóa.
Uy danh của Phật càng lan rộng, bao nhiêu thanh niên giàu có phát tâm xuất gia theo Ngài khiến trong dân chúng có sự đố kỵ phiền trách, cho rằng Đức Phật đã quyến rũ người đi tu làm tổn thương đến gia đình sự nghiệp họ, nên Ngài đặt ra một điều kiện để hạn chế sự thâu nhận kẻ xuất gia, bảo toàn uy tín của giáo đoàn Tăng lữ: Như những người có bệnh nan y, truyền nhiễm, kẻ sát nhân, kẻ có tiền án và những người về sự xuất gia của họ
làm tổn thương đến quyền lợi kẻ khác như: người đầy tớ, những quân nhân quan chức, kẻ trốn nợ, đều không được thâu nhận vào hàng Tỷ-kheo. Các thanh thiếu niên muốn xuất gia phải có cha mẹ cho phép và bảo đảm tánh hạnh.
Khi những điều kiện này được Phật ban ra thì mọi người đều thỏa mãn.
8. Phật độ ông Đại Ca-diếp (Mahakassapa): Ông Đại Ca-diếp là người đại thông minh lại giàu có, sự nghiệp chẳng thua gì vua Tần-bà-sa-la. Song vốn có lòng cao thượng, chẳng ưa chuyện ái tình lục dục, ông xin đến thọ giáo và xuất gia theo Phật, về sau trở thành một vị đệ tử có uy tín lớn trong Giáo hội. Chính Ngài là người được Phật đối đãi như bạn thân, chia nửa chỗ ngồi cho Ngài (kinh số 1142 Tạp A-hàm) và được phú chúc y Cà-sa, truyền tâm ấn để làm vị Sơ tổ tại đại hội Linh sơn. Vì vậy sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Ngài đảm nhận nhiều trọng trách: Chủ tọa lễ Trà-tỳ Đức Phật và chủ tọa Đại hội kiết tập kinh điển lần đầu tiên tại thành Vương Xá.
9. Phật độ gia đình: Thanh danh của Đức Phật vang dội từ nước Ma-kiệt-đà đến thành Ca-tỳ-la- vệ. Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) hay tin con mình đắc Đạo và hiện đang ở gần thành Vương Xá
(Rajagaha) trong vườn Trúc Lâm. Vua liền phái sứ giả đi thỉnh Phật về. Chín lần phái sứ giả đến là chín lần mất dạng. Họ đến nhằm lúc Phật đang giảng đạo cho đệ tử, Ngài dạy: “Có một rừng kia ở bên triền núi, phía dưới có một cái hồ rộng và sâu, gần mé hồ có nhiều thú rừng ở nối nhau từng đoàn. Một người nọ đến đó muốn hại và trừ tuyệt các con thú ấy bằng cách lấp đường mòn và trổ một ngõ khác, dẫn tới một cái hầm thối tha ghê rợn, cố ý không cho đàn thú sống quanh quẩn bên hồ. Nhưng có một người khác đi lại, người này muốn săn sóc cứu giúp các thú, bèn phá cái đường thông đến hầm nước thối và làm một con đường khác chắc chắn đưa đến đỉnh núi cao. Bầy thú không còn bị hại, lần lượt lên núi sống yên lành”.
Này các thầy Tỷ-kheo! Các thầy hiểu ý Ta chăng? Cũng như đàn thú ở gần hồ rộng và sâu kia, nó quên mọi sự nguy hiểm, con người cũng vậy, chỉ quanh quẩn bên sự dục lạc vui sướng, kẻ toan làm hại, làm tổn, làm nguy cho họ là Ma vương. Cái hầm thối tha nơi ấy các thú sẽ nhào xuống chết là bị sự mê dục, tham muốn và vô minh của loài người. Còn người kia muốn cho mọi vật được an vui là đấng từ bi, là Phật vậy.
“Này các thầy Tỷ-kheo, Ta đã mở ra con đường chắc chắn, Ta đã phá mất con đường tà bậy.
Các thầy theo Ta sẽ không lạc xuống hố sâu, các thầy sẽ đi lên đỉnh núi sáng rực”.
Các sứ giả lần lượt nghe Phật giảng sinh lòng hân hoan, đều xin Phật xuất gia nhập vào hàng đệ tử. Đức Phật gọi họ: “Lại đây, hỡi thầy Tỷ-kheo, Chánh pháp đã truyền dạy, thầy hãy sống theo Chánh pháp đã truyền dạy để diệt tận nguồn khổ”. Vừa dứt lời râu tóc họ sạch trọi, y phục trở thành y phục Sa-môn màu vàng. Họ đã quả thực thành thầy Thiện lai Tỷ-kheo (Ehi Bhikkhu) trong Tăng đoàn, quên mất nhiệm vụ của họ là đến mời Phật về.
Vua Tịnh Phạn nóng lòng trông đợi bọn sứ giả, nhưng đều mất tích. Lần thứ mười, vua phái Ưu-đà-di (Udayi) một vị trung thành của triều đình và là bạn thân của Phật khi Ngài chưa xuất gia đến mời Phật về. Khi đến Trúc Lâm, Ưu-đà-di dầu đã ngã lòng theo đạo lý, song vẫn còn nhớ thỉnh Phật về. Được Phật nhận lời, Ưu-đà-di về trước báo tin, thành Ca-tỳ-la tưng bừng chờ đón. Đức Phật cùng Tăng chúng lên đường, từ thành Vương-xá đến thành Ca-tỳ-la-vệ trải qua 60 ngày ròng rã.
Khi đến nơi Phật và chư Tăng dừng chân nơi vườn thượng uyển của vua cha, tên vườn là Cây Đa (Nigrodha) thuộc ngoại ô hoàng thành.
Vua Tịnh Phạn nghe tin vội vàng xe giá đến đón. Vừa đến nơi, Vua thấy Phật đầu để trọc, mặc
áo Cà-sa, tay cầm bình bát để xin những thức ăn của bọn cùng dân hạ tiện thì nổi giận đùng đùng “Này Siddhatta, có đời nào một vị thái tử như con, sắp nối ngôi ta trị vì một đại quốc lại ăn mặc tầm thường và sống nhờ vào đám cùng dân Palia như thế? Ta tưởng sau chín mười năm bỏ cung điện ra đi, chịu mọi điều gian lao khổ cực, lần này con sẽ trở về một cách oai phong lẫm liệt cho xứng với lòng mong đợi của ta, của triều đình, của muôn dân mới phải, có ngờ đâu, con lại trở về một cách tầm thường như một kẻ đói cơm rách áo, làm ô nhục dòng họ của nhà ta đến thế?”
Đức Phật hiền từ giảng giải cho vua rõ: “Đây không phải con làm nhục giòng giống nhà vua, được truyền nối theo khí huyết thế gian, nhưng con làm theo tục lệ giòng giống của các bậc Đại giác xuất thế gian, được truyền nối bằng Giác ngộ và Từ bi. Xưa và sau này chư Phật làm thế nào, bây giờ con làm thế ấy”. Vua Tịnh Phạn sửng sốt nghe lời Phật giảng vừa cao xa vừa lạ lùng thì dịu dần cơn giận, vui vẻ rước Phật về cung.
Sau những ngày lưu lại hoàng thành, Phật đã lần lượt độ cho cả hàng ngàn người trong hoàng tộc vừa tại gia vừa xuất gia. Trong số tại gia cư sĩ có ba vị hoàng thúc, bà dưỡng mẫu Kiều-đàm-di (Gotama), công chúa Gia-du-đà-la, trong số xuất
gia có hoàng tử La-hầu-la (Rahula), hoàng đệ Nan- đà (Nanda), ba người anh con chú là A-nan-đa (A- nan-da), Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), A-nậu-lâu-đà (Anurudha) và Ưu-ba-li (Upali), một người thuộc giai cấp hạ tiện.
10. La-hầu-la (Rahula) xuất gia: Công chúa Gia-du-đà-la biết Phật không còn nghĩ tới ngai vàng của thành Ca-tỳ-la-vệ nữa mới thầm giục La-hầu-la đến trước Phật xin truyền lại sự nghiệp. Thừa lúc Phật vào đến thọ thực xong, La-hầu-la lại gần Phật thỏ thẻ xin Phật truyền lại sự nghiệp. Phật hoan hỷ nhận lời và vỗ về bảo: “Này con La- hầu-la, con hãy đi theo Như lai đến vườn Cây-đa, Như lai sẽ truyền cho con một sự nghiệp vĩ đại mà Như lai đã dành sẵn cho con”. Nghe Phật dạy, La- hầu-la hớn hở chạy theo. Khi về tới nơi tạm trú, Phật liền giao phó cho Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm lễ thế phát cho xuất gia làm Sa­di (Samanera). La-hầu-la vui vẻ sống đời xuất gia bên Phật, còn công chúa Gia-du-đà-la cũng thuận theo chí nguyện của con mình.
11. Nan-đà (Nanda) xuất gia: Hoàng tử trẻ trung tuấn tú Nan-đà là em cùng cha khác mẹ với Phật, người duy nhất còn lại để nối nghiệp cho hoàng triều.
Ngày nọ, nhằm ngày Nan-đà làm lễ sánh duyên cùng công nương mỹ miều Tôn-đà-lị (Janapada Kalyana) và tôn phong làm đông cung thái tử. Hôm đó Phật khước từ không vào đền thọ thực, đợi lúc vừa rước dâu về, Ngài mang bát đi ngang qua trước hoàng thành. Nan-đà trông thấy vội đến thỉnh vào, Phật không vào, Nan-đà rước lấy bát đem đựng thức ăn, trở lại dâng bát cho Phật, Phật không thâu bát, chậm rãi quay bước về vườn Cây-đa. Nan-đà đi theo năn nỉ, bất chợt nghe Phật về đến vườn. Đến nơi Phật đem những lợi ích tối thượng của đời sống xuất gia giảng cho Nan-đà nghe, so sánh hạnh phúc chắc chắn của bậc ly trần với hạnh phúc giả tạm của kẻ bị cột trói trong gia đình chật hẹp, khuyên em nên noi gương mình để tìm đạo giải thoát, Niết- bàn. Nan-đà xiêu lòng, chiều theo xuất gia. Nhưng khi đã mang lốt thầy tu vào mình, lại cứ đêm ngày nhớ tới người vợ đẹp mới cưới, cố tìm đủ cách trốn về mà không được. Phật dùng thần thông đưa Nan-đà đi lên Thiên cung, đi xuống địa ngục chỉ cho thấy cảnh giới vui khổ khác nhau của định luật nhân quả, để khuyên chuyên tâm tu hành. Cuối cùng Nan-đà đã dứt được lòng ân ái, quyết chí tu hành và chứng thành A-la-hán.
Dòng Thích-ca toàn là những võ tướng vô địch, khi hấp thụ được giáo huấn của Phật đã trở nên

hiền từ đạo đức, thà chịu thiệt hơn dùng bạo lực, để tránh gây nghiệp báo oan khiên. Sau 4 tháng ở quê nhà, Đức Phật từ giã vua cha và quyến thuộc sang kinh thành Xá-vệ (Savathi) xứ Kiều-tất-la (Kosala) của vua Pasénadi (Ba-tư-nặc).
Tại Xá-vệ có một đại phú gia tên là cấp Cô Độc (Anathapindika) trước đó đã có đến thành Vương Xá (Rajagaha) buôn bán nhiều lượt và đã may mắn nghe Phật thuyết pháp, ông trở nên một tín đồ mộ đạo, ông quyết tâm thỉnh Phật đến Xá-vệ giáo hóa. Phật nhận lời nhưng ở đó không có chỗ đủ dung Tăng chúng, ông nguyện về lập tinh xá và thỉnh Ngài Xá-lợi-phất cùng đi để chọn chỗ. Tại thành Xá-vệ ông đã đem vàng để mua số đất của thái tử Kỳ-đà (Jeta) mà không tỏ vẻ luyến tiếc, làm cho thái tử này cũng phát tâm cúng dường luôn những cây cối còn lại, cùng ông tạo nên tinh xá đẹp đẽ gọi là Kỳ Hoàn tinh xá (Jetavana) hoặc Cấp Cô Độc tinh xá (Anatha-pindikavihara) là một nơi thắng cảnh đẹp nhất, thuận tiện cho sự tu hành và hóa đạo, vì vậy dù đi thuyết pháp ở đâu rồi Phật cũng thường về lưu trú và thường kiết hạ tại đó.
Phật độ Bà Visakha: Cũng như ông Tu-đạt (Cấp Cô Độc), bà Ỵisakha, một người giàu có phúc hậu đã phát tâm theo Phật và tận lực ủng hộ Ngài
suốt thời gian Ngài giáo hóa tại đây. Chính bà đã cúng Phật nơi Đông viên để tạm trú.
Tiếng đồn của Phật đi khắp xứ, thiên hạ đến xin quy y thọ giáo mỗi ngày mỗi đông làm cho bọn ngoại đạo tà sư đâm ra ganh tỵ, họ mưu sự mượn một người con gái nhan sắc mặn nồng tên là Cinca đến phá Phật. Cứ mỗi lúc giữa thiện tín đi nghe Phật thuyết pháp tại Kỳ Viên thì cô nàng xiêm áo lòe loẹt, tay cầm hoa thơm đi ngược chiều hướng tới Kỳ Viên, rồi cứ tản sáng khi thiện tín đi đến tinh xá yết kiến Phật thì cô ta lại ngược chiều trở về. Liên tiếp mấy tháng cô ta cứ thi thố một cử chỉ khả nghi như vậy. Một buổi chiều nọ, lúc Đức Phật đang ngồi trên bảo tọa thuyết pháp, cô Cinca vào đứng trước Phật kêu to: “Này ông Đại Sa-môn, ông giảng đạo lý cho mọi người thật là ngọt ngào dễ thương, nhưng đối với tôi vì ông mà phải mang thai, nay gần ngày sanh nở mà không thấy ông để ý sắp sửa cho tôi một nơi ăn nằm cần thiết”.
Đức Phật ngưng cuộc thuyết pháp trông ngay nàng Cinca và nói rằng: “Này cô em, những lời cô em vừa thổ lộ đó, thật hay giả, chỉ có cô em và Như lai biết thôi”. Nàng Cinca cũng bình tĩnh trả lời: “Thật vậy Sa-môn, chỉ có đôi ta mới thấu rõ sự tình này”. Nàng vừa dứt lời thì một khúc gỗ hình bán cầu từ nơi bụng nàng thình lình rớt xuống đè
dập cẳng nàng. Mưu gian bại lộ, mọi người xúm lại trách mắng. Phật liền khuyên ngăn hãy dung thứ và thương hại cho kẻ tội lỗi. Nàng Cinca hổ thẹn chạy khỏi tinh xá, bỗng sẩy chân rớt sập xuống hố sâu rồi chết vùi lại tại đó. (Mười ba thế kỷ sau Ngài Huyền Trang đến Xá-vệ còn thấy cái hố chôn nàng Cinca).
Bọn tà sư chưa chịu bỏ ý định hại Phật, họ mướn kẻ côn đồ bóp họng một cô gái tên là “Người Đẹp” (Sundari) rồi lén đem thây vùi dưới đống hoa héo gần biệt thất của Phật. Mặt khác họ đi khai báo với nhà chức trách là cô Sundari đã bị mất tích và phụ lực với nhà chức trách đi tìm. Họ đến đống hoa tươi lấy xác cô Sundari và tri hô vu cáo cho Phật vào tội dâm và sát nhân để phi tang. Trong lúc nhà chức trách đang điều tra, bọn côn đồ dành chia nhau số tiền thưởng, cãi cọ rồi tự tố cáo thủ phạm. Kết cuộc cả bọn đều phải đền tội trước công lý. Một lần nữa hàm oan của Phật được minh giải. Dùng kế mỹ nhân bị thất bại, bọn tà sư lại phô trương pháp luật, nhưng rốt cuộc đều phải hàng phục trước oai thần của Phật. Tâm tiểu nhân vẫn trở lại với tiểu nhân, tâm Đại giác thì luôn luôn trở về với bậc Đại giác.
Phật độ chàng Vô Não (Angulimala: Ương-quật-ma-la): Tại Xá-vệ có chàng Vô Não,
sau khi cuồng tín theo tà giáo, chàng trở nên một kẻ sát nhân, gây khủng khiếp cho dân bản xứ. Vì nghe lời dèm xiễm của vợ và các bạn chàng, thầy chàng bảo tìm giết 100 người cắt lấy ngón tay mang vào cổ đem về ông sẽ truyền phép nhiệm mầu cho. Theo lời thầy dạy, chàng đến rình một nơi hẻo lánh hoặc ở mé rừng, hễ ai đi lẻ loi đều bị chàng giết chết. Chàng đã giết được 99 người rồi, còn thiếu một người nữa để giết thì gặp mẹ chàng đi tới. Chàng xông xáo chạy tới định giết, thì thình lình Đức Phật ở đâu hiện tới, chàng liền đổi ý không giết mẹ để chạy theo Phật hạ sát Ngài. Chàng chạy như tên bay mà không kịp. Tức mình chàng kêu to: “Kìa ông Sa-môn, sao ông không dừng chân lại?” Đức Phật ngoái lại đáp: “Này Vô Não, Như lai dừng bước đã lâu rồi chỉ có người chưa chịu dừng bước đó thôi”. Vô Não lại hỏi: “Ông nói ông đã dừng bước, sao tôi chạy theo mãi vẫn không kịp. Ông là người nói dối”. Phật đáp: “Như lai đã dừng bước trên con đường tội lỗi, Như lai đã bỏ hết gươm giáo từ lâu rồi”. Vừa nghe được bấy nhiêu lời, Vô Não chợt tỉnh mộng điên cuồng, hối ngộ ăn năn, liệng dao quỳ lạy trước Phật, xin Phật ra tay tế độ. Phật liền vỗ về an ủi, giải thích cho Vô Não rằng: “Kiếp trước đã dày công tu hành và có duyên lành gặp Phật pháp. Nếu Như lai

không đến sớm cứu ngươi, thì ngươi đã phạm tội giết mẹ. Với cái đại tội ngỗ nghịch đó, ngươi phải sa vào vô gián địa ngục, biết đời nào chuộc cho xong. Phật giảng xong, dắt Vô Não về tinh xá Cấp Cô Độc cho xuất gia làm Tỷ-kheo.
14. Phật thuyết pháp cho Thánh mẫu Ma Da tại cung trời Đao-lợi: Sau khi thắng bọn lục sư ngoại đạo thì mùa mưa lại đến, Phật lên kiết Hạ tại Cung trời Đao-lợi, thuyết phẩm Vi diệu pháp cho thân mẫu Ma-da và Chư thiên nghe. Ba tháng sau, Ngài trở lại nhân gian tại thành Sankasya Ấn Độ, một nơi xa xăm về hướng Tây Xá-vệ, hoàn toàn thuộc ảnh hưởng Bà-la-môn giáo. Trên 200 năm sau vua A-dục có đến thăm tận nơi và chiêm bái, xây tháp kỷ niệm đặt tên là Sankissa, hiện nay vẫn còn di tích.
Trở lại nhân gian, Phật lần lượt đem Pháp mà Ngài đã thuyết tại Cung trời Đao-lợi giảng lại cho chư Thanh văn, La-hán nghe. Pháp ấy dạy về tâm lý, danh sắc và Niết-bàn, rất cao siêu vi diệu nên gọi là Vi diệu pháp (Abhidhamma, A-tỳ-đạt-ma, Vô tỷ pháp, Đối pháp). Sau lại được chép trong tạng thứ 3 gọi là Vi diệu pháp hay Tạng luận (có chỗ ghi Đức Phật lên Cung trời trong hạ thứ 7, có chỗ nói hạ thứ 6).
15. Phật độ gia đình Cấp-cô-độc: Từ Kankasya trở về Xá-vệ, tại đây Ngài có dịp tế độ gia đình ông Cấp-cô-độc. Nguyên ông này có một người dâu tên Sujatà (Charasumhà) vốn theo tà giáo hay gây gổ trong gia đình, hỗn đấu với chồng con. Ngày nọ ông thỉnh Phật về thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Phật kêu nàng Sujatà đem đạo lý khuyên giảng, nêu 7 hạng người vợ để dạy nàng hiểu về tư cách làm dâu, làm vợ, để tìm cội phúc hiện tại và tương lai. Nhờ vậy nàng trở thành một người dâu thảo, vợ hiền và một tín nữ nhiệt thành.
Mặt khác ông cấp Cô Độc lại có người con gái tên Ngọc Gia Nữ rất đổi khổ tâm vì phải làm dâu trong một gia đình tà kiến. Mỗi ngày nàng phải lo đủ lễ phẩm cho cha mẹ chồng dâng cúng đến các đạo sĩ lõa thể. Tuy vậy mà lòng tin Phật của nàng không thay đổi. Ngày nọ các đạo sĩ được mời về nhà thọ thực, cha mẹ chồng bắt nàng phải lễ bái chào mừng họ. Vừa bước ra, cửa thấy các đạo sĩ trần truồng dơ dáy, nàng bụm mặt trở vào và tỏ ý khinh bỉ. Cha chồng nổi giận, quở mắng nàng thậm tệ. Nàng trả lời: “Thưa cha, con chưa từng gặp hạng người lõa lồ như vậy, con chỉ biết lễ bái cúng dường ông cha lành duy nhất của con là Đức Phật Cồ-đàm cùng hàng Thánh Tăng mà thôi. Các Ngài rất xứng đáng cho người kính lễ”.
Ông cha chồng hỏi lại: “Mày nói thực chăng? Nếu quả vậy, mày thỉnh quý vị ấy đến đây thọ thực ngày mai. Nếu nói dối tao sẽ tống khứ mày ra khỏi nhà này”. Trong lúc bối rối nàng trả lời: “Dạ, xin vâng”. Trọn ngày ấy nàng đem hết tâm thành hướng về tinh xá cấp Cô Độc (Anathapindika-vihara) cầu thỉnh Phật và Chúng Tăng ngày mai đến thọ thực tại nhà cha mẹ chồng. Lời nguyện của nàng được Phật chấp nhận, ngày mai đúng ngọ, Phật và Chúng Tăng đến đông đủ trước trai phòng một cách uy nghi cao cả. Cả nhà rất ngạc nhiên, đem hết lòng cung kính, thỉnh Phật và Chúng Tăng thọ trai. Nhân đó Phật giáo hoá cả gia đình bỏ tà qui chánh, làm những người thiện nam tín nữ thuần lương.
16. Ông Ưu-ba-cấp-đa (Upagupta): Một tấm gương sáng trong hàng cư sĩ. Ở thành Ma-đồ-la (Mathura) có một người kỹ nữ, nhan sắc truyệt trần tên là Phệ-sa-phệ-đạt-đa (Vasavadatta). Một hôm đứa thị tỳ đi mua phấn sáp ở nhà một người lái buôn trẻ tuổi đẹp trai ở gần đấy tên là Ưu-ba-cấp-đa (Upagupta). Khi về nàng hỏi rằng: “Mi ưa chàng ấy lắm sao mà mỗi lần mua gì cứ đến đấy?” Thị tỳ nói: “Thưa cô, Ưu-ba-cấp-đa người đẹp đẽ, tánh nhu mì lại dốc lòng tu đạo Phật”. Nàng Phệ-sa-phệ-đạt-đa nghe nói thế thấy động tình, sai thị tỳ đến bảo nhỏ
chàng rằng: “Ý tôi muốn đến chơi với chàng”. Thị tỳ đến nói, chàng bảo về trả lời rằng: “Bây giờ chưa phải lúc gặp tôi”. Nàng nghĩ rằng chàng sợ đi lại với nàng sẽ phải mất tiền chăng, nên lại sai thị tỳ đến bảo lại: “Chàng không phải mất đồng tiền nhỏ, tôi chỉ nguyện được giao hoan với chàng thôi”, nhưng Ưu- ba-cấp-đa vẫn trả lời rằng: “Thưa chị bây giờ chưa đến lúc phải gặp tôi”.
Cách đây ít lâu nàng Phệ-sa-phệ-đạt-đa muốn bán mình cho một gã phú thương, bèn giết người nhân ngãi cũ cho khỏi ghen. Tội ấy tiết lộ ra, vua Ma-đồ-la truyền đem nàng ra cắt chân, cắt tay, cắt mũi, cắt tai, rồi vất ra bãi tha ma. Chàng Ưu-ba-cấp-đa biết đầu đuôi chuyện ấy nghĩ bụng rằng: “Khi nàng còn mỹ miều tráng lệ, thời kẻ dốc lòng tu đạo chẳng nên đến gần làm chi. Nhưng nay nàng đã cùng cụt chân tay, trụy lạc như thế, lúc này là lúc ta nên đến thăm nàng”. Chàng Ưu-ba-cấp-đa liền cùng đứa đầy tớ cầm dù che, đi từ từ ra bãi tha ma. Đứa thị tỳ của nàng Phệ-sa-phệ-đạt-đa từ khi nàng bị nạn vẫn không bỏ nàng, trông thấy chàng đến, hoảng hốt bảo chủ. Nàng vội vàng thu các mảnh tay lại, lấy miếng vải khoác lên. Khi chàng đã đến nơi, nàng tủi thẹn mà nói rằng: “Thưa chàng, khi người thiếp thơm tho như cái hoa sen đầy những lượt là châu báu, đủ làm mê con mắt kẻ
hữu tình thì chàng chẳng thèm để ý tới. Ngày nay thân thiếp rụi tàn đầm lầy trong đống bùn máu, chàng đến đây làm gì nữa?” Ưu-bà-cấp-đa lại nói rằng: “Thưa chị, trước kia tôi không đến với chị là tôi không có chút dục tình. Ngày nay tôi đến đây là vì lòng thương xót, là để cho biết rõ cái thảm trạng những sự khoái lạc của người đời”. Nói xong, chàng an ủi cho nàng khuây lòng, lại thuyết pháp cho nàng nghe. Sau nàng dốc lòng tu đạo cũng bớt nỗi ưu sầu.
17. Phật đến Tỳ-xá-ly (Vesali), kinh đó xứ Licchavi: Tương truyền rằng trong kiếp chót, tiền thân của Đức Phật đã sinh trưởng tại Tỳ-xá-ly và Ngài thọ giáo với đạo sĩ Aradakalama. Kiếp này thành Phật, Ngài cũng đến Tỳ-xá-ly tẩy trừ một bệnh dịch khí đã giết hại rất nhiều dân chúng. Khi được thỉnh đến Tỳ-xá-ly (Vesali), Ngài sai Đại đức A-nan tới trước chọn ba cách đi ba vòng thành, tụng ân đức của Phật Pháp Tăng cho chư Thiên và dân chúng phát tâm trong sạch hướng về ngôi Tam bảo cải ác tùng thiện, đem lòng từ bi thương xót lẫn nhau. Nhờ oai đức Tam bảo và lòng từ thiện phát sinh trong từng lớp dân chúng mà thành Tỳ- xá-ly trở lại bình an như trước.
Để tỏ lòng sùng kính Phật, các tiểu vương xứ Licchavi dâng cho Ngài một khu rừng nằm về phía

Bắc thành Tỳ-xá-ly, chính nơi đây Kiều-đàm-di (Gotami) đã xin xuất gia làm Tỷ-kheo-ni đầu tiên trong Tăng hội và cũng chính tại đây, kỷ nữ trứ danh tên Am-ba-bà-li (Ambapali) đã cảm hóa theo Phật, nàng dâng cho Phật một vườn xoài, trong ấy có một ngọn tháp tốt đẹp nằm về phía Đông Bắc thành Tỳ-xá-ly.
18. Phật trở lại Xá-vệ (Savathi): Phật và người đệ tử dũng cảm tên Phú-lâu-na (Purna) là con của một thị tỳ, chủ nhà có lòng thương nên cho làm thiếp mới sinh ra chàng. Chàng có bốn anh em trai cùng được ăn học, riêng chàng thông minh hơn, song người nhà vẫn có ý rẻ rúng. Tuy vậy khi lớn lên chàng đi buôn biển. Một chuyến đi mành (ghe mành), ngoài biển có một bạn phường buôn người thành Xá-vệ, cứ mỗi ngày hai lần sớm và tối đồng thanh tụng những câu kinh câu kệ dạy người ta về đường giải thoát. Hỏi ra mới biết là lời dạy của đấng Cồ-đàm (Gotama), Phú-lâu-na cảm phục lắm, khi trở về nhà vội vàng hầu thăm Phật, xin Phật độ cho, rồi mỗi ngày thấm dần mùi đạo, sau xin thọ giáo xuất gia, Phật thấy người thông tuệ, thân hành thuyết pháp cho và dạy rằng: “Phép tu hành cốt ở xả thân vong kỷ”. Từ đó Phú-lâu-na mỗi ngày một dốc chí tu hành, không có ý nghĩa gì đến sự đời nữa. Một hôm Phú-lâu-na phát nguyện xin sang
truyền giáo cho một xứ mọi rợ gần đấy, rợ này có tiếng là dữ tợn lắm, hay hại người. Phật muốn can ngăn, nói rằng: “Người rợ Tô-na-bà-lan-đà (Sronaparanta) hung tợn độc ác lắm. Ngươi đến nơi mà chúng nói độc nói ác, chưởi rủa ngươi thì ngươi nghĩ sao?” - Phú-lâu-na đáp rằng: “Nếu người rợ nói độc, nói ác, chưởi rủa con, thời con nghĩ rằng, chắc họ là người lành người tốt, vì họ không đánh con bằng tay, ném con bằng đá”. “Nhưng nếu người Tô-na-bà-lan-đa đánh con bằng tay, ném con bằng đá thì con nghĩ sao?” - “Con nghĩ rằng họ cũng là người lành người tốt vì họ không đánh con bằng gậy, đâm con bằng gươm”. “Nhưng nếu người ta đánh con bằng gậy đâm con bằng gươm thì con nghĩ sao?” - “Con nghĩ rằng họ vẫn là người lành người tốt vì họ không đánh con đến chết” - “Nhưng nếu ngươi ta đánh con đến chết thì con nghĩ sao?” - “Con nghĩ rằng họ vẫn còn tốt vì nhờ họ con khỏi phải đau khổ lắm mà thoát được cái bọc thịt thôi, là tấm thân ô uế này”. Phật bấy giờ nói rằng: “Được, Phú-lâu-na, con có tánh nhẫn nhục như vậy, thời con sang đến xứ rợ Tô-na-ba-lan-đà được. Ta cho phép con đi. Con đã được giải thoát nên giải thoát cho người; con đã được tới bờ bên kia, nên dắt người sang cùng, con đã được bình an trong lòng nên giúp cho lòng người sự an bình; con đã tới cõi Niết-bàn, nên giúp người cùng tới”.

Phú-lâu-na đến rợ Tô-na-bà-lan-đà để truyền giáo không bao lâu người dân thuần lại cả và qui y theo Phật hết.
Tóm lại cứ theo tôn chỉ, tùy cơ thuyết pháp bình đẳng giáo hóa, Đức Phật đã không bỏ lỡ cơ hội nào mà không tiếp độ kẻ hữu duyên quay đầu về Chánh đạo. Căn cơ dẫu có sai khác, song ai đã được gặp, thấm nhuần giáo pháp, họ đều hưởng được sự an lành và đem lại an lành cho kẻ khác.
Đức Phật là Đấng đạo sư của chúng Tăng, nhưng ở giữa chúng Tăng, Phật vẫn tự coi mình như một Tăng chúng. Sáng dậy sớm, súc miệng, rửa mặt, tới giờ khất thực Ngài khoác áo Cà-sa (Kashaya) tay cầm bình bát cùng các đệ tử chia đi vào các xóm, trải qua từng nhà một khất xin đồ ăn, ai cho gì nhận nấy, đi hành khất xong về tinh xá, đến ngọ mới ăn cơm, mỗi ngày chỉ một bữa. Từ trưa trở đi thì Phật tỉnh tọa và thuyết pháp. Sinh hoạt đều đặn của Phật như thế, Ngài không từ nan một việc gì cho đến làm những việc thông thường của Tăng chúng làm. Một buổi sớm nọ, Phật cầm chổi quét vườn Kỳ Thọ, các đệ tử thấy vậy cũng xúm lại quét. Sau khi quét xong Phật nhóm chúng giảng cho nghe năm công đức của sự quét tước:

  1. Tự mình được hoan lạc.
  2. Làm cho người khác được hoan lạc.

3. Thánh hiền hoan lạc.
4. Công đức cũng nảy sinh dễ dàng.
5. Lâm chung sanh vào đường lành.
Có lần gặp bà già muốn xâu kim mà không thấy đường, Ngài thân hành cầm kim xâu giúp. Lần khác Phật và A-nan rảo bước trong tinh xá Cấp Cô Độc, Ngài gặp Tỷ-kheo GirinA-nan-da đau nặng bị té nằm trên phân. Ngài vội vã đến đỡ ông dậy và hối A-nan đi xách nước, rồi hai thầy trò xúm nhau tắm rửa cho sạch sẽ, khiêng để trên giường, thay y áo và an ủi hỏi: “Thầy đau bịnh gì? Không ai chăm sóc thầy sao? Tại sao các thầy Tỷ-kheo không chăm nom giúp đỡ thầy?”
“Bạch đức Thế Tôn, con đau cả tạng phủ, thêm bệnh kiết lỵ, chẳng có người bạn nào săn sóc con”.
Thế Tôn liền triệu tập Tăng chúng lại quở trách và dạy rằng: “Này các thầy, nơi đây các thầy là người không cha không mẹ, không bà con để săn sóc các thầy. Nếu các thầy không trợ giúp lẫn nhau thì lấy ai nương nhờ trong lúc đau ốm. Từ nay thầy nào muốn ân cần săn sóc Như lai, hãy để tâm ân cần săn sóc bạn mình trong cơn bịnh hoạn”.
VI. Những chặng đường hóa độ
Tuy đã có nhiều tinh xá được dâng cúng cho Phật, song Phật không định cư một chỗ nào, và
cũng không có chỗ nào Phật ở trọn cả năm, mà phần nhiều Ngài chỉ ở An cư về mùa mưa, còn những tháng khác thì thường cùng đệ tử đi khất thực, gặp đâu ở đó, gặp ai đủ cơ duyên thì thuyết pháp hóa độ cho họ đó.
Lúc Phật thuyết pháp, số người nghe kể có hàng ngàn, hàng vạn người, không những đệ tử cùng thiện nam tín nữ, lại có cả thập phương Bồ- tát, Đế Thích, chư Thiên... đại để có một số đệ tử xuất gia thường theo Phật là 1.250 người ít khi thay đổi. Thính chúng gồm có 4 hạng gọi là tứ chúng. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di.
Lúc Phật thuyết pháp, thời chốn tinh xá ai ra vào cũng được, ai muốn nghe giảng hay chất vấn về đạo, Phật đều sẵn lòng đối đáp không từ chối bao giờ.
Khi nào Phật không tiếp thời phái một người trong hàng đệ tử thân tín (thường là A-nan) ra tiếp khách rồi vào thuật lại cho Phật hay; nếu gặp vấn đề gì khó, đệ tử phải vô thỉnh giáo trước. Ai nói phải, làm phải thời Phật khen, ai nói sai làm trái thời Phật chê, có khi quở trách. Như Phật đã dạy: “Ta không sách tấn các thầy như thợ gốm đối với các đồ gốm chưa nung, hoặc nung chưa chín. Ta sẽ nói, hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác, hết

lời tán thán này đến lời tán thán khác. Cái gì là lõi cây, cái đó sẽ đứng vững tồn tại".
Phật thường lo lắng cho các thầy Tỷ-kheo từ việc tu hành cho đến việc no ấm hằng ngày. Ngài hằng khuyến khích tín đồ cúng dường đến các bậc giới đức. Tại Vương Xá, vua Bình-sa (Tần-bà-sa­la) giao cho ông ngự y Kỳ-bà (Jivaka) nhiệm vụ săn sóc sức khỏe cho Phật và chúng Tăng. Tại Xá- vệ (Savathi) có ông cấp Cô Độc và bà Visakha thường xuyên cúng dường mọi sự cho Tăng chúng.
Phật lo nhất là sự hòa hợp của Tăng chúng. Thế mà lúc Phật ở tại Kiều-thượng-di (Kosambi) giữa hàng Tỷ-kheo vẫn xảy ra sự xích mích lẫn nhau, Phật còn không can ngăn được, phải tách rời Tăng chúng một mình lên rừng sống. Ở đó, có con khỉ đột và con voi già cũng bị bọn khỉ trẻ và voi con quậy phá. Con khỉ đột và con voi chúa phải tách đàn để đến chỗ trống vắng sống yên thân thì gặp Phật. Hai con này vui vẻ sống bên Phật, thường kiếm hoa trái dâng cúng Ngài suốt một mùa Hạ.
Các thầy Tỷ-kheo gây chia rẽ, sau đó bị tín đồ bức áp phải cùng nhau lên núi thỉnh Phật về và cầu xin sám hối. Hai thế kỷ sau, vua A-dục (Asoka) đến chiêm bái chỗ Đức Phật đã sống với voi và khỉ, ông có dựng một trụ đá kỷ niệm, trên ấy có khắc chiếu chỉ nghiêm cấm sự chia rẽ trong Tăng-già. Song
Phật không phải chỉ có những người quyền quí bảo hộ, những kẻ đệ tử trung thành, những thiện tín dốc lòng mộ đạo mà cũng có kẻ thù hằng, người phản đối, đứa ghen ghét, kẻ không dung.
Trước tiên là các thầy cả của ngoại đạo (kẻ cừu địch ở ngoài). Phật thường gặp bọn lục sư ngoại đạo phá hoại đủ cách, khi thì chúng đem các lý lẽ nọ kia chất vấn, khi thì dùng mưu kế vu cho Phật những tội sát hại, gian dâm, thậm chí chúng còn dùng tới những điều vụn vặt tầm thường. Như có hôm nọ, một tên ngoại đạo cầm một con chim sẻ trong tay và đố Phật chim chết hay sống, cốt để bêu rếu Phật không phải là bậc trí, nếu Ngài nói ra. Phật bèn đến đứng ở giữa ngưỡng cửa, hỏi: “Ông thử nói xem tôi đang ra hay vào?” Ngoại đạo không nói được. Chung qui chúng không thể hạ được mà chỉ làm cho uy danh của Phật mỗi ngày càng lan rộng.
Phật không những phải đối phó với cừu địch ở ngoài, lại còn phải cảnh giác kẻ phản gián ở trong. Vì chính trong Tăng hội cũng có kẻ phản đối Phật mà đứng đầu là Đề-bà-đạt-đa, em thúc bá với Phật. Đề-bà-đạt-đa là người rất thâm độc, nhiều tham vọng. Sau khi đi tu chứng được một ít thần thông đâm ra ghen ghét Phật, muốn phá hoại uy tín của Phật, thường đòi Phật giao cho y quản lý Tăng
hội; Phật không cho, ông bèn lập phe nhóm để thừa cơ lập Giáo hội khác hầu lên làm Giáo chủ với một kỷ luật khắc khe hơn. Ông cầm đầu một nhóm Tăng sĩ, đưa ra 5 điều luật khắc khổ biệt lập với Phật là: ẩn dật nơi thanh vắng, đi xin ăn mỗi ngày (không nhận người mời ăn hoặc cúng), mặc y bằng giẻ rách vá lại ( không nhận y của người khác cúng), ở giữa chỗ trống (không ở nhà hoặc gốc cây), kiêng ăn thịt cá.
Không được mấy ai theo, ông tức lắm, thông đồng và cậy thế vua A-xà-thế để chiếm đoạt ngôi Phật. Lúc này ông cho voi Hộ Tài (Nalagiri) uống rượu say và thả ra đón đường hại Phật, lần khác ông rình trên núi Kỳ-xà-quật, chờ khi Phật đi ngang lăn một tảng đá lớn vào Phật nhưng chỉ làm chân Ngài rướm máu chút thôi. Thất bại kế này, Đề-bà-đạt-đa lập mưu khác. Khi Phật ngự tại tinh xá Cấp Cô Độc, ông và người bạn là thầy Kololika giả bộ đến xin Phật sám hối ăn năn, trong lúc sụp lạy dưới chân Phật, ông lấy ngón tay đã tẩm thuốc độc sẵn cào lên chân Phật, song Phật không hề hấn gì cả mà ông ta bị đất sụp chôn xác dưới vực thẳm. Hai mươi lăm thế kỷ sau di tích này vẫn còn.
Phật độ ngoại đạo Saccaka: Ông này thuộc đạo Ni-kiền thành Tỳ-xá-ly, người có biện tài vô địch nên kiêu ngạo, tự đặt tên là Đại Trí Thức, sợ
sự hiểu biết mỗi ngày đầy bụng nổ tung nên làm niềng sắt nịt bụng lại. Ai cũng bàn tán xôn xao và phải kính nể. Ngày nọ ông gặp lại Đại đức Assaji liền đến hỏi, được Đại đức Assaji trả lời: Thầy Ta dạy Ta nhiều, nhưng có thể tóm tắt lại là: "sắc không thường, thọ, tưởng, hành, thức không thường. Vì vậy không phải ta và của ta. ” Ông định dẫn 500 đồ đệ đến vấn nạn Phật. Trong khi đó Phật quán biết ông kiếp sau sẽ là người đại trí, làm đệ tử của Mục-liên-tử-đế-tu (Moggalliputta) đem đạo truyền vào Tích Lan, nên đến Tỳ-xá-ly tìm độ.
Gặp Phật ông hỏi, được Phật dạy: “Sắc không thường v.v... là vô ngã. Như lai thường dạy đệ tử như thế”.
Ông nạn lại: “Các thứ giống nhờ đất mới mọc, vậy nhờ có sắc là của ta..., nhờ ta ở trong sắc v.v... mới có sự hưởng thụ được mọi khoái lạc”.
Phật dạy: “Nếu thật sắc, thọ, tưởng, hành, thức là của ta thì ta sử dụng nó, bảo nó đừng già nó phải không già v.v... nhưng dù ngươi van xin cho mấy nó cũng vẫn già theo thời gian... Thế sắc ấy có phải của ta không?” Ông không đáp được sau ba câu hỏi, liền xin làm đệ tử Phật.
2. Bà Magadiya oán ghét trả thù Phật: Magadiya là thứ hậu vua Udena xứ Kiều-thượng-di
(Kosambi) oán ghét Phật, vì ông chú bà nhận thấy Phật trong rừng không hiểu là đấng Đại giác, nên nghĩ bụng về đem bà đến gả cho Phật. Khi bà đến, Phật thuyết về thể bất tịnh, bà ta giận Phật nói chê bà nên sinh oán, ước sau làm Hoàng hậu thì trả oán. Bà là người đẹp tuyệt, sau được tuyển làm thứ hậu, vua rất sủng ái. Ngày nọ Phật đến Kiều-thượng-di để độ cho bà Chánh hậu đắc quả Tu-đà-hoàn khiến bà oán thêm nên thuê người chưởi mắng Phật với những lời tiếng thậm tệ. A- nan nghe mắng thô bỉ chịu không nổi, bạch Phật đi nơi khác. Phật hỏi: Đi đâu? - Tới phương Nam - đến đó họ mắng nữa thì sao? - Tới phương Bắc v.v... Cuối cùng hết chỗ đi, A-nan không trả lời được. Phật dạy: Đi như thế là thất sách, vì chuyện gì phát sinh nơi nào thì tất lặng nơi ấy, không nên đi. Và toàn là bụng hạ lưu xã hội chưởi thôi, huống gì người tu hành vào đời như voi vào trận, phải gánh trách nhiệm, không sợ gươm giáo mới thắng trận được.
3. Nguyên nhân chia rẽ giữa Tăng chúng: Sự chia rẽ giữa Tăng chúng tại Kiều-thượng-di (Kosambi) là vì một ngày nọ, vị Pháp sư giỏi về Kinh, đi vệ sinh quên để nước dơ trong chậu, sau đó vị Luật sư giỏi về Luật vào thấy vậy liền hỏi: Có phải Đại đức để dư nước trong phòng vệ sinh? - Phải - Ngài có biết nếu làm thế thì phạm vào Điều
học không? Thật tôi không biết. - Nếu Ngài không biết thì Ngài đã phạm vào Điều học.- Nếu vậy cho tôi xin sám hối.- Điều này Ngài không có tác ý để làm thì vô tội. Thế nhưng sau đó vị luật sư đem nói với đệ tử mình rằng ông Pháp sư kia phạm Điều học. Đệ tử truyền ra, học trò của vị Pháp sư nghe được học lại với thầy mình. Ông Pháp sư lại nói: Ông Luật sư kia nói dối. Khi đó nói Ta vô tội, bây giờ lại nói Ta phạm tội. Học trò hai bên học qua học lại gây thành hai phe bất hòa, Phật lấy chuyện Trường Thọ vương ra can mấy lần không được, Ngài bèn bỏ vào rừng một mình, lại gặp một voi chúa Malanga không chịu nổi sự ồn ào của voi con đi ở riêng và một con khỉ đột cũng thế. Cả hai con hầu Phật, voi lấy ống tre múc nước, khỉ dâng mật ong và Phật kiết hạ tại đây ba tháng. Các tín đồ nghe chuyện ấy liền cô lập Tăng chúng đó, không cúng dường, ông Cấp Cô Độc ra lịnh không cho bất cứ ai được vào tinh xá. Đói quá mấy ông phải hòa lại với nhau và lên rừng thỉnh Phật về. Phật dạy: Người khác không biết rằng mình và mọi người sẽ bị hủy diệt nên mới tranh cãi nhau ... rồi Ngài dạy sáu phép hòa kính tạo thành tương ái tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp nhất trí, đó là: Thân hòa đồng trú, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải”.
4. Phật cấm dùng thần thông thâu lấy Bát: Thời Phật có nhiều ngoại đạo (lớn nhất là lục sư) đều tự xưng là A-la-hán. Lúc ấy có ông trưởng giả chưa tin đạo nào, nhân được khúc trầm, tiện làm cái bát cột trên ngọn tre cao 60 hắc tay và nói: “Vị nào bay lên lấy được thì ta tin là A-la-hán và xin làm đệ tử”. Lục sư đến nhưng không ai lấy được, có kẻ giả bay nhưng dặn đệ tử níu lại, khuyên không nên vì chiếc bát nhỏ mọn. Sau đó Mục-liên và Rindolabha bay lấy, về bị Phật quở cấm. Ngoại đạo nghe được, thách đòi đấu với Phật. Phật hứa và Ngài đã ngồi tại gốc cây xoài Ganda tại thành Thất-la-phiệt, hóa nhiều phép lạ, có Đế Thích làm gió, lửa, ngoại đạo trốn chạy mất.
5. Phật lên Đao-lợi độ Nhũ mẫu: Sau khi thắng ngoại đạo, Phật muốn lên cõi trời Đao-lợi thì núi Tu-di hạ thấp và hai vị thần nguyện làm thang cho Phật lên. Tại đây, Đức Phật đã đền ơn cao dày của Phật Mẫu bằng pháp xứng đáng là: Vi diệu pháp, (Abhidhamma) chia làm 7 phần, Phật thuyết trong ba tháng hạ, bà đắc quả Tu-đà-hoàn. Phật dạy ngài Mục-kiền-liên thay Ngài thuyết pháp tại nhân gian (7 bộ luận).
6. Tiền thân Bồ-tát Di-lặc: Bồ-tát Di-lặc xin làm con bà Hoàng hậu Kancana và vua A-xà-thế, thành Vương Xá. Ngài lớn lên nhằm lúc vua đã bỏ Đề-
bà-đạt-đa, qui y Phật. Vua đặt tên Ngài là Ajita. Nhân thường theo vua đến Phật mà phát tâm xuất gia, làm vị Tỷ-kheo nhỏ nhất. Lúc nọ Phật ở tại chùa Nigrodha thành Ca-tì-la-vệ, bà Gotami đã tự tay trồng bông, dệt sẵn hai tấm vải vàng đem dâng Phật. Phật không nhận mà bảo đem cúng chúng Tăng (một lẽ, để lưu ý bố thí không khởi tâm cá nhân tuyển thí, thì phước lớn lao; hai lẽ, của chúng Tăng là có Phật trong đó; ba lẽ, sau khi Phật nhập diệt, giáo pháp tồn tại 5.000 năm, chúng Tăng có người cúng dường). Buộc lòng bà phải đem cúng từ Ngài Xá-lợi-phất đến Mục-kiền-liên, khắp cả 80 vị mà không ai nhận, chót hết đến Tỷ-kheo Ajita, Ngài nhận, làm bà rất buồn vì phải cúng vị Tỷ- kheo nhỏ nhất. Phật biết bà buồn, Phật liền thuyết pháp, Ngài dạy: Bố thí mà người thí thanh tịnh, người thọ thanh tịnh, của thí thanh tịnh, bố thí mà cắt đứt phiền não thì phước đức vô lượng v.v... Sợ bà còn chưa hiểu, Phật mới dạy A-nan đưa cái bát cho Phật, Phật liền thảy bát lên không, biến mất, bảo cả 80 vị Tỷ-kheo lớn mà không ai tìm ra, đến lượt Ajita tìm ra, ai nấy đều ngạc nhiên, Ajita cũng rất vui mừng, đem hai tấm vải cắt làm 5 tấm làm màn che quanh chỗ Phật và phát nguyện thành Chánh giác, được Phật thọ ký tương lai làm Phật hiệu Di-lặc (Métreya) trong đại kiếp (quả đất) này
khi con người tuổi thọ đã giảm xuống còn mười tuổi rồi tăng lên tám vạn tuổi; giáng sinh làm con ông bà Quốc sư Subrahm, đời vua Sankha xứ Baranasi đổi tên lại Ketumati-mahanagara; xuất gia Thành đạo bảy ngày dưới Long-hoa-thọ (Nagarukha - có lẽ là cây mù u) thì thành Đạo và thuyết pháp độ sinh.
Cái bát chỉ đến với Ajita vì ý rằng bát này là bát của Phật, chỉ có Phật mới dùng được thôi, chứ không phải bát của chư Tăng dùng.
7. Phật cũng Tự tứ: Đức Thế Tôn cùng với đại chúng ở tại Lộc Mẫu giảng đường trong Đông viên nước Xá-vệ. Bấy giờ nhân ngay rằm trăng tròn Bồ-tát Tự tứ. Ngài ngồi giữa trời, chung quanh chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Đức Thế Tôn nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền bảo: “Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các thầy nói lên, các thầy có điều gì chỉ trích Ta về thân hay về lời nói không?”
Tôn giả Xá-lợi-phất đứng dậy thưa: “Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi. Con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết. Con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn chỉ đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo, còn đệ tử
chúng con là những người hành đạo và sẽ thành tựu những ngày về sau.
8. Phật cũng gieo mạ: Đức Thế Tôn ở tại làng Bà-la-môn tên Ekanalà. Lúc ấy là thời gian gieo mạ. Bà-la-môn Bhàradvaja đang phân phát đồ ăn cho nông phu tại nông trường. Vào buổi sáng đức Thế Tôn mang y cầm bát đi đến đó và đứng một bên. Thấy vậy Bà-la-môn Bhàradvaja nói với Thế Tôn: “Chúng tôi cày và gieo, chúng tôi ăn, còn người có cấy và gieo không mà người ăn?” - Thế Tôn đáp: “Ta cũng cấy và gieo mạ, và Ta ăn”. - Bà-la-môn hỏi lại: “Sa-môn nói Sa-môn cũng cày và gieo mạ, sao chúng tôi không thấy cái ách, lưỡi cày, gậy đâm, và con bò đâu cả?” - Thế Tôn đáp: “Đối với Ta, lòng tin là hạt giống, khổ hạnh là mưa móc, trí tuệ là lưỡi cày, tàm quí là cán cày, ý căn là dây cột, chánh niệm là gậy đâm. Ta nhổ sạch tà vạy với chân lý sự thật. Tinh tấn đưa Ta đến an ổn khỏi ách nạn, chỗ Ta đi không sầu. Như vậy, cày ruộng này đưa Ta đến bất tử, thoát khỏi mọi khổ đau”.
9. Ngược gió tung bụi: Bà-la-môn Bharadvaja nghe có người trong thân tộc mình xuất gia theo Phật, phẫn nộ, tìm đến Thế Tôn nói những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la- môn ấy rằng: “Ông nghĩ thế nào? Bà con thân thuộc, thân hữu, khách khứa có đến thăm Ông không?” Bà-la-môn đáp: Thỉnh thoảng bà con thân hữu, khách khứa có đến thăm tôi. - Ông có sửa soạn đãi chúng các món ăn không? - Thỉnh thoảng tôi có sửa soạn đãi chúng các món ăn. - Nếu chúng không thâu nhận thì các món ăn ấy về ai? - Nếu chúng không thâu nhận thì các món ăn ấy sẽ về lại chúng tôi.
Như vậy đó, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi và chúng tôi không phỉ báng lại, nhiếc mắng chúng tôi và chúng tôi không nhiếc mắng lại, gây lộn với chúng tôi và chúng tôi không gây lộn lại, chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông thời sự việc ấy tất hẳn về lại nhà ngươi. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời người ấy được xem là đã hưởng thọ, san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, sự việc ấy tất hẳn về Ông. Này Bà-la-môn, những ai bị phỉ báng, liền phỉ báng trở lại, kẻ ấy làm ác mình, cũng làm ác cho người. Những ai bị phỉ báng, không phỉ báng chống lại, kẻ ấy đủ thắng trận, thắng cho mình, cho người. Vị ấy tìm lợi ích cho cả
mình và người. Quần chúng nghĩ đó là ngu vì không hiểu Chánh pháp.
       10. Thần Dạ-xoa vấn Phật: Đức Thế Tôn đang ngồi một mình trong rừng Anjana tại vườn Nai. Thần Dạ-xoa đi đến đảnh lễ rồi đứng một bên và hỏi:
  • Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
Thế Tôn đáp:
  • Ta được cái gì mà Ta hoan hỷ.
  • Nếu vậy có phải Ngài đang sầu muộn?
  • Ta mất cái gì mà Ta sầu muộn.
  • Ngài không hoan hỷ cũng không sầu muộn, tại sao Ngài ngồi cô độc một mình?
  • Hoan hỉ chỉ có đến với người có tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ có đến với người có tâm hoan hỷ. Ta đã dứt sạch nguồn gốc sầu muộn nên Ta không có sầu muộn và cũng không có hoan hỷ, dù ngồi cô độc một mình nhưng tâm Ta không bị dao động.
  1. Ai thấy Pháp người ấy thấy Như lai: Đức Thế Tôn ở lại rừng Trúc. Lúc bấy giờ Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bịnh, đau đớn trầm trọng. Tôn giả gọi người thị giả đến bảo: “Ngươi hãy đi đến Thế Tôn, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Ngài và cầu xin đức Thế Tôn vì lòng lân mẫn hãy đi đến Tôn giả Vakkali”.
Người thị giả vâng lời đi đến đảnh lễ Thế Tôn và thưa rõ ước nguyện của Tôn giả Vakkali.
Đức Thế Tôn im lặng nhận lời rồi đắp y cầm bát đi đến Vakkali.
Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến cố gắng từ giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả: Thôi, thầy chớ cố gắng ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ấy.
Sau khi Thế Tôn ngồi xong liền hỏi Tôn giả:
  • Thầy có chịu đựng được không? Bệnh tình có thuyên giảm hay tăng trưởng?
  • Con không thể chịu đựng nổi, bệnh tình cứ tăng trưởng hoài.
  • Thầy có gì băn khoăn hối hận không?
  • Bạch Thế Tôn, thật có nhiều ăn năn hối hận.
  • Thầy có gì tự trách mình về Giới luật không?
  • Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về Giới luật.
  • Nếu thầy không có gì tự trách mình về Giới luật, vậy ngươi có gì phân vân hối hận?
  • Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để được thấy Thế Tôn, nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn!
  • Thôi, vừa rồi, có gì đáng thấy với cái thân hôi hám này. Này Vakkali! Ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp, thầy đang thấy Pháp, tức là thấy Ta, đang thấy Ta, là thấy Pháp.
12. Như lai sống vì hạnh phúc mọi người: Đức Thế Tôn trú tại Na-lan-đà. Thủ trưởng Asiblandha đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên và hỏi rằng:
  • Bạch Thế Tôn, có phải Ngài sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sinh và loài hữu tình?
  • Đúng vậy, này thủ trưởng, Như lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sinh và loài hữu tình.
  • Bạch Thế Tôn, thế thì vì sao đối với một số người, Ngài thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn, còn đối với một số người khác, Ngài thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn?
  • Này thủ trưởng, ông nghĩ thế nào, một người cày ruộng có 3 thửa ruộng, loại tốt, loại bậc trung, loại cằn cỗi. Khi người ấy muôn gieo hạt giống thì gieo ở thửa ruộng nào trước, ruộng tốt hay ruộng bậc trung hay ruộng xấu cằn cỗi?
  • Chắc chắn người ấy gieo hạt giống vào thửa ruộng tốt rồi mới đến ruộng bậc trung và sau cùng
mới gieo vào ruộng xấu cằn cỗi. Vì tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các loài trâu, bò.
  • Này thủ trưởng, Ta thuyết pháp cho ba hạng căn cơ cũng như thế, trước hết cho hạng căn cơ bậc thượng, rồi tới bậc trung rồi sau tới bậc hạ, như vậy mới đem lại lợi ích thiết thực.
13. Đức Phật thuyết pháp có mục đích: Đức Thế Tôn trú ở Kiều-diệm-di, tại rừng Simsapa. Ngài nhặt lên một ít lá Simsapa bảo các Tỷ-kheo: Các thầy nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, một số ít lá Simsapa mà Ta nắm trong tay hay lá trong rừng Simsapa ở giữa rừng?
  • Bạch Thế Tôn, thật là quá ít, một ít lá Samsapa mà Thế Tôn nắm trong tay và thật là quá nhiều lá Simsapa ở giữa rừng.
  • Này Tỷ-kheo, cũng vậy, thật là quá nhiều đối với pháp mà Ta đã chứng ngộ nhưng mà không nói cho các thầy, và thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra cho các thầy. Tại sao vậy? Tại sao Ta không nói ra những điều ấy? - Vì những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho phạm hạnh, đưa đến an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn. - Và những gì mà Ta nói ra? Đây là khổ, đấy là nguyên nhân của khổ, đấy là sự diệt hết khổ và đấy là con đường đưa đến sự diệt khổ. Vì những
điều này liên hệ đến mục đích, là căn bản cho phạm hạnh, đưa đến an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn.
14. Truyện về Tôn giả A-na-luật: Tôn giả A-na- luật có bịnh hay ngủ trong lúc đức Thế Tôn đang thuyết pháp. Bị Thế Tôn quở, Tôn giả liền phát nguyện không ngủ, lâu ngày đôi mắt bị hư. Ngày nọ Tôn giả vá lại y cũ nhưng cũng không thấy đường xâu kim, Tôn giả nói thầm: Mong các vị A- la-hán Đắc đạo xâu kim giúp tôi”. Đức Thế Tôn nghe được, Ngài đến chỗ A-na-luật và bảo: “Thầy hãy đưa kim đây Ta khâu giúp cho”. Tôn giả liền thưa: “Trước đây con chỉ nói nhờ những người cầu phước trong thế gian xâu kim giúp”. Đức Thế Tôn bảo “Trong thế gian những người cầu phước không ai hơn Ta. Như lai không bao giờ ngừng làm đối với pháp này: một là bố thí, hai là giáo hoá, ba là nhẫn nhục, bốn là nói pháp nói nghĩa, năm là bảo hộ chúng sinh, sáu là cầu đạo chơn chánh vô thượng”.
A-na-luật thưa: “Thân Như lai là thân chân pháp lại muôn cầu pháp gì nữa? Như lai đã vượt khỏi biển sanh tử, thoát khỏi vòng ái trước, nhưng nay còn cầu làm gì nữa?”
Đức Thế Tôn bảo: “Thật vậy A-na-luật, Như lai không bao giờ ngừng làm với sáu pháp ấy. Trong tương lai chúng sinh nếu biết nguồn gốc tội ác từ nơi thân miệng gây ra thì không còn bị đọa
vào ba đường dữ, nhưng vì chúng sinh không biết nguồn gốc tội ác nên phải đọa vào ba đường dữ.
Vậy nên A-na-luật, hãy cầu phương tiện tu hành cho được sáu pháp ấy. Các Tỷ-kheo nên học bài học này”.
15. Thế Tôn giúp A-na-luật may y: Tôn giả A-na- luật gặp Tôn giả A-nan cũng đi khất thực, liền nói:
Này hiền giả A-nan, nên biết ba y vải thô của tôi đã rách hết. Nay đây có thể nhờ các thầy Tỷ- kheo may hộ y cho tôi không?
Tôn giả A-nan im lặng nhận lời. Sau khi về tinh xá, Tôn giả A-nan tay cầm chìa khóa đến khắp các phòng gặp các thầy Tỷ-kheo liền nói rằng: “Thưa các thầy, hôm nay qua núi Ta-la-la-nham may y cho Tôn giả A-na-luật. Các Tỷ-kheo đều nhận lời”.
Lúc ấy đức Thế Tôn gặp Tôn giả A-nan tay cầm chìa khóa đến khắp các phòng. Ngài hỏi: “Ông có việc gì tay cầm chìa khóa đến khắp các phòng?” Tôn giả A-nan thưa: “Bạch đức Thế Tôn, con nhờ các thầy Tỷ-kheo may y cho Tôn giả A-na- luật-đà”. Đức Thế Tôn bảo rằng: “Sao ông không thỉnh Như lai may y cho A-na-luật-đà?”
Tôn giả A-nan liền chắp tay hướng về Đức Phật bạch rằng: “Cúi mong Thế Tôn qua núi Ta-la- la-
nham may y cho A-na-luật-đà. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời”.
Lúc ấy trong núi Ta-la-la-nham có tám trăm Tỷ-kheo và cùng ngồi chung may y cho Tôn giả A- na-luật-đà.
16. Đệ tử ngoại đạo khen Phật, Thầy chỉ trích Phật: Đức Thế Tôn đi trên con đường giữa Vương Xá và Nalanda cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ có Thiện Niệm (Suppiyo) du sĩ ngoại đạo với đệ tử thanh niên tên Phạm-ma-đạt (Brahma- datta) đi cùng đường. Thiện Niệm dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử Phạm-ma-đạt lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi cùng đi sau lưng Đức Phật và chúng Tỷ-kheo.
Sau khi về tinh xá, vào buổi chiều, các Tỷ- kheo họp nhau vào một gian nhà hình tròn bàn tán: “Này chư hiền, thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay, đức Thế Tôn toàn tri toàn kiến, bậc Chánh đẳng Chánh giác, thấu hiểu mọi xu hướng khác nhau của chúng sinh, như vậy tại sao thầy trò Thiện Niệm hủy báng và tán thán Tam bảo trong khi cùng đi sau lưng đức Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo mà không nghe đức Thế Tôn nói gì cả?”
Đức Thế Tôn biết chuyện đi đến hỏi và bảo các Tỷ-kheo rằng:
“Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, các thầy chớ có vì vậy mà sinh lòng công phẫn, tức tối, phiền muộn. Nếu nghe hủy báng mà các thầy sinh lòng công phẫn, tức tối, phiền muộn thời sẽ có hại cho các thầy. Các thầy không thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc. Như vậy khi nghe hủy báng, các thầy bình tĩnh nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật, việc này không có giữa chúng tôi, việc này không xảy ra giữa chúng tôi.
Trái lại khi nghe có người tán thán Ta, tán thán Pháp, tán thán Tăng thời các thầy không nên hoan hỷ, khoái trá, thích thú. Nếu nghe tán thán mà các thầy sinh lòng hoan hỷ, khoái trá, thích thú thời sẽ có hại cho các thầy. Như vậy khi nghe tán thán, các ngươi hãy bình tĩnh nêu rõ những gì đúng sự thật là đúng sự thật, việc này có giữa chúng tôi, việc này xảy ra giữa chúng tôi.”
17. Bà-la-môn Do-na vấn Phật: Đức Thế Tôn đang đi trên con đường Ukkattha. Bà-la-môn Do-na cũng đi trên con đường ấy. Bà-la-môn Do-na thấy trên dấu chân của Thế Tôn có dấu hình bánh xe
một ngàn cọng, đầy đủ tất cả các tướng khác lạ, ông suy nghĩ:
“Thật hy hữu thay, dấu chân này không phải của loài người”. Ông liền đi đến Thế Tôn thưa hỏi:
  • Ngài có phải là Tiên không?
Thế Tôn trả lời:
  • Quả thật Ta không phải là Tiên.
  • Vậy Ngài có phải là thần Càn-thát-bà không?
  • Quả thật Ta không phải là thần Càn-thát-bà.
  • Như vậy Ngài có phải là quỷ Dạ-xoa không?
  • Quả thật Ta không phải là quỷ Dạ-xoa.
  • Vậy chắc hẳn Ngài là loài người?
  • Quả thật Ta không phải là loài người.
  • Vậy sở hành của Ngài là gì và Ngài sẽ là gì?
Đức Thế Tôn đáp:
Đối với các lậu hoặc, nguyên nhân đưa đến các loài Tiên, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, Người, Ta đã đoạn tận không còn dính mắc. Ví như bông sen xanh, hồng, trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước và đứng lên không bị nước thấm ướt. Cũng như vậy, Ta sinh ra ở đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời không bị đời thâm ướt, như vậy Ta là Phật.
18. Phật dạy cho các thiếu nữ trước khi về nhà chồng: Đức Thế Tôn nhận lời đến dùng bữa ăn tại Uggaha. Sau khi Ngài dùng bữa xong, Uggaha dẫn mấy đứa con gái đến và thưa với đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, những đứa con gái này của con sẽ về nhà chồng, xin Thế Tôn hãy giáo giới chúng, khuyên dạy chúng, để chúng được hạnh phúc an lạc lâu dài”.
Đức Thế Tôn nói với các người con gái ấy:
“Này các thiếu nữ, các con cần phải học tập như sau: đối với người chồng nào, cha mẹ vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng các con, thì đối với vị ấy, các con sẽ thức dậy trước, sẽ đi ngủ sau, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương, các con cần phải học tập. Những ai mà chồng ta kính trọng như cha, mẹ, Sa-môn, Bà-la-môn, chính ta cũng sẽ kính trọng, cúng dường, các con cần phải học tập. Phàm có những công việc trong nhà, các con sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tìm hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm, các con cần phải học tập. Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào hay người đưa tin, người công thợ, các con hãy biết công việc của chúng đã làm, sẽ làm hoặc thiếu sót không làm, hãy biết sức mạnh hay sức không mạnh của những
người đau bịnh, sẽ chia các đồ ăn mỗi người tùy theo từng phần, các con cần phải học tập. Phàm có tiền bạc lúa gạo người chồng đem về, con cần phải bảo vệ chúng, gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại làm tiêu tán”.
Thành tựu năm pháp này, các con sẽ là người vợ, người dâu tốt, sau khi thân hoại mạng chung được sinh cộng trú tại chư thiên.
19. Phật giảng hòa: Đức Phật giảng hòa hai dòng Thích-ca và Koliya (họ ngoại của Thế Tôn). Khi hai dòng họ này vì tranh nhau con sông Rohini để lấy nước vào ruộng mà bày binh bố trận định hại nhau. Đức Phật đi đến và hỏi họ:
  • Mạng người quí hơn hay ruộng lúa quí hơn?
Họ đáp:
  • Mạng người quí hơn.
Đức Phật liền dạy:
  • Như vậy các ông không nên bảo vệ ruộng lúa mà sát hại mạng người.
Nghe lọt lỗ tai, họ liền giải tán không hại nhau nữa.
20. Phật dạy pháp lục hòa: Lúc ấy đức Thế Tôn ở Kiều-diệm-di, tinh xá Gosita. Bây giờ có một nhóm Tỷ-kheo sông ở đây hay cạnh tranh, luận
tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi, chúng không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải. Rồi một số Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn và bạch cho Ngài biết việc ấy. Sau khi biết sự việc ấy, Ngài dạy như sau:
Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, để tạo thành sự tương ái, tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp nhất trí. Thế nào là sáu?
  1. Tỷ-kheo phải sống thân từ hòa đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
  2. Tỷ-kheo phải dùng lời nói từ hòa đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
  3. Tỷ-kheo phải đem tâm ý từ hòa đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
  4. Tỷ-kheo đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến tài vật thâu nhận dù chỉ trong bình bát cũng phải san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức.
  5. Tỷ-kheo đối với các giới luật không có vi phạm, không vẫn đục, không uế tạp, được giải thoát, khiến người trí tán thán, không bị chấp trước đưa đến thiền định. Tỷ-kheo sống thành tựu các giới luật ấy đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
6. Tỷ-kheo đối với các tri kiến thuộc về bậc thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành diệt tận khổ đau. Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến như vậy cùng với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này. Ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp thì chính mái nhọn là tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối tất cả. Các vị cần phải học tập và ghi nhớ như vậy.
21. Phật độ Pukkusati tại nhà thợ gốm Ba-ga- va: Một thời đức Thế Tôn du hành ở nước Ma-kiệt- đà. Ngài đi đến nhà thợ gốm Ba-ga-va, nói với thợ gốm rằng: “Nếu không có gì phiền phức cho ngươi, Ta muốn lưu lại đây một đêm?” Thợ gốm đáp: “Bạch Thế Tôn, không có gì phiền phức cho con cả. Có điều ở đây đã có một vị xuất gia đến xin ở trước, nếu vị ấy thỏa thuận thì Ngài lưu lại theo sở thích”.
Lúc ây, thiện nam tử Pukkusati đã xuất gia làm Tỷ-kheo và đã đến ở trước tại nhà thợ gốm. Rồi đức Thế Tôn đi đến nói với Pukkusati: “Này Tỷ- kheo, nếu không có gì phiền phức cho thầy, Ta muốn lưu lại đây một đêm”.
Tỷ-kheo Pukkusati đáp: “Thưa hiền giả, chỗ này rộng rãi, chúng ta đều là người đi lỡ đường xin trọ, không có gì phiền phức cả”.
Rồi đức Thế Tôn, sau khi đi vào nhà thợ gốm, trải thảm cỏ ngồi kiết già an trú chánh niệm, qua đến canh tư, Ngài thấy Tỷ-kheo Pukkusati cũng trải tọa ngồi kiết già an trú chánh niệm gần suốt đêm như vậy. Ngài suy nghĩ: “Cử chỉ của Tỷ-kheo thanh niên này có vẻ tín thành, Ta hỏi thử xem. Rồi đức Thế Tôn hỏi:”Này Tỷ-kheo, người xuất gia như vậy y cứ vào ai? Ai là đạo sư của người?”
-“Thưa hiền giả, có Sa-môn cồ-đàm, tiếng đồn tốt đẹp, Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh đẳng chánh giác, Phật. Tôi y cứ theo Ngài xuất gia và Ngài là Đạo sư của tôi.
“Này Tỷ-kheo, nay bậc Thế Tôn ấy ở đâu?”
“Thưa hiền giả, hiện Ngài đang ở tại thành Xá- vệ, giữa các quốc độ phía Bắc.”
“Này Tỷ-kheo, trước đây thầy đã thấy bậc Thế Tôn ấy chưa? Nếu thấy thầy có nhận ra được không?”
“Thưa hiền giả, trước đây tôi chưa từng thấy. Nếu thấy chắc tôi không nhận ra.”
Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Thiện nam tử này xuất gia y cứ nơi Ta, vậy Ta hãy thuyết pháp cho thiện
nam tử này”. Rồi Ngài nói với Tỷ-kheo Pukkusati rằng: “Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng cho thầy”. Tỷ-kheo Pukkusati vâng đáp xin nghe.
Đức Thế Tôn giảng: “Này Tỷ-kheo, cái gì đưa đến hư vọng thuộc về hư vọng. Cái gì không đưa đến hư vọng thuộc về chân đế, Niết-bàn. Như vậy, này Tỷ-kheo, chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy làm cho sung mãn huệ trí, hãy tu học tịch tịnh.”
Này Tỷ-kheo, khi được an trú, vọng tưởng không có chuyển động. Khi vọng tưởng không chuyển động, vị ấy được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh. Này Tỷ-kheo, “Tôi là” là một vọng tưởng. “Tôi là cái này” là một vọng tưởng. “Tôi sẽ không là” là một vọng tưởng. “Tôi sẽ có sắc” là một vọng tưởng. “Tôi sẽ không có sắc” là một vọng tưởng. “Tôi sẽ có tưởng” là một vọng tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng” là một vọng tưởng. “Tôi sẽ có không có tưởng, không không có tưởng” là một vọng tưởng. Vọng tưởng là bệnh, là cục bướu, là mũi tên. Khi vượt khỏi vọng tưởng, vị ẩn sĩ được gọi là tịch tịnh. Vị ẩn sĩ tịch tịnh thì không sanh, không già, không có giao động, không có hy cầu. Vì không có cái gì để có thể sanh, không sanh làm sao có già, không già làm sao có chết, không chết làm sao có giao động, hy cầu.
Nghe xong, Tỷ-kheo Pukkusati suy nghĩ: “Thật sự bậc Đạo sư đã đến với Ta! Thật sự bậc Thiện Thệ đã đến với Ta! Rồi Tỷ-kheo đứng dậy đắp y cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa rằng: “Con đã rơi vào một lỗi lầm, vì ngu đần đã xưng hô Thế Tôn với danh từ hiền giả, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm ấy, để con có thể ngăn ngừa trong tương lai”.
Đức Thế Tôn dạy: “Nếu thầy thấy được lỗi lầm và đúng như Pháp phát lộ sám hối thời Ta chấp nhận cho thầy, vì đây là sự tăng ích trong giới luật của bậc Thánh, khi nào một ai thấy được lỗi lầm và đúng như Pháp phát lộ sám hối.”
22. Phật giảng cho Aggika thế nào là người hạ tiện...: Một thời đức Thế Tôn trú tại Xá-vệ, vào buổi sáng Ngài đắp y cầm bát đi vào thành, khất thực. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Aggika đang đốt lửa dâng đồ tế lễ tại chỗ mình. Thấy đức Thế Tôn từ xa đi đến, Bà-la-môn Aggika bèn nói với Thế Tôn: “Hãy dừng lại, kẻ trọc đầu. Hãy dừng lại, Sa-môn hạ tiện!” Được nghe nói vậy, đức Thế Tôn nói với Bà-la-môn: “Ngươi có biết người hạ tiện hay những pháp tạo ra những kẻ hạ tiện không?”
Bà-la-môn đáp: “Này Tôn giả Gotama, tôi không biết kẻ hạ tiện hay những pháp tạo ra kẻ hạ tiện. Vậy xin đức ông hãy nói cho tôi biết.” Đức Thế Tôn liền dạy:
  1. “Người hay phẫn nộ, hiềm khích, gièm pha, man trá, tà kiến. Đó là người hạ tiện.
  2. Người làm hại chúng sinh, một kiếp hoặc hai kiếp, không có tâm thương xót hữu tình. Đó là người hạ tiện.
  3. Người hay vây hãm xóm làng, cướp đoạt có tiếng. Đó là người hạ tiện.
  4. Người hay lấy của kẻ khác mà người chủ không cho hoặc lấy ở nhà hay ở rừng vắng. Đó là người hạ tiện.
  5. Người hay vay nợ không chịu trả lại chối nói không vay, rồi trốn nhà bỏ đi. Đó là người hạ tiện.
  6. Vì ham vật mọn, chận đường cướp giật. Đó là người hạ tiện.
  7. Người làm chứng láo để thâu lợi. Đó là người hạ tiện.
  8. Người tư thông với vợ con kẻ khác vì tình yêu hay vì cưởng bách. Đó là người hạ tiện.
  9. Tuy có khả năng nhưng không phụng dưỡng cha mẹ già. Đó là người hạ tiện.
  10. Người đánh đập mắng nhiếc ông, bà, cha, mẹ, anh, chị em, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ. Đó là người hạ tiện.
11. Người mà có người đến hỏi việc có ích, từ thiện, lại che đậy bằng câu chuyện vô ích, hoặc nói tránh chuyện khác. Đó là người hạ tiện.
12. Kẻ dùng lời dối gạt các bậc Sa-môn, Bà-la- môn và những người nghèo khác. Đó là người hạ tiện.
13. Khi đang ăn uống chửi rủa các bậc Sa-môn, Bà-la-môn dẫu chẳng có cúng dường họ chút gì. Đó là người hạ tiện.
14. Bị si mê che đậy, nói lời không thật để tham cầu thậm chí một chút lợi không đáng giá. Đó là người hạ tiện.
15. Vì lòng ngã mạn, chỉ biết tân bốc mình và khinh khi kẻ khác. Đó là người hạ tiện.
16. Người ương ngạnh hay gây gổ, xảo quyệt, ham muốn nhiều nhưng lại keo kiệt, không biết tàm quý. Đó là người hạ tiện.
17. Tự mình không phải A-la-hán mà tự cho mình là A-la-hán. Đó là người hạ tiện.
Như vậy theo chỗ Ta vừa trình bày, những người hạ tiện hay cao sang không phải vì nơi giòng giống họ sanh ra, mà chính vì nơi hành động lành hay dữ, tốt hay xấu của họ.”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Bhàradvaja bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Cồ-
đàm. Ví như người dựng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong chỗ tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Pháp được tôn giả dùng nhiều phương tiện trình bày cũng như vậy. Con nay xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử cư sĩ từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.”
23. Phật dạy thế nào là Cư sĩ: Một thời đức Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, họ Thích Mahanama đi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên thưa: ’’Bạch đức Thế Tôn, cho đến như thế nào là người cư sĩ?
Đức Thế Tôn đáp: “Ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Như thế là người cư sĩ.
Cho đến như thế nào là người cư sĩ đầy đủ giới đức?
Người cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Như vậy là người cư sĩ đầy đủ giới đức.
Cho đến như thế nào là người cư sĩ đầy đủ lòng tin?
Người cư sĩ có lòng tin vào sự giác ngộ của Như lai. Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán... Phật, Thế Tôn. Như vậy là người cư sĩ đầy đủ lòng tin.
Cho đến như thế nào là người cư sĩ đầy đủ lòng bố thí?
Người cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế xan tham, biết bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng yêu cầu, thích thú chia sẻ vật bố thí. Như vậy là cư sĩ đầy đủ lòng bố thí.
Cho đến như thế nào là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ?
Người cư sĩ có trí tuệ, thành tựu trí tuệ của bậc Thánh, đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau. Như vậy là người cư sĩ đầy đủ trí tuệ.”
24. Tỷ-kheo Arittha khởi ác tà kiến bị Phật quở: Một thời đức Thế Tôn trú ở tại rừng Kỳ-đà thành Xá-vệ. Nhân Tỷ-kheo Arittha trước khi đi tu làm nghề huấn luyện chim ưng. Ông khởi lên ác tà kiến nói rằng: “Theo như ta hiểu những điều ái dục, tham dục đức Thế Tôn bảo đó là pháp chướng đạo, thật sự ta thấy không có chướng ngại gì”. Các Tỷ- kheo khác biết được Tỷ-kheo Arittha đã xuyên tạc lời dạy của đức Thế Tôn, mới bạch lại với Thế Tôn. Đức Thế Tôn cho gọi Tỷ-kheo Arittha đến, rồi Ngài dạy: “Này các Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học Pháp, như kinh, ứng tụng, giải thuyết, kệ tụng ... Họ không quán sát pháp ấy với trí tuệ, họ học chỉ vì lợi ích muốn chỉ trích người
khác, muốn khoái khẩu biện luận, nên họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Ví như một người ưa muốn rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Khi thấy được rắn nước, người ấy bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn quay lại cắn người ấy, người ấy có thể chết hay đau khổ gần như chết, vì nó bắt con rắn một cách sai lạc. Một số người ngu si học pháp, chấp thủ pháp một cách sai lạc cũng bị hại như vậy.
Vậy này các Tỷ-kheo, Pháp mà Ta giảng cho các thầy, cũng ví như chiếc bè để đưa qua sông, chớ không phải để nắm giữ lấy. Các thầy hãy nghe và khéo suy nghĩ ý nghĩa của ví dụ này. Như có người đang đi trên con đường lớn dài đến một vùng nước rộng, bờ bên này thì nguy hiểm hải hùng, bờ bên kia thì an ổn không kinh hãi, nhưng không có cầu, cũng không có thuyền bè để qua, nó bèn thâu góp cỏ cây, cột lại thành chiếc bè dùng tay chân gắng sức bơi qua. Khi qua bờ bên kia rồi, người ấy suy nghĩ: “Chiếc bè này thật lợi ích cho ta, nhờ chiếc bè này mà ta qua được bờ bên kia một cách an toàn. Vậy ta hãy đội chiếc bè trên đầu hay vác nó lên vai đi đến chỗ nào ta muốn”. Này các Tỷ- kheo, người ấy làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Vậy người ấy phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè?
Ở đây người ấy phải kéo chiếc bè lên bờ hoặc nhận chìm xuống nước và đi đến chỗ nào đó muốn, là làm đúng sở dụng của chiếc bè. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, chứ không phải để nắm giữ lấy. Các người cần hiểu ví dụ chiếc bè. Chánh pháp (phép tu chỉ quán) còn phải bỏ huống nữa là phi pháp (tà kiến, chấp thủ).
25. Gia chủ hỏi pháp: Một thời đức Thế Tôn đi đến một làng tên Veludvana của dân chúng Câu- tát-la. Các Bà-la-môn gia chủ ở đây đi đến Thế Tôn, một số đảnh lễ rồi ngồi xuống, một số vái chào hỏi thăm rồi ngồi xuống, một số xưng tên họ rồi ngồi xuống, một số im lặng ngồi xuống.
Rồi các Bà-la-môn bạch Thế Tôn: “Thưa Tôn giả cồ-đàm, chúng tôi ước muốn như thế này, chủ tâm như thế này: Mong cho chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con, được sử dụng các hương chiên đàn, được trang sức bằng vòng hoa và phấn sáp, được sử dụng vàng bạc sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi trời. Vậy mong tôn giả Cồ-đàm hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có dục vọng như vậy được toại nguyện.
Đức Thế Tôn dạy: Này các gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các thầy một số pháp môn đưa đến lợi ích như sau: Các đệ tử bậc Thánh suy nghĩ như vầy: Ta muốn sống không muốn chết, muốn vui không muốn khổ, nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta, nhưng nếu ta đoạt mạng sống của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Như vậy một việc đã không khả ái, không khả ý đối với ta, cũng không khả ái, không khả ý đối với người. Vậy tại sao ta lại đem việc ấy cột cho người khác? Do suy nghĩ như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, lại khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh. Như vậy về thân hành được hoàn toàn thanh tịnh, không bị cấu uế vì nghiệp sát.
Lại suy nghĩ: Nếu có ai lấy của ta mà không được ta đồng ý cho thì gọi là ăn trộm. Nếu có ai tà hạnh bất chánh với vợ con của ta, nếu có ai làm tổn hại ta với lời nói láo, nếu có ai làm chia rẽ bạn bè thân thuộc với lời nói hai lưỡi, nếu có ai đối xử với ta bằng lời nói thô ác, nếu có ai đôi xử với ta bằng lời phù phiếm thêu dệt. Đó là những việc không khả ái, không khả ý đối với ta và nếu ta đem những việc ấy đến cho người khác thì cũng là những việc không khả ái, không khả ý đối với người khác. Vậy tại sao ta lại đem những việc ấy
cột vào cho người khác. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy từ bỏ và khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói thô ác, từ bỏ nói thêu dệt và thành tựu vững chắc lòng tin đối với Phật, Pháp, Tăng và thánh Giới luật. Khi ấy, nếu vị ấy muốn thì vị ấy có thể tuyên bố về mình rằng: Ta đã đoạn tận địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, các ác thú, và biết chắc rằng giải thoát luân hồi sanh tử không còn xa xăm vô hạn nữa.
26. Y chỉ pháp... Khi Phật nhập Niết-bàn, Ngài ở tại xứ Câu-thi-na-kiệt, giữa rừng cây Sa-la song thọ, nằm quay đầu về hướng Bắc mà sáp nhập Niết-bàn. Bây giờ, A-nan tình ái luyến thân thuộc chưa trừ, vì chưa ly dục, tâm chìm trong biển ái, không thể tự ra được. Trưởng lão A-nê-lô-đậu (Anurudha) nói với A-nan: “Thầy là người giữ Phật Pháp tạng, không nên giống như người phàm tự chìm trong biển ái! Hết thảy Pháp hữu vi đều là tướng vô thường, Thầy chớ ưu sầu. Lại nữa, tự tay Phật đã trao Pháp cho Thầy, Thầy nay ưu sầu thì sẽ lầm mất việc đã thọ nhận. Thầy nên thưa Phật: Sau khi Phật Niết-bàn, chúng con hành đạo như thế nào? Ai sẽ là Thầy? Bọn Xa-nặc ác khẩu làm sao cùng ở chung? Kinh Phật bắt đầu nên để lời gì? Những việc vị lai như thế, Thầy nên hỏi Phật”.
A-nan nghe việc ấy, tâm sầu muộn hơi tỉnh, được sức ghi nhớ đạo hỗ trợ, đến bên cuối giường Phật nằm, đem các việc ấy hỏi Phật. Phật dạy A- nan: “Hoặc bây giờ, hoặc sau khi Ta diệt độ, nên tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ nơi nào khác! Thế nào là Tỳ-kheo tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ nơi nào khác? Là Tỳ-kheo quán ở trong thân, thường niệm nhất tâm trí tuệ, siêng tu tinh tấn, trừ tâm tham ưu thế gian; quán ngoài thân, quán trong ngoài thân cũng như thế; quán thọ, tâm, pháp niệm xứ cũng lại như thế. Đó gọi là Tỳ-kheo tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ nơi nào khác. Từ nay, giới kinh giải thoát là Đại sư của các Thầy. Như kinh Giải Thoát Giới dạy: “Thân nghiệp, khẩu nghiệp, nên như thế mà làm. Tỳ-kheo Xa-nặc, sau khi Ta Niết-bàn thì như Pháp Phạm-đàn (mặc tẩn) mà trị. Nếu người có tâm nhu thuận thì dạy họ Kinh San-đà Ca-chiên-diên, tức có thể Đắc đạo. Ta trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, chứa nhóm tạng Pháp bảo; tạng ấy bắt đầu nên để lời: “Như vậy, tôi nghe, một thời, Phật ở tại địa phương ấy, quốc độ ấy, trong rừng cây xứ ấy”, vì sao? Vì các kinh Phật đời quá khứ bắt đầu đều xưng lời ấy, các kinh Phật đời vị lai, bắt đầu cũng xưng lời ấy; các Phật đời hiện tại, cuối cùng khi Bát Niết-bàn cũng dạy xưng lời ấy. Nay Ta, sau khi Nỉết-bàn, bắt đầu kinh cũng nên xưng: “Như vậy, tôi nghe, một thời”.
27. Hiện tượng xảy ra khi Phật nhập Niết-bàn: Trong Kinh Tập Pháp (Dharamasamyrahà-sutra) nói: “Lúc Phật vào Niết-bàn, quả đất sáu cách rung động, các dòng sông chảy ngược, gió mạnh bộc phát, bốn phía nổi mây đen, sấm sét dữ dội, mưa đá đổ xuống, sao băng khắp nơi; Sư tử, ác thú gào thét kêu rống; Chư thiên, Người đời đều cất tiếng la hét. Chư thiên, Người đời đều phát ra lời rằng: “Phật vào Niết-bàn sao mà mau quá. Con mắt của thế gian đã mất”.
Ngay lúc bấy giờ tất cả cỏ cây, cây thuốc, hoa lá cùng lúc rã tan; núi chúa Tu-di đều lay động, nước biển dậy sóng, đất rung động mạnh, núi non băng vỡ sụp, cây cối gãy đổ, bốn phía khói ùn rất là dễ sợ; vũng, ao, sông, ngòi đều quấy nhớp, sao chổi mọc ban ngày. Loài người đều kêu khóc, chư thiên ưu sầu, thiên nữ nghẹn ngào khóc than, nước mắt đầm đìa. Các hàng Hữu học lặng lẽ không vui, các hàng Vô học nghĩ tới Pháp hữu vi hết thảy vô thường. Như vậy, Trời, Người, Dạ-xoa, La-sát, Càn-thát-bà, Chân-đà-la, Ma-hầu-la-già và loài Rồng đều rất buồn rầu; còn các vị A-la-hán đã đắc quả, khỏi biển lão bệnh tử, tâm niệm rằng:
“Đã qua sông ái của phàm nhân,
Đã xé giấy hợp đồng già chết,
Thấy bốn Rắn lớn trong hòm thân,
Nay vào Niết-bàn diệt vô dư. ”
Các vị Đại A-la-hán, ai nấy tùy ý ở trong núi rừng, khe suối, hang động xả thân mà nhập Niết- bàn. Lại có các A-la-hán đi giữa hư không, ví như Nhạn chúa hiện các thứ thần lực, khiến mọi người khởi lòng tin thanh tịnh, vậy sau mới vào Niết-bàn. Trời Lục dục cho đến trời Biến tịnh v.v... thấy các A-la-hán đều vào diệt độ, ai nấy nghĩ: “Mặt trời Phật đã lặn, các đệ tử đầy đủ Thiền định, trí tuệ, giải thoát trước đó cũng đã diệt độ. Các chúng sanh nay đủ các bệnh dâm, nộ, si mà các vị Thầy Pháp dược gấp diệt độ, thì ai sẽ chữa trị cho? Các đệ tử như Hoa sen nở trong biển vô lượng trí tuệ, nay đã khô héo, cây Pháp gãy đổ, mây Pháp tan diệt, Bậc đại trí như Voi chúa đã mất, đàn Voi con cũng đi theo, người gieo Chánh pháp đã mất rồi, Pháp bảo sẽ tìm cầu ở nơi đâu?” như kệ nói:
“Phật đã vĩnh tịch vào Niết-bàn,
Chúng diệt kiết sử cũng qua đi,
Thế giới trống không, không bậc trí,
Ngu tối thêm lên, đèn trí tắt. ”
Chiền-xà (Cinca) vu khống Phật: Các A-la- hán tuy dứt kiết sử mà còn có tập khí tàn dư, còn như chư Phật Thế Tôn, hoặc có người lấy dao cắt
một cánh tay, hoặc có người lấy hương Chiên-đàn xoa một cánh tay, cũng như con mắt bên phải và con mắt bên trái, tâm Ngài không thương ghét; vì Ngài vĩnh viễn không còn tập khí tàn dư.
Con gái Bà-la-môn tên là Chiên-xà (Cinca) độn cái bát giả mang bầu đến mắng Phật ngay ở giữa đại chúng rằng: “Ông làm cho tôi có thai sao không chịu lo cơm áo cho tôi. Ông là người không biết xấu, mê hoặc thiên hạ”.
Bấy giờ năm trăm thầy Bà-la-môn giơ tay mà xướng lên: “Phải, phải, chúng ta biết việc ấy”. Lúc ấy Phật không đổi sắc, cũng không thẹn thùng. Việc ấy tức thời bị lột trần ra, đất liền động mạnh, chư Thiên cúng dường, rải các danh hoa, tán thán đức của Phật, Phật cũng không có sắc mừng.
29. Tu-bạt-đà-la, đệ tử cuối cùng: Tu-bạt-đà Phạm chí một trăm hai mươi tuổi được năm thứ thần thông, ở bên ao A-ma-bạt-đạt-đa. Đêm nọ, Phạm chí mộng thấy một người mất mắt, lõa hình, đứng trong bóng tối, mặt trời rớt, đất vỡ, nước biển cả khô, gió lớn nổi lên thổi núi Tu-di vỡ tan. Thức dậy sợ hãi, ông ta suy nghĩ: “Cớ sao như vậy, mạng ta sắp hết, hay chúa tể trời đất sắp đọa?” Ông do dự không tự rõ vì cớ sao lại thấy có ác mộng ấy. Có vị trời là thiện tri thức, bạn từ đời trước, từ trên trời xuống nói với Tu-bạt-đà: “Ông đừng sợ hãi, có
một bậc Nhât thiết trí gọi là Phật, nửa cuối đêm sẽ vào Vô-dư Niết-bàn, nên ông mộng thấy như thế chớ không phải vì bản thân của ông đâu”.
Sáng hôm sau, Tu-bạt-đà đi đến rừng cây trong vườn Câu-di-na-kiệt (Kusinayara) thấy A-nan kinh hành, nói với A-nan: “Tôi nghe nói Thầy của ông thuyết về đạo Niết-bàn mới, vào nửa đêm hôm nay Ngài sẽ vào Niết-bàn, tâm tôi có chỗ nghi, xin được gặp Phật nhờ giải quyết chỗ nghi của tôi”. A-nan nói: “Thân thể của Thế Tôn đã suy yếu quá chừng, nếu ông đến hỏi, sẽ làm cho Thế Tôn mệt nhọc thêm”. Tu-bạt-đà-la ba lần cầu thỉnh, A-nan vẫn đáp một lời. Phật từ xa nghe được, dạy A-nan: “Hãy để cho Tu-bạt-đà đến trước Ta mà tự do nạn vấn. Đây là lần đàm đạo cuối cùng của Ta và Tu-bạt-đà là đệ tử sau chót của Ta”.
Lúc ấy, Tu-bạt-đà được đến trước Phật, hỏi han Thế Tôn xong, ngồi xuống một bên, nghĩ như vầy: “Các bọn ngoại đạo xả bỏ ân ái tài bảo mà xuất gia, đều không đắc đạo, chỉ một mình Sa-môn Cù-đàm đắc đạo”. Nghĩ như vậy xong, ông liền hỏi Phật: “Lục sư ngoại đạo ở cõi Diêm-phù-đề này đều tự xưng ta là người Nhất thiết trí, lời nói ấy đúng không?”
Bấy giờ Thế Tôn đáp lại bằng kệ:
“Ta mới mười chín tuổi,
Xuất gia học Phật đạo,
Ta xuất gia đến nay,
Đã qua năm mươi năm.
Tịnh giới, thiền, trí tuệ,
Ngoại đạo không một phần,
ít phần cũng không có,
Hà huống Nhất thiết trí. ”
Nếu không có Bát chánh đạo thì ở đó không có đạo quả thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Nếu có Bát chánh đạo, thì ở đó có đạo quả thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Này Tu-bạt-đà, trong pháp của Ta đây có Bát chánh đao nên ở trong đó có đạo quả thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Trong pháp của các ngoại đạo đều không, không có đạo, không có quả, không có Sa-môn, Bà-la-môn. Ta, ở giữa đại chúng, thật đã cất lên tiếng rống Sư tử như vậy.”
Phạm-chí Tu-bạt-đà nghe pháp ấy liền chứng được đạo quả A-la-hán, rồi suy nghĩ: “Ta không nên Bát-niết-bàn sau Phật”. Suy nghĩ như vậy xong, ở trước Phật ngồi kiết-già, tự dùng thần lực, từ trong thân xuất ra lửa đốt thân mà thủ lấy diệt độ.
30. Như lai chăm sóc bệnh: Đời trước ưa roi gậy đánh khảo, giam trói, các thứ não hại nên đời

nay mắc bệnh. Đời nay mắc bệnh là vì không biết nuôi thân, uống ăn không tiết độ, nằm ngồi đi đứng không chừng mực. Do những việc ấy nên bị các thứ bệnh. Như vậy, có bốn trăm lẻ bốn chứng bệnh, nhờ thần lực của Phật làm cho bệnh được lành. Như truyện kể: Phật ở nước Xá-bà-đề, có một cư sĩ thỉnh Phật và Tăng dùng cơm tại tinh xá, Phật ở tinh xá tiếp nhận đồ ăn, vì có năm nguyên do: 1- Sắp nhập định. 2- Sắp thuyết pháp cho chư thiên. 3- Sắp du hành quan sát phòng các Tỳ-kheo. 4- Chăm sóc các Tỳ-kheo bệnh. 5- Sắp kiết giới cho các Tỳ- kheo chưa được kiết giới. Khi ấy Phật đẩy cửa vào phòng các Tỳ-kheo, thấy một Tỳ-kheo bệnh khổ, không ai chăm sóc, nằm mà đại tiểu tiện, không ngồi dậy được. Phật hỏi Tỳ-kheo: "Ông bị khổ gì mà không ai chăm sóc cả?" Tỳ-kheo thưa: "Bạch đức Thế Tôn, con có tánh lười biếng, khi người khác bệnh, con không chăm sóc, cho nên nay con bệnh, người khác cũng không chăm sóc”. Phật bảo: "Thiện nam tử, Như lai sẽ chăm sóc ông".
Khi ấy Thích Đề-bà-na-dân đem nước rửa, Phật lấy tay xoa thân Tỳ-kheo kia. Trong khi xoa thân, thì hết thảy bệnh khổ đều tiêu trừ, thân tâm được an ổn. Khi ấy Thế Tôn từ từ đỡ Tỳ-kheo bệnh dậy, đưa ra ngoài phòng, tắm rửa mặc áo, rồi từ từ đưa trở vào, trải nệm bảo ngồi. Phật nói với Tỳ-
kheo bệnh ấy rằng: "Lâu nay ông không cần cầu việc chưa được khiến được, việc chưa đến khiến đến, mà phải chịu các khổ nạn. Như vậy sẽ phải còn có thống khổ lớn hơn!" Tỳ-kheo nghe rồi, tâm tự suy nghĩ: "Phật ân vô lượng, thần lực vô số, lấy tay xoa cho ta, bệnh khổ tiêu hết, thân tâm khoái lạc!" Vì thế ấy nên nói Phật dùng thần lực khiến người bệnh được lành.
31. Ai đáng tôn kính làm Thầy? Khi Phật mới đắc Đạo, tự suy nghĩ rằng: “Người mà không có chỗ để tồn thờ thời sự nghiệp sẽ không thành, nay trong mười phương trời đất ai là kẻ đáng tôn thờ, Ta sẽ kính làm Thầy mà thờ”. Khi ấy Phạm- thiên vương cùng chư thiên bạch Phật rằng: “Phật là trên hết, không ai vượt qua Phật”. Phật cũng tự dùng Thiên nhãn xem thấy trong ba đời và mười phương trời đất, không có ai hơn Phật. Tâm tự nghĩ rằng: “Ta thực hành Đại Bát-nhã Ba-la-mật mà nay tự mình được làm Phật. Đây là chỗ cho Ta tôn thờ, tức là thầy của Ta, Ta sẽ cung kính cúng dường tôn thờ pháp ấy”. Thí như có một gốc cây tên là Hảo Kiên, ở trong lòng đất một trăm năm, cành lá đầy đủ, một ngày kia ra khỏi lòng đất, cao một trăm trượng. Cây ấy ra khỏi rồi, muốn tìm gốc cây lớn để che mát cho mình. Khi ấy trong rừng có vị thần nói với Hảo kiên rằng: “Trong đời không còn cây nào lớn
hơn ngươi, các cây khác đều ở trong bóng mát của ngươi”. Phật cũng như vậy; vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, sanh ở trong lòng đất Bồ-tát, một ngày kia, ở tại dưới gốc Bồ-đề, ngồi trên chỗ tòa Kim-cang, như thật biết rõ hết thảy các pháp tướng, chứng thành Phật đạo. Bấy giờ tự nghĩ: “Ai đáng tôn thờ để làm thầy, Ta sẽ hầu hạ cung kính cúng dường”. Khi ấy Phạm-thiên vương cùng chư thiên bạch Phật rằng: “Phật là vô thượng, không ai hơn Phật”.
32. Cúng dường nhũ mẫu: Phật là trên hết, trong ba đời mười phương trời đất không ai hơn Phật để mà thực hành sự cúng dường. Cúng dường có thượng, trung, hạ. Cúng dường người thua mình là cúng dường bậc hạ, cúng dường người hơn mình là cúng dường bậc thượng, cúng dường người ngang mình là cúng dường bậc trung. Cũng như Tỳ-kheo- ni Đại Ái Đạo cùng 500 Tỳ-kheo-ni A-la-lán, trong một ngày cùng một lần vào Niết-bàn. Khi ấy hàng ưu-bà-tắc chứng đắc ba đạo quả đỡ giường của 500 Ty-kheo-ni, Tứ-thiên vương đỡ giường nhũ mẫu của Phật là Đại Ái Đạo, còn Phật tự ở trước bưng lò hương, đốt hương cúng dường. Phật nói với các Tỳ-kheo: “Các ông hãy giúp Ta cúng dường thân nhũ mẫu”. Bấy giờ, các Tỳ-kheo A-la-hán, mỗi người dùng lực thần túc, đi đến trên núi Ma-lê, lấy củi hương chiên-đàn ngưu đầu chất thành đống
giúp Phật. Ấy là cúng dường bậc hạ. Do đó, tuy không cầu chứng quả mà vẫn thực hành cúng dường bình đẳng.
Lại nữa, chư Phật nên phải cúng dường Phật, các người khác không biết đức của Phật, như kệ nói:
“Người trí kính người trí,
Trí luận người trí mừng,
Người trí biết được trí,
Như rắn biết chân rắn. ”
Vì vậy, chư Phật là bậc Nhất thiết trí cúng dường bậc Nhất thiết trí.
33. Bồ-tát cúng dường: Chư Phật là phước điền bậc nhất, nếu ai cúng dường thì được quả báo lớn. Cũng như người sửa sang nhiều nông nghiệp ruộng vườn là để được nhiều lúa. Chư Bồ-tát thấy chư Phật cúng dường mà được quả báo làm Phật, cho nên cúng dường.
Lại nữa, Bồ-tát thường kính trọng Phật, như người ta kính trọng cha mẹ. Chư Bồ-tát nhờ nghe Phật thuyết pháp mà được các thứ Tam-muội, các thứ Đà-la-ni, các thứ thần lực. Vì biết ơn Phật cho nên cúng dường rộng khắp. Như trong kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Dược Vương từ nơi Phật mà được tam- muội Biến hiện sắc thân, mới suy nghĩ rằng: “Ta sẽ
cúng dường Phật và Pháp Hoa tam-muội như thế nào?” Liền bay lên đến giữa trời, dùng sức Tam- muội mưa xuống bảy báu, hương hoa, tràng phan, bảo cái, cúng dường Phật. Sau khi ra khỏi Tam- muội, ý còn cho như vậy là chưa đủ, trong một ngàn hai trăm năm ăn những thức ăn thơm, uống các dầu thơm, rồi sau dùng giạ trắng quấn vào mình mà đốt lên và tự phát thệ rằng: “Mong cho ánh sáng của thân tôi chiếu đến tám mươi hằng hà sa thế giới Phật”. Chư Phật trong tám mươi hằng hà sa thế giới ấy tán thán rằng: “Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Lấy thân cúng dường, ấy là bậc nhất, hơn đem quốc thành thê tử cúng dường gấp trăm ngàn vạn lần, không thể đem thí dụ so sánh”. Trong một ngàn hai trăm năm, thân cháy mãi không tắt.
Lại nữa, sự cúng dường Phật ấy được vô lượng tiếng tăm, phước đức lợi trí. Các việc bất thiện đều diệt trừ hết, các thiện căn được tăng trưởng, đời này đời sau thường được quả báo cúng dường, lâu về sau sẽ được làm Phật.
Cúng dường Phật như vậy, được vô lượng các thứ lợi ích, thế nên các Bồ-tát cúng dường Phật.
34. Hang gạch của Tỳ-kheo Đặc-ni-ca: Tỳ- kheo Đặc-ni-ca làm một cái hang bằng gạch màu
đỏ, Phật thấy, đã biết mà cố hỏi A-nan: “Cái đó là vật gì vậy?” A-nan thưa: “Đó là con của người thợ gốm xuất gia, tên là Đặc-ni-ca, làm cái nhà nhỏ bằng cỏ, thường bị bọn chăn trâu phá đi, ba lần làm, ba lần bị phá, do đó mới làm cái nhà gạch ngói này”. Phật bảo A-nan: “Hãy phá cái hang gạch ấy đi, vì cớ sao? Vì bọn ngoại đạo sẽ nói: “Khi Phật đại sư còn đó, pháp lọt ra từ chỗ rỉ”. Nhiều chỗ như vậy, biết mà cố hỏi.
35. Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên: Xá-lợi-phất là vị trí tuệ bậc nhất trong tất cả đệ tử, như Phật có bài kệ nói:
“Trí hết thảy chúng sanh,
Chỉ trừ Phật Thế Tôn,
Muốn sánh Xá-lợi-phất,
Trí tuệ và đa văn,
Ở trong mười sáu phần,
Còn không bằng được một.”
Lại nữa, Xá-lợi-phất có trí tuệ đa văn và công đức lớn. Năm mới tám tuổi, đã tụng mười tám bộ kinh, thông hiểu hết thảy kinh sách nghĩa lý. Khi ấy ở nước Ma-kiệt-đà có anh em Long vương, một tên là Cật-lợi, một tên là A-già-hòa-la. Trời mưa xuống đúng thời, nước không bị mất mùa, nhân dân cảm phục, thường chọn tháng trọng xuân, tất cả
họp lại để đi đến chỗ ở của Rồng, mở đại hội, tấu nhạc, luận nghĩa trọn một ngày. Từ xưa đến nay, sự tập hội ấy chưa bỏ, bèn lấy tên Rồng để đặt tên hội này. Lệ thường trong ngày ấy, trải bốn tòa cao, một cho quốc vương, một cho thái tử, một cho đại thần, một cho luận sư. Bấy giờ Xá-lợi-phất với cái thân tám tuổi, hỏi mọi người rằng: “Bốn cao tòa ấy đặt ra cho ai?” Mọi người đáp: “Cho quốc vương, thái tử, đại thần, luận sĩ”.
Khi ấy Xá-lợi-phất quán sát người đương thời Bà-la-môn v.v... thấy thần tình, đỡm lược, chí hướng của họ, không ai hơn mình, bèn bước lên tòa dành cho luận sĩ, kiết-già phu tọa. Mọi người thấy vậy nghi ngờ lấy làm lạ, hoặc bảo đó là nhỏ dại vô tri, hoặc bảo là có trí tuệ hơn người. Tuy khen cho là thần dị, nhưng vẫn ôm lòng kiêu căng, sợ xấu hổ với tuổi nhỏ kia, không tự mình nói với; mà sai đệ tử niên thiếu chuyển lời để hỏi. Xá-lợi- phất đáp lại đúng chỉ thú, lời lẽ nghĩa lý siêu tuyệt. Khi ấy các luận sư tán thán là chưa từng có. Không luận kẻ ngu người trí, lớn nhỏ tất cả đều phục. Vua rất hoan hỷ, liền ra lệnh quan Hữu ty phong tặng một làng để cung cấp thường xuyên. Vua cỡi xe voi, rung linh tuyên cáo cho tất cả đều rõ. Trong mười sáu đại quốc, sáu đại thành thảy đều vui mừng.
Khi ấy, người con thầy bói tên là Câu-luật-đà, họ Đại Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất kết làm bạn thân. Xá-lợi-phất thì tài trí thông minh được quý, Mục-kiền-liên thì sáng suốt khoát đạt được trọng. Hai người này tài trí ngang nhau, đức hạnh tương đồng, đi thì cùng đi, ở thì cùng ở, nhỏ lớn quyến luyến, giao ước chung thủy. Về sau cả hai nhàm chán việc đời, xuất gia học đạo, làm đệ tử của Phạm chí. Tinh cần cầu đạo, đã lâu mà chẳng có chứng nghiệm, mới đem hỏi thầy. Thầy tên là Sằn- xà-gia (Sànjaya) trả lời rằng: “Từ khi ta cầu đạo, trải bao nhiêu năm, chẳng biết là đạo quả không có chăng hay ta không phải là người cầu đạo chăng mà ta cũng chẳng được gì!”
Một ngày kia ông thầy mắc bệnh, Xá-lợi-phất đứng ở phía trên đầu, Mục-kiền-liên đứng ở phía dưới chân, thấy thở hổn hển, mạng sắp chết, thương xót mà cười. Hai người đồng lòng cùng hỏi cười vì ý gì? Ông thầy trả lời: “Người đời không có mắt, bị ân ái bức bách, Ta thấy vua nước Kim Địa chết, đại phu nhân của ông tự nhảy vào đống lửa, mong cùng ở một chỗ, nhưng hai người ấy hành nghiệp và quả báo khác nhau, nơi sanh đến cũng khác nhau. Khi ấy hai người lấy viết ghi lại ý thầy, muốn để nghiệm xem hư thật”.
Sau có người khách buôn nước Kim Địa, từ xa đi đến nước Ma-kiệt-đà, hai người lấy sự thật xét
nghiệm, quả đúng như lời thầy nói, mới bùi ngùi than rằng: “Chúng ta chẳng phải là hạng người cầu đạo chăng? Hay là thầy còn giấu chúng ta chăng?” Hai người cùng nhau thề rằng: “Nếu ai gặp được vị cam lồ trước, phải cho nhau cùng nếm”.
Lúc ấy, Phật đã độ cả ngàn anh em ông Ca- diếp, đang lần lượt đi qua các nước, đến thành Vương Xá, dừng chân lại ở vườn Trúc. Hai thầy Phạm chí nghe Phật ra đời, cùng nhau đi vào thành Vương Xá để biết tin tức. Bấy giờ có một Tỳ-kheo tên là A-thuyết-thị (Assaja- một trong 5 thầy Tỳ- kheo được Phật độ đầu tiên) mặc y cầm bát, vào thành khất thực. Xá-lợi-phất trông thấy dung nghi y phục khác thường, các căn tịch tịnh, trầm mặc, đi đến hỏi rằng: “Ngài đệ tử ai? Người nào là thầy của ngài?” Đáp: “Thái tử dòng họ Thích nhàm chán sự khổ, già, bệnh, chết, xuất gia học đạo, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là Thầy của tôi”. Xá-lợi-phất nói: “Thầy ông dạy thế nào nói cho tôi biết với?” Tỳ-kheo đáp kệ:
“Tuổi tôi còn trẻ nhỏ,
Ngày thọ giới mới mẻ,
Đâu thể diễn chí chơn,
Nói rộng nghĩa Như lai. ”
Xá-lợi-phất nói: “Xin ngài hãy lược nói nghĩa cốt yếu”. Bây giờ Tỳ-kheo A-thuyết-thị nói kệ:
“Các pháp nhân duyên sanh,
Pháp ấy là nhân duyên,
Pháp ấy nhân duyên diệt,
Đại sư nói như vậy. ”
Xá-lợi-phất nghe kệ xong liền chứng được Sơ quả, trở về để báo lại với Mục-liên. Mục-liên trông thấy nhan sắc từ hòa vui vẻ, nghinh tiếp và hỏi: “Anh được vị cam lồ ư? Hãy nói cho tôi biết?” Xá-lợi-phất liền nói lại cho bài kệ vừa được nghe. Mục-liên nói: “Hãy nói lại cho lần nữa”. Xá-lợi- phất liền nói lại. Mục-liên nghe xong cũng chứng Sơ quả.
Hai thầy cùng hai trăm năm mươi đệ tử, đều đi đến chỗ Phật. Phật từ xa thấy hai người cùng với đệ tử đi đến, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Các ông đã từng thấy hai người ấy ở trước các Phạm chí chăng?” Các Tỳ-kheo thưa: “Bạch Thế Tôn, đã thấy”. Phật nói: “Hai người ấy là đệ tử trí tuệ đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta”.
Hai người cùng đại chúng đệ tử đi dần đến gần Phật, đến rồi cúi đầu và đứng qua một bên, cùng bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn được xuất gia thọ giới ở trong Phật pháp”. Phật nói: “Thiện lai Tỳ kheo!”, tức thời râu tóc tự rụng, áo pháp mặc vào thân, y bát đầy đủ, thọ giới thành tựu.
Qua nửa tháng sau, lúc Phật thuyết pháp cho Phạm chí Trường Trảo, Xá-lợi-phất chứng đắc đạo quả A-la-hán. Sở dĩ nửa tháng sau mới đắc đạo ấy là vì người sẽ làm thầy theo Phật Chuyển pháp luân, thì phải ở học địa, phải hiện tiền tự chứng nhập các pháp, mỗi mỗi biết đầy đủ, thế nên nửa tháng sau mới chứng đắc đạo quả A-la-hán.
36. Tu Bồ-đề đảnh lễ cúng dường Phật: Xá-lợi- phất là vị trí tuệ đệ nhất trong hàng đệ tử Phật thì Tu-bồ-đề là vị được Vô tránh tam-muội đệ nhất trong hàng đệ tử Phật. Tướng trạng của Vô tránh tam-muội là thường quán sát chúng sanh, không để tâm sinh phiền não, phần nhiều hành theo tâm lân mẫn. Các Bồ-tát là người mở rộng thệ nguyện lớn để độ chúng sanh, thương xót đồng đều, thế nên Phật sai nói Bát-nhã Ba-la-mật.
Lại nữa, Tu-bồ-đề ưa tu Không tam-muội. Như Phật ở cung trời Đao-lợi, hạ An cư, Thọ tuế xong, trở xuống lại Diêm-phù-đề. Bấy giờ Tu-bồ-đề đang ở trong hang đá, tự suy nghĩ: “Phật từ trời Đao-lợi đi xuống, ta nên đi đến chỗ Phật? Hay không nên đi đến chỗ Phật ư?” Lại nghĩ: “Phật thường nói, nếu người dùng con mắt trí tuệ để quán Phật pháp thân, thời trong sự thấy Phật đó là hơn cả”.
Lúc ấy, vì Phật từ trời Đao-lợi xuống, cho nên bốn bộ chúng trong Diêm-phù-đề tập họp, do đó
mà chư Thiên thấy người, người cũng thấy chư Thiên. Ngồi ở giữa có Phật và Chuyển luân Thánh vương, chư Thiên, đại chúng. Chúng hội trang nghiêm, từ trước chưa từng có. Tâm Tu-bồ-đề suy nghĩ: “Nay đại chúng này tuy là thù diệu đặc biệt, nhưng thế không thể lâu bền, pháp sanh diệt đều trở về vô thường”. Tôn giả nhân bước đầu của phép quán vô thường này, mà được tất cả các pháp đều là không, không có thật. Khi tu phép quán ấy, Tôn giả liền được chứng đạo.
Bấy giờ, tất cầ mọi người đều mong muốn thấy Phật để lễ kính cúng dường. Có Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc muốn trừ sự xấu của cái tiếng nữ, bèn hóa làm Chuyển luân Thánh vương và bảy báu, ngàn đứa con. Mọi người trông thấy đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Hóa vương đi đến chỗ Phật xong, trở lại thân như cũ, làm Tỳ-kheo-ni trước tiên đảnh lễ Phật.
Khi ấy, Phật nói với Tỳ-kheo-ni: “Chẳng phải ngươi trước tiên đảnh lễ Ta, mà chính Tu-bồ-đề trước tiên đảnh lễ Ta. Vì cớ sao? Vì Tu-bồ-đề quán các pháp Không, ấy là thấy Phật pháp thân, thành chơn cúng dường, hơn hết trong các cúng dường, chẳng phải do cung kính sanh thân là cúng dường vậy.
37. Không đến bờ kia: Ngài Xá-lợi-phất, trong sáu mươi kiếp hành đạo Bồ-tát, muốn vượt qua sông bố thí, bấy giờ có kẻ ăn xin đến xin con mắt,
Xá-lợi-phất nói: “Con mắt không dùng được chi, xin nó làm gì? Nếu cần thân tôi và tài vật, thời tôi sẽ đem cho”. Người kia đáp: “Không cần thân ông và tài vật, chỉ muốn được con mắt thôi. Nếu ông thực hành bố thí, hãy lấy con mắt cho tôi”. Bấy giờ, Xá-lợi-phất móc một con mắt cho, người ăn xin được mắt, liền ở trước mặt Xá-lợi-phất, ngửi rồi chê thúi, nhổ nước miếng mà quăng xuống đất; lại lấy chân chà đạp. Xá-lợi-phất suy nghĩ rằng: “Hạng người tệ như vậy, khó có thể độ được. Con mắt thật vô dụng, mà cố xin cho được, được rồi quăng đi, lại lấy chân chà đạp, sao tệ lắm thế. Hạng người như vậy, không thể độ được; chẳng bằng tự điều phục, sớm thoát vòng sanh tử”. Suy nghĩ thế xong, thối đạo Bồ-tát mà xoay hướng Tiểu thừa; ấy gọi là không đến bờ kia hay còn gọi thối Ba-la-mật. Nếu có thể thẳng tiến không lùi, thành tựu Phật đạo; ấy gọi là đến bờ kia, cũng gọi đáo bỉ ngạn, đắc Ba-la-mật.
38. Kinh Ví dụ Rắn độc: Trong kinh Độc Xà Dụ có nói: “Có người mắc tội với vua, vua sai giữ một cái hòm có bốn con rắn độc, vua bảo người tội chăm sóc nuôi nâng. Người ấy suy nghĩ: “Bốn con rắn ấy khó gần, gần thời bị hại, một con còn không nuôi được, huống là bốn con!” Người ấy liền quăng hòm mà chạy, vua sai năm người cầm đao rượt
theo. Lại gặp một người, miệng thì nói thuận theo mà trong lòng muốn người kia bị thương, nên nói với người ấy rằng: “Biết nuôi rắn đúng cách, ấy cũng không khó”. Nhưng người kia biết rõ, vẫn rong chạy thục mạng, đến một xóm trông vắng, gặp một người lành, mới nói rằng: “Xóm này tuy trông vắng, nhưng là chỗ giặc ở, nay ngươi ở đây chắc chắn bị giặc hại, chớ có ở”. Người ấy lại chạy nữa, đến một con sông lớn, bờ bên kia là một nước khác, nước đó an vui, thản nhiên thanh tịnh, không ó hoạn nạn. Bấy giờ, người ấy gom các cỏ cây, buột lại làm chiếc bè, lấy tay chân bơi tới, hết sức mong vượt qua, khi đã đến được bờ, an vui không còn hoạn nạn.
Vua là ví cho Ma vương, cái hòm là thân người, bốn con rắn độc là bốn đại, năm kẻ giặc cầm đao là năm ấm, một người miệng lành tâm ác là sự nhiễm trước. Xóm trống vắng là sáu căn, giặc là sáu trần, một người thương xót nói cho là vị thầy lành, con sông lớn là ái, chiếc bè là tám Thánh đạo, tay chân siêng bơi qua là tinh tấn. Bờ này là thế gian, bờ kia là Niết-bàn. Vượt qua là A-la-hán sạch hết lậu hoặc. Trong pháp của Bồ-tát cũng như vậy. Nếu bố thí còn có ba thứ chướng ngại là chấp có ta cho, kia nhận và tài vật bố thí, thì ấy là rơi vào cảnh giới Ma, chưa lìa khỏi các nạn. Còn như Bồ-tát bố thí, ba thứ đều
thanh tịnh không chướng ngại, thì được chư Phật khen ngợi; ấy là đến bờ kia. Sáu Ba-la-mật này có thể làm cho người ta qua khỏi biển lớn phiền não nhiễm trước và xan tham v.v... đến nơi bờ kia. Thế cho nên gọi là Ba-la-mật.
39. Tiền thần Phật cứu người: Tiền thân của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, làm vị đại y vương, chữa hết thảy bệnh, không cầu danh lợi, mà chỉ vì thương xót chúng sanh. Song người bệnh quá nhiều, sức không cứu khắp, lo nghĩ đến hết thảy, nhưng không làm được theo tâm nguyện, áo não mà chết, liền sanh lên cõi trời Đao-lợi, tự suy nghĩ rằng: “Nay ta sanh cõi Trời, chỉ ăn phước báo, không có ích lâu dài”, liền tự tìm phương tiện chấm dứt thân mạng, bỏ đời sông cõi trời, hạ sanh làm Thái tử Rồng ở trong cung Long vương Ta-già-đà thân hình to lớn, cha mẹ quý yêu. Thái tử lại muốn lấy cái chết, đi đến vua chim Kim-sí, chim liền bắt Rồng Thái tử đem lên cây Xa-ma-lỵ mà nuốt. Cha mẹ kêu la khóc lóc áo não. Rồng con sau khi đã chết, lại sanh làm Thái tử của vị đại Quốc vương trong cõi Diêm-phù- đề, tên là Năng Thí. Khi sanh Thái tử ra đã nói được, hỏi các người hai bên: “Nay trong nước này có những vật gì đều đem hết lại đây để bố thí”. Mọi người sợ hãi, đều bỏ chạy cả. Mẹ Thái tử thương xót, một mình tự giữ con. Thái tử nói với mẹ: “Con
không phải quỷ La-sát, sao mọi người chạy hết? Kiếp trước của con thường ưa bố thí, con là Đàn-việt của mọi người”. Mẹ Thái tử nghe lời nói ấy, đem nói lại với mọi người, mọi người liền trở lại.
Bà mẹ khéo nuôi nấng Thái tử. Đến khi khôn lớn, tự mình có được gì Thái tử đều đem bố thí hết. Đến chỗ vua cha, xin vật để bố thí, vua cha chia phần cho lại đem thí hết. Thấy người cõi Diêm- phù-đề nghèo cùng tân khổ, suy nghĩ muốn cấp thí mà tài vật không đủ, Thái tử bèn tự than khóc, hỏi người hai bên rằng: “Làm cách nào để khiến cho hết thảy đầy đủ tài vật?” Các người lão trả lời: “Chúng tôi từng nghe nói có ngọc Như ý, nếu được ngọc ấy thời có thể tùy tâm cầu gì được nấy”.
Bồ-tát nghe lời ấy xong, thưa với cha mẹ xin đi vào biển cả tìm ngọc báu Như ý trên đầu Long vương. Cha mẹ trả lời: “Ta chỉ có một mình con, nếu vào biển cả, tai nạn khó tránh. Một mai mất con, chúng ta còn sống làm gì, không nên đi! Trong kho của ta hiện còn nhiều vật, sẽ cấp cho con”. Thái tử nói: “Vật trong kho có hạn, mà tâm con vô hạn. Con muốn đem của cho đủ hết thảy, không còn ai thiếu thốn. Xin chấp nhận cho con được toại nguyện, làm cho người cõi Diêm-phù-đề, hết thảy sung túc”. Cha mẹ biết chí lớn của con, không dám cấm ngăn, bèn để cho đi.
Khi ấy năm trăm khách buôn, vì cho Thái tử là bậc đại nhân phước đức, đều thích đi theo, biết ngày khởi hành của Thái tử, tập họp tại cửa biển. Bồ-tát trước nghe nói trên đầu Long vương Ta-già- đà có ngọc báu Như ý, hỏi mọi người rằng: “Ai biết thủy đạo dẫn đến cung của Rồng kia?” Có một người mù tên là Đà-xá, từng có bảy phen đi vào biển cả, biết rõ hải đạo. Bồ-tát liền bảo cùng đi. Người ấy trả lời: “Tuổi tôi đã già, hai mắt không sáng, tuy từng vào biển nhiều lần, song nay không thể đi được”. Bồ-tát hỏi: “Ta nay đi đây, không vì thân mình mà khắp vì hết thảy tìm ngọc Như ý, để cung cấp đủ cho chúng sanh, để cho thân không còn thiếu thốn. Kế đó Ta đem đạo nhân duyên mà giáo hóa họ. Ông là người trí, từ chối sao được ư? Nguyện ta được thành tựu, há chẳng phải nhờ sức của ông sao!” Đà-xá nghe lời Thái tử ước hẹn, vui vẻ đồng tình, nói với Bồ-tát rằng: “Nay tôi đi với ông vào biển cả, chắc thân tôi không toàn, ông hãy đặt thi hài của tôi trên bãi cát vàng trong biển cả”.
Việc ra đi tập họp xong, bức sợi dây thứ bảy, thuyền đi như bay, đến các bãi báu. Các khách buôn dành lấy bảy báu, ai nấy đã đủ, hỏi Bồ-tát rằng: “Vì sao không lấy?” Bồ-tát trả lời: “Thứ tôi cầu là ngọc báu Như ý, còn đây là vật có ngày hết, tôi không cần. Các người hãy nên biết đủ, biết độ
lượng, đừng để thuyền nặng, không tự thoát khỏi được”. Các khách buôn thưa với Bồ-tát rằng: “Đại đức, hãy chú nguyện cho chúng tôi để được an ổn”. Rồi cáo từ chia tay. Đà-xá khi ấy nói với Bồ-tát rằng: “Giữ lại chiếc thuyền nhỏ theo đường riêng mà đi. Đợi gió bảy ngày, nương gió qua bờ biển phía nam, đến một chỗ hiểm, sẽ có ven núi chót vót, nhánh cây rừng táo đều phủ trên nước, gió lớn thổi thuyền, thuyền sẽ lật ấp. Ông hãy ngước lên vịn cành cây táo, có thể tự cứu được; còn tôi không có mắt, sẽ chết nơi đây. Qua khỏi bờ hiểm này, sẽ có bãi cát vàng, có thể đem xác tôi đặt trong cát ấy; cát vàng thanh tịnh, ấy là nguyện của tôi”.
Thái tử liền như lời nói ấy, gió đến mà đi. Khi đã đến bờ chót vót, đúng như lời Đà-xá nói, Bồ-tát ngước vin cành táo, tự được thoát khỏi. Thái tử đặt thây Đà-xá, quàng yên nơi đất vàng, rồi đi một mình. Đúng như lời chỉ bày của Đà-xá trước đó, nổi trong nước sâu bảy ngày; giữa nước ngang hông đi bảy ngày; giữa nước ngang lưng đi bảy ngày; giữa nước ngang đầu gối đi bảy ngày; sát giữa bùn đi bảy ngày. Thầy hoa sen đẹp, xinh tươi mềm dịu, Bồ-tát tự suy nghĩ: “Hoa này mềm bở, ta hãy nhập Hư không tam-muội, tự làm nhẹ mình”, Thái tử đi trên Hoa sen bảy ngày. Thấy các con Rắn độc, Thái tử lại suy nghĩ: “Loại trùng ngậm độc rát đáng
sợ”. Bồ-tát liền nhập Từ tâm tam-muội, đi trên đầu Rắn độc bảy ngày. Rắn độc ngẫng đầu để cho Bồ- tát đạp lên trên mà đi qua. Qua khỏi nạn này, Bồ- tát thấy có thành báu bảy lớp, có bảy lớp hào; trong hào đầy cả Rắn độc; có hai con Rồng lớn giữ cửa. Rồng thấy Bồ-tát hình dung đoan chánh, tướng hảo uy nghi, vượt khỏi các nạn được đến nơi đây; suy nghĩ rằng: ”Đây không phải là người phàm phu, chắc là bậc Bồ-tát công đức lớn” liền cho phép bước tới đi thẳng vào cung.
Bấy giờ vợ chồng Long vương vừa mới chôn con, còn đang khóc lóc. Thấy Bồ-tát đến, vợ chồng Long vương có thần thông, biết đó là con, hai vú sửa chảy ra, bảo ngồi xuống mà hỏi rằng: “Con là con ta, bỏ ta mà qua đời, nay sanh ở chỗ nào?” Bồ-tát cũng tự biết kiếp trước, biết đây là cha mẹ, mà trả lời mẹ rằng: “Con sanh trên cõi Diêm-phù-đề, làm Thái tử của đại Quốc vương, thương xót người nghèo cùng, đói rét cực khổ, không được tự tại, cho nên đi đến đây, muốn xin ngọc Như ý”. Long mẫu nói: “Trên đầu cha con, có ngọc báu đó để trang sức đầu, khó có thể cho được. Chắc sẽ đưa con vào các kho báu, tùy ý con muốn, ắt muốn cho con. Con hãy trả lời rằng: Các thứ tạp bảo kia, con không cần, con chỉ muốn được ngọc báu trên đầu phụ vương. Nếu được thương xót, xin lấy cho con. Như thế có thể được”.
Bồ-tát liền đến gặp Long phụ, Long vương rất vừa mừng, vừa thương, vui vẻ vô hạn. Thương nghĩ đứa con, từ xa vượt gian nan mới đi đến được đây, liền đưa tay chỉ các châu bảo tốt: “Tùy ý cho con, cần thì lấy”. Bồ-tát nói: “Con từ xa đến, nguyện gặp phụ vương, cầu xin ngọc báu Như ý trên đầu. Nếu được thương xót, hãy lấy cho con; nếu không được cho, con không cần vật khác”. Long vương trả lời rằng: “Ta chỉ có một viên ngọc, thường trang sức trên đầu, người cõi Diêm-phù-đề bạc phước hạ tiện, không đáng thấy”. Bồ-tát nói: “Con vì ngọc đó, xa vượt gian nan, liều chết đến đây, chính vì người cõi Diêm-phù-đề bạc phước bần tiện, để xin ngọc báu Như ý cứu vớt sự mong cầu của họ; vậy sau lấy nhân duyên Phật đạo mà giáo hóa họ”. Long vương cho ngọc và dặn dò rằng: “Nay ta lấy ngọc này cho con, khi con qua đời, hãy đem trả lại cho ta”. Bồ-tát thưa: “Kính vâng như lời phụ vương nói”.
Bồ-tát được ngọc, bay lên hư không, trong khoảnh khắc co duỗi cánh tay, đã đến Diêm-phù- đề. Vua cha vua mẹ cõi người thấy con yên lành trở về, vui mừng nhảy nhót, ôm mà hỏi rằng: “Con được vật gì?” Bồ-tát thưa: “Được ngọc báu Như ý”. Lại hỏi: “Nay ở đâu rồi”? Đáp: “ở trong chéo áo này”. Cha mẹ nói: “Sao, nó lớn nhỏ thế nào?”
Thưa: “Cốt ở thần đức của nó, không cốt lớn. Thưa cha mẹ, hãy sắc cho trong ngoài thành, quét dọn đốt hương, treo lụa, phan, lọng, trì trai thọ giới, sáng sớm ngày mai, dựng cây dài làm nêu, lấy ngọc đặt lên trên”. Bồ-tát, khi ấy lập thệ nguyện rằng: “Nếu tôi sẽ thành Phật đạo, độ thoát hết thảy thì ngọc sẽ theo như ý nguyện của tôi, xuất sanh hết thảy bảo vật, tùy ai cần gì đều được đầy đủ”. Bấy giờ, mây im trải khắp, mưa các vật báu; y phục ẩm thực, ngọa cụ thuốc thang, đầy đủ tất cả điều cần thiết cho mọi người; cho đến khi mạng chung, thường như vậy không dứt.
40. La-hầu-la bị Phật quở: La-hầu-la là con Phật khi Ngài còn là Thái tử, thuở còn ấu thơ, chưa biết dè miệng, có người đến hỏi: “Thế Tôn có ở nhà chăng?” Nói dối là: “Không có ở nhà”. Nếu khi Phật không ở nhà, có người hỏi: “La-hầu-la, Phật ở nhà chăng?” Nói dối là: “Phật ở nhà”. Có người kể lại với Phật, Phật bảo La-hầu-la: “Cầm chậu lấy nước cho Ta rửa chân”. Phật rửa chân xong, bảo: “Úp chậu ấy lại”. Theo lời dạy, La-hầu- la liền úp lại. Phật bảo La-hầu-la: “Lấy nước rót lên”. Rót xong, Phật hỏi: “Nước có vào trong chậu chăng?” Thưa: “Bạch Thế Tôn, không vào”. Phật bảo La-hầu-la: “Cũng như vậy, người không biết tàm quý, sự nói dối che tâm, đạo pháp không vào
được”. Như Phật dạy: Nói dối có 10 tội: 1. Hơi miệng hôi. 2. Thiên thần xa lánh, kẻ phi nhân được tiện lợi. 3. Tuy có nói thật không ai tin thọ. 4. Người trí mưu nghị, thường không được tham dự. 5. Thường bị phỉ báng, bị tiếng xấu ác đồn khắp thiên hạ. 6. Không được người cung kính, tuy có dạy bảo, người ta không thừa nhận ứng dụng. 7. Thường nhiều ưu sầu. 8. Gieo nghiệp nhân duyên cho sự phỉ báng. 9. Thân hoại mạng chung sẽ sa vào địa ngục. 10. Nếu được ra làm người, thì thường bị phỉ báng. Các thứ như vậy không làm, ấy là không nói dối, gọi là thiện luật nghi của miệng.
41. Ma vương quấy Phật: Khi Đức Phật Thích- ca Mâu-ni thành Đạo tại cội cây Bồ- đề, Ma vương lo sầu, sai ba ngọc nữ, một tên là Ưa Thấy, hai tên là Vui Kia, ba tên là Khát Ái, đi đến hiện thân hình, làm đủ thứ bộ điệu, muốn phá hoại Bồ-tát. Bồ-tát lúc ấy tâm không lay động, mắt không hề ngó. Ba người nữ nghĩ rằng: “Lòng người không đồng, ưa thích khác nhau; hoặc ưa trẻ, hoặc ưa trung niên, hoặc ưa dài ưa ngắn, ưa trắng ưa đen. Các sự ưa như vậy, đều có sở thích riêng”.
Bấy giờ ba người nữ mỗi mỗi hóa làm 500 gái đẹp, mỗi mỗi gái đẹp ấy hiện ra vô lượng biến thái, từ trong rừng đi ra. Giống như mây đen, điển chớp sáng chốc chốc hiện ra, hoặc nhướng mày
nhíu mi, nàng dâu trẻ chăm nhìn, làm trò múa hát, dáng dấp tươi đẹp, đến rước Bồ-tát, muốn lấy trạng thái thân hình chạm bức Bồ-tát. Bấy giờ lực sĩ Kim cang Mật Tích trợn mắt quát lớn: “Đây là người nào, mà các ngươi yêu mị dám đến xúc nhiễu?”. Khi ấy Mật tích nói kệ mắng:
“Ngươi không biết Thiên đế,
Mất đẹp mà râu vàng,
Nước biển lớn trong xinh,
Ngày nay toàn mặn đắng.
Ngươi không biết trắng giảm,
Bà-tẩu chư thiên đọa.
Lửa vốn là miệng trời.
Mà nay ăn hết thảy. ”
Ngươi không biết việc ấy, mà dám khinh bậc Thánh này?” Khi ấy, các Ma nữ rón rén lùi lại, nói với Bồ-tát rằng: “Nay chúng nữ này đoan nghiêm không ai sánh bằng, có thể tự làm vui lòng, chứ ngồi ngay thẳng làm chi?” Bồ-tát nói: “Các ngươi bất tịnh, xú uế đáng gớm, hãy đi đi, chớ nói dối!” Bồ-tát liền nói kệ:
“Thân ấy là ở nhơ,
Chứa đồ nhơ thối nát,
Nó thật là cầu tiểu,
Đâu đủ để vui lòng!”.
Các nữ nghe kệ ấy, tự nghĩ: “Người này không biết chúng ta có thân Trời thanh tịnh, nên nói kệ ấy”. Liền tự biến thân trở lại hình cũ, sáng chói rực rỡ, chiếu giữa rừng cây, múa ca nhạc trời, nói với Bồ-tát rằng: “Thân tôi như vầy, có chi đáng mắng?” Bồ-tát đáp rằng: “Thời đến tự biết”. Hỏi: “Lời nói ấy là thế nào?” Nói kệ đáp rằng:
“Trong vườn rừng chư thiên,
Ao hoa sen bảy báu,
Chư thiên cùng vui chơi,
Khi mất, ngươi tự biết.
Lúc ấy thấy vô thường,
Vui trên trời đều khổ,
Ngươi nên chán dục lạc,
Ưa vui đạo chánh chơn. ”
Các nữ nghe kệ xong, tâm nghĩ rằng: “Người này trí lớn vô thượng, sự vui của trời thanh tịnh mà còn biết nó xấu, thì ta đây không thể đương nổi”, liền biến mất.
42. Vấn nạn Phật: Có một Tỳ-kheo tên Malunkyà đối với mười bốn nạn vấn ấy, tư duy quán sát, không thể thông đạt được nên tâm không nhẫn được, mới ôm y bát đi đến chỗ Phật, bạch Phật rằng: “Phật nếu có thể giải mười bốn nạn vấn này cho con, khiến cho con được hiểu rõ, thì con sẽ
làm đệ tử, nếu không thể hiểu rõ, thì con sẽ đi tìm đạo khác”. Phật dạy: “Người ngu! Ông có từng ước hẹn với Ta, nếu Ta đáp mười bốn nạn vấn thì ông làm đệ tử Ta chăng?” Tỳ-kheo nói: “Bạch Thế Tôn, không!” Phật nói: “Ông là người ngu, sao nay lại nói nếu không đáp cho con, con sẽ không làm đệ tử? Ta vì người bị già, bệnh, chết mà thuyết pháp tế độ cho họ. Mười bốn nạn vấn ấy là pháp đấu tranh, không ích chi đến Chánh pháp, chỉ là hý luận, hỏi để làm chi? Nếu đáp cho ông, tâm ông không rõ, đến chết vẫn không hiểu, vẫn không thoát được sanh, già, bệnh, chết. Ví như có người thân bị tên độc, bà con mời thầy thuốc để rút mũi tên, xức thuốc, người ấy bèn nói: “Chưa được rút mũi tên, trước tiên phải nói cho tôi biết họ tên, thân lý, cha mẹ, tuổi tác người bắn; tôi lại muốn biết mũi tên xuất từ núi nào, cây gì, lông gì, bịt nhọn mũi tên là người nào, làm bằng sắt gì, lại muốn biết chiếc cung bằng cây ở núi nào, sừng con chi, rồi lại muốn biết cây thuốc sanh ở chỗ nào, tên chủng loại gì? Những việc như vậy tôi cần biết rõ tất cả, sau tôi mới cho người rút mũi tên và xức thuốc”. Phật hỏi Tỳ-kheo: “Người kia có thể biết hết mọi việc ấy, sau mới cho rút mũi tên ư?” Tỳ- kheo thưa: “Không thể biết được. Nếu chờ cho biết hết, thời đã chết mất rồi!” Phật dạy: “Ông cũng
như vậy, bị mũi tên tà kiến, bôi thứ thuốc độc ái, đã thấm vào tâm ông, trước vì muốn nhổ mũi tên ấy nên làm đệ tử Ta, nhưng nay lại không muốn nhổ mũi tên, chỉ muốn tìm biết hết thế gian là thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên... tìm biết chưa được thì đã mất tuệ mạng, chết như súc sanh, tự rơi vào tối tăm!” Tỳ-kheo hổ thẹn, biết sâu lời Phật, liền chứng được đạo quả A-la-hán.
VII. Mấy năm Đức Phật về già
Xưa nay những người sống lâu thường hay gặp phải cảnh mắt trông thấy người thân yêu, kẻ tin cậy chết trước mình. Đức Phật cũng vậy. Trong hàng đệ tử có hai vị thân tín nhất là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đều viên tịch trước Phật.
Một hôm trên đường du hóa trở về, hai Ngài bị bọn đồ đệ ông Bảo-lạc-noa thuộc giáo phái ngoại đạo Ni-kiền-tử, cầm gậy chận đường gây sự rồi đánh chết. Bọn này khi thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi tới, đứng chận lại hỏi: “Trong chúng Chánh mạng có Sa-môn không?”
Ngài Xá-lợi-phất vốn là bậc trí tuệ đệ nhất đoán biết ý chúng, nên trả lời: “Trong chúng Chánh mạng Sa-môn không, trong chúng Thích-ca Sa-môn có, nếu A-la-hán còn tham ái là không có kẻ ngu si”. Chiíng không hiểu nghĩa, tưởng Ngài
khen mình nên để cho Ngài đi. Đến lượt Ngài Mục- kiền-liên đi tới, chúng lại hỏi câu ấy. Ngài Mục- kiền-liên liền đáp: “Trong chúng các ngươi làm gì có quả vị Sa-môn”. Bị chúng cho là nhục mạ chúng, vây đánh nhừ tử rồi bỏ đi. Ngài Xá-lợi-phất quay lại, trông thấy Ngài Mục-kiền-liên mình mẩy bầm nát, xương thịt rời từng mảnh trên đất, liền lấy áo Cà-sa bọc đem về tinh xá. Được hỏi tại sao Ngài là bậc thần thông đệ nhất lại để bị như thế, Ngài Mục-kiền-liên trả lời: “Khi mãn nghiệp rồi, chỉ một chữ: “Thần” tôi cũng chưa nhớ rõ huống hồ là phát “thông”. Rồi Ngài nhắc lại lời Phật: “Giả sử kinh bách kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ” (Dù trải qua trăm kiếp, nghiệp đã tạo không mất, khi nhân duyên hội tụ, phải thọ nhận quả báo). Kế đó Ngài viên tịch.
Ngài Xá-lợi-phất thấy bạn mình như thế, liền đến xin Phật để vào Niết-bàn. Ngài nói: “Ngã ư sinh bất ái, ư tử diệc vô ưu, thị cố ngã Niết-bàn, cánh vô quá thử lạc” (Con đối với sinh không ham, đối với tử không sợ, cho nên con Niết-bàn, vui này hơn tất cả).
Phật hỏi tiếp hai phen, Ngài trả lời: “Con muốn vào Niết-bàn”. Phật liền dạy: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt dĩ diệt, tịch
diệt vi lặc”. Nếu Ngươi thấy việc gì đúng thời, đúng chỗ, đúng pháp thì tùy ý Ngươi chứ Ta còn nói gì nữa”. Tôn giả Xá-lợi-phất lạy sám hối Phật 3 lạy và cầu xin Phật từ bi chỉ cho những điều Phật thấy, nghe, nghi điều tội gì không? Phật dạy: Thầy là bậc trí tuệ trong Pháp của Ta, lâu nay thầy đã sống không những đối với Thế Tôn mà cả đại chúng hòa hợp thanh tịnh như nước hòa với sửa. Nay công hạnh độ sanh của Thầy đã mãn, trước khi đi hãy đến chào từ biệt chúng tăng... Ngài y theo lời Phật dạy và từ tạ Phật đi đến thăm và sách tấn Tăng chúng. Sau đó Ngài đến thôn Na-la-đà và Niết-bàn tại đó.
Lại nói với ông vua có công lớn giúp Phật là vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đà và vua Ba-tư- nặc nước Kiều-tất-la, đều kế nhau gặp nạn mà chết. Vua Tần-bà-sa-la có người con là A xà thế (Ajatasatu) giết vua cướp lấy ngôi lên làm vua nước Ma-kiệt-đà. Sở dĩ A-xà-thế gây nên tội ác này cũng bởi nghe lầm lời xui khiến của Đề-bà- đạt-đa. Ông này khi đắc thế xui vua chống báng Phật, hạ lịnh cấm nhân dân trong nước không ai được đi lại với Phật. Thậm chí có một tín nữ trong hoàng cung tên Erimati vì mạn phép thắp hương ở bàn thờ Phật mà phải bị tội chém. Nhưng sau nhờ lời cảnh giác của mẫu hậu, ông đem lòng ăn năn
hối hận, liền hạ lịnh trục xuất Đề-bà-đạt-đa và không chống báng Phật nữa. Một hôm, giữa đêm ông tìm tới trước Phật tỏ lòng qui kính, và thú tội rằng: “Tôi xin thành tâm quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngày nay tôi khổ não trong lòng, đem thân đến đây nương náu cửa Phật, xin Thế Tôn rộng lượng dung tôi. Tôi là đứa ngu, tôi là thằng dại, tôi là kẻ ác, tôi đã phạm tội nặng, bởi phép mầu cha tôi là người trung chính, trung thực. Tôi đã giết cha tôi để cướp lấy ngôi vua, xin Thế Tôn cho tôi thú tội, từ nay cho tôi thụ giáo”. Vua nói giữa trước mặt cả Tăng hội, Phật nghe rồi, an ủi cho vua rằng: “Tội đã thú là tội hết”.
Giáo hội đã phải trải qua một lúc khó khăn vì sự chống báng của vua A-xà-thế, nhưng từ nay lại được ông hết lòng ủng hộ, cung kính. Mỗi khi triều đình có việc quan trọng phải giải quyết, vua thường đến thỉnh giáo đức Thế Tôn.
Một ngày nọ, vua muốn đem binh đi xâm chiếm đất đai của dân Bạt-kỳ giàu có, bèn phái đại thần Vũ-xá đến Phật thưa hỏi về ý định xâm lăng của A- xà-thế. Đức Phật liền bắt qua nói chuyện với đại đức A-nan để gián tiếp trả lời cho vị khách của Ngài:
- Này A-nan, thầy có nghe dân Bạt-kỳ đối xử với nhau bằng cách nào mà xứ sở họ được giàu có hùng mạnh?
-  Bạch đức Thế Tôn, đệ tử thường nghe người Bạt-kỳ từ bậc vua chúa đến hàng thứ dân đều áp dụng chính sách rất khôn ngoan để bảo tồn vĩnh viễn bờ cõi và sự phồn vinh của họ.
-  Thật vậy A-nan! Dân Bạt-kỳ thường trên dưới thuận hòa, thi hành bảy điều căn bản để duy trì đất đai và sự giàu có xứ sở họ mà xưa nay chẳng có một cuộc ngoại xâm nào thắng được họ.
  1. Thường họp nhau giải quyết vấn đề chung của quốc gia.
  2. Đoàn kết thuận hòa với nhau.
  3. Thi hành đúng theo Pháp luật chế định.
  4. Tôn kính bậc trưởng thượng.
  5. Kính nể hàng phụ nữ.
  6. Bảo tồn các đền thờ trong xứ.
  7. Sùng bái các bậc Thánh nhân.
Sứ giả Vũ-xá nghe Phật kể xong liền thưa: Nếu quả thực vậy thì chẳng nên mạo hiểm xâm chiếm xứ Bạt-kỳ và ông xá Phật lui về.
Sau khi rời khỏi, Phật liền hội chư Tăng lại dạy 7 điều cần thiết để duy trì Giáo hội được lâu bền.
1. Các thầy Tỷ-kheo phải sống tập đoàn và thường hội họp để học hỏi lẫn nhau.
2. Các thầy Tỷ-kheo phải luôn luôn hòa hiếu trong đời sống hằng ngày, lúc hội họp, lúc giải tán, lúc hành Tăng sự.
3. Các thầy Tỷ-kheo thông hiểu những điều ngăn cấm, chẳng nên sửa đổi hay chế bỏ các điều luật, mà phải nghiêm trì đầy đủ.
4. Các thầy Tỷ-kheo phải tôn kính và vâng lời các bậc Trưởng lão nhiều kinh nghiệm.
5. Các thầy Tỷ-kheo trước vì người sau vì mình, không nên để cho lòng tham muốn chi phối.
6. Các thầy Tỷ-kheo phải biết tự chủ, biết dắt dìu đàn em có tài đức đến nơi an lạc.
7. Các thầy Tỷ-kheo lo phòng hộ tâm ý, lấy hiếu kính làm đầu.
Kế đến vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tất-la vì con là Lưu Ly vương, (Vurudhaka cũng gọi là Ác Sinh vương) nhờ tay quan chưởng binh trong nước tên là Trường Hành cổ động để đoạt ngôi mà lên làm vua. Vua Ba-tư-nặc phải trốn tránh, bị đói khát mà chết tại phần đất của thành Vương Xá.
Sau khi Ác Sinh-vương lên ngôi, nghe theo người bạn ác là Khổ Mẫu xúi dục, kéo quân đến nước Ca-tỳ-la-vệ tàn sát nhân dân dòng họ Thích để báo trả một môi thù từ khi Ác Sinh còn nhỏ. Phật biết trước việc thảm sát này cố hết sức can
thiệp nhưng không sao ngăn được. Ngài trông thấy quê cha đất tổ bị quân ngoại bang chinh phục tàn phá nước diệt dân mà không biết làm sao được. Nhân đó Phật dạy về nghiệp nhân đã chín muồi đến lúc trả quả thì không thể nào thay đổi được.
VIII. Đức Phật nhập Niết-bàn
Khi Phật đến Tỳ-xá-ly thì mùa mưa sắp đến. Phật dạy các thầy Tỷ-kheo lựa nơi nhập hạ ở các làng kế cận. Riêng Ngài nhập hạ tại làng Beluva và đã nhuốm bịnh nặng hình như sắp vào Niết-bàn, cảnh giới giải thoát tối hậu, nhưng Ngài dùng sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bịnh để thân thể khỏe lại. Nhân lúc Phật ngồi nghỉ mát ngoài tinh xá, Đại đức A-nan đến bên thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, con thấy đức Thế Tôn khỏe mạnh kham nhẫn, con mừng. Trước đây thấy đức Thế Tôn lâm bịnh, con tự thấy thân con yếu ớt như lau sậy, mắt con lòe đi dù con còn một chút an ủi rằng: “Đức Thế Tôn sẽ không diệt độ nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo”. Phật dạy: “Này A-nan, chúng Tỷ- kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta! Ta đã giảng dạy Chánh pháp không phân biệt trong ngoài. Như lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay lại. Nhưng ai nghĩ rằng Ta cầm đầu chúng Tỷ-kheo hay chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta thì người ấy sẽ có lời giáo huấn cho chúng Tỷ-kheo, còn
Như lai không nghĩ như thế, làm sao Như lai có lời giáo huấn cho chúng Tỷ-kheo.
Này A-nan, Ta nay đã già rồi, như cỗ xe mòn chạy được là nhờ dây thằng chằng chịt, chỉ trong khi Như lai không suy nghiệm đến các tướng, diệt trừ mọi cảm thọ, an trú vô tướng tâm định, thì thân Như lai được thoải mái. Vậy nên A-nan! Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, chớ nương tựa vào gì khác. Hãy dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chứ đừng nương tựa vào một cái gì khác”.
Đức Phật lần lượt đôi ba phen gợi ý định vào Niết-bàn với Đại đức A-nan, song Đại đức giả A- nan chỉ làm thinh, không hiểu để yêu cầu Đức Phật sống lâu hơn nữa.
Lúc Ngài A-nan lui ra thì ác ma đến cầu xin, thúc giục Phật sớm vào Niết-bàn (Nirvana). Nó nhắc lại lời Phật đã hứa với nó lúc mới thành Đạo. Phật cho nó biết Ngài sẽ vào Niết-bàn sau 3 tháng nữa.
Bấy giờ quả đất rung rinh ghê rợn, Tôn giả A- nan mới biết, nhưng sự đã muộn rồi! Phật họp chúng lại khuyên nhủ rằng: “Các hành là vô thường, hãy tinh tấn lên để tự giải thoát”.
Không bao lâu nữa, từ nay đến 3 tháng, Như lai sẽ diệt độ. Trong 3 tháng còn lại này, Đức Phật
vẫn đi đến các nơi để làm trọn đại nguyện hóa độ chúng sinh.
Mỗi cuối đêm Phật đều dùng tuệ nhãn quán sát ai có đủ cơ duyên đắc độ để sáng ra Ngài tìm đến hóa độ. Trong giờ phút cuối cùng, Ngài vẫn thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
Tóm lại cứ nghe theo tôn chỉ tùy cơ thuyết pháp bình đẳng giáo hóa, Đức Phật đã không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không tiếp độ kẻ hữu duyên quay đầu về Chánh đạo. Căn cơ dù có sai khác, song ai đã được gặp, thấm nhuần Giáo pháp, họ đều hưởng đươc sự an lành và đem lại an lành cho kẻ khác như mình vậy.
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »