Đức Phật Thích Ca
Đã Xuất Hiện Như Thế
THÍCH TRUNG HẬU - THÍCH HẢI ẤN
Sưu tập & giới thiệu
ĐỨC PHẬT THÍCH - CA ĐÃ
XUẤT HIỆN NHƯ THẾ
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA SÀI GÒN
Lời giới thiệu
"Đức Phật Thích-ca đã xuất hiện như thế": dưới một nhan đề đơn giản, quyển sách này động đến một vấn đề không đơn giản chút nào, một vấn đề căn bản, cốt lõi. Bởi vì, "xuất hiện như thế" là vì đức Phật Thích- ca là như thế, và chính câu hỏi đầu tiên đặt ra là trên hai từ "như thế" ấy. Phải biết Ngài là ai mới hiểu được tại sao Ngài đã xuất hiện như thế. Ngài là như thế cho nên Ngài mới xuất hiện như thế.
Vậy, đức Phật Thích-ca là ai? Câu hỏi đã được đặt ra ngay từ đầu, từ những ngày đầu tiên trên đường du hóa của đức Phật, và chính Ngài đã trực tiếp trả lời. Người hỏi là một nhân vật Bà la môn tên là Dona, có biệt tài coi tướng. Anh này, chợt thấy dấu chân của ai để lại trên đường, dấu chân kỳ lạ in hình bánh xe với hàng ngàn đường kính, bèn theo dõi bước đi cho đến khi gặp Phật đang tĩnh tọa dưới một gốc cây, toàn thân tỏa ra ánh sáng. Choáng ngợp trước cảnh tượng như vậy, anh hỏi: "Ngài là ai?" Trong tư tưởng Ấn Độ thời đó, thế giới không phải chỉ có loài người mà còn có những bậc cao hơn, biết làm phép lạ, cho nên anh hỏi: "Ngài có phải là tiên?" Đức Phật trả lời: "Ta không phải là tiên". Anh hỏi: "Vậy Ngài là thần?" Trả lời: 'Ta không phải là thần". Chẳng lẽ bậc kia chỉ là người? Anh hỏi: "Vậy Ngài là người?" Đức Phật trả lời: "Ta không phải là ngườỉ". Câu trả lời khiến người hỏi bối rối: "Ngài không phải là tiên,
không phải là thần, cũng không phải là người, vậy Ngài là ai?” Câu trả lời của đức Phật định nghĩa hai từ “như thế” nêu lên ở trên: “Đối với các điều kiện, các nguyên nhân đã đưa đến việc sinh ra tiên, sinh ra thần, sinh ra người. Ta đã tận diệt. Ta là Phật”.
Đức Phật mang thân người, nhưng đức Phật không phải là người. Ngài là người, nhưng Ngài là Người Giác Ngộ. Như là người, Ngài sống như mọi người, không từ chối cả những hành động nhỏ nhặt: cầm chổi quét vườn, xâu kim cho người mờ mắt, tắm rửa cho bệnh nhân … Nhưng Giác Ngộ đã đưa Ngài lên bậc chí tôn, bậc cao nhất trong vũ trụ. Phật là như thế. Cao nhất trong vũ trụ, Ngài xóa tan ý niệm Thượng đế. Ngài đặt trọng tâm trên con người, nhưng đúng hơn phải nói: Ngài đặt trọng tâm trên sự Giác Ngộ. Muốn Giác Ngộ thì phải làm người, đó là điều kiện tiên quyết, nhưng Bậc Giác Ngộ không phải chỉ là người. Đó là ý nghĩa của câu nói mà ta nhắc nhở hằng năm, trong ngày Phật Đản: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Không phải cá nhân Ngài là tôn quý nhất: Ngài chỉ là hiện thân của Giác Ngộ, và Giác Ngộ mới là tôn quý nhất. Câu nói nguyên thủy là thế này, đầy đủ và chính xác: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sinh ở đời này nữa”.
Làm sao diễn tả được địa vị tôn quý của con người và đồng thời địa vị tối thượng của Người Giác Ngộ? Đó là hai sự thật ở hai bình diện khác nhau mà một thứ ngôn ngữ độc nhất không đủ để nói hết. Cho nên, nếu phải có ngôn ngữ cụ thể để kể những sự thật
lịch sử, cũng phải có ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ truyền thuyết, ngôn ngữ huyền thoại, ngôn ngữ tưởng tượng, để vươn đến một sự vật khác vi tế hơn mà tâm thức của con người luôn luôn khao khát tìm hiểu, hoặc bức thiết, hoặc âm thầm. Đó là lý do tại sao sự tích đức Phật Thích-ca được kể với cả hai thứ ngôn ngữ đan kết nhau: vì là Ngài như thế, vì Ngài là Phật! Nếu không nhờ cậy đến ngôn ngữ của ẩn dụ, của tượng trưng, đố ai chạm đến được sự thật gì mà chỉ trực giác mới bừng thấy, chỉ tâm linh mới cảm nhận. Tượng trưng thường được định nghĩa là dấu hiệu thấy được của cái gì không thấy được. Trong lĩnh vực triết và tâm linh, tượng trưng còn được hiểu phong phú hơn thế nữa: đó là cái gì hiện hữu ở một cấp độ thấp có liên quan đến cái gì hiện hữu ở cấp độ cao. Rõ ràng hơn hết là biểu tượng hoa sen mà chính đức Phật đã dùng để giải thích cho chàng Bà la môn Dona khi nãy. Phật nói: “Ta đã đoạn tận, không còn dính mắc. Ví như bông sen xanh, hồng, trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước và đứng lên không bị nước thấm ướt, Ta cũng vậy, Ta sinh ra ở đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời không bị đời thấm ướt. Như vậy, Ta là Phật”. Hoa sen đó đã nâng bước chân của Phật khi Ngài sinh ra.
Để độc giả dễ dàng đi từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ kia, hoặc dễ dàng thông qua đồng thời cả hai thứ ngôn ngữ, tưởng nên bắt đầu với bài viết của Hòa Thượng Thích Minh Châu trong Phần 3 của quyển sách vì đây là cách trình bày gần nhất với nhu cầu của tri thức. Qua chiếc cầu đó rồi, người đọc sẽ ung dung đi dần
vào thế giới của ngôn ngữ tượng trưng, đáp ứng hơn nhu cầu của tâm linh. Nhưng dù thế nào chăng nữa, không có tâm để hiểu tâm thì giao cảm sẽ khó có. Mà muốn tâm hiểu tâm, không gì bằng ngôn ngữ của thiền. Mong chuyện sau đây diễn tả được điều tôi muốn nói:
Quan đại phu họ Triệu ngồi thiền với sư chùa Mây. Thiền tọa xong, đại phu hỏi: "Sư thấy tôi ngồi thiền như thế nào?" sư đáp: "Giống như Phật". Rồi hỏi lại: "Đại phu thấy tôi ngồi thiền ra sao?". Quan cười: "Giống như đống phân", Nghe thế. sư chùa Mây vẫn vui vẻ như thường.
Quan đại phu họ Triệu đem chuyện đi khoe với mọi người. Bỗng có người nói nhỏ vào tai: “Đại phu thua rồi. Vì sư kia có tâm như Phật nên thấy ai cũng giống Phật, còn đại phu có tâm như đống phân nên thấy ai cũng như đống phân”.
Đức Phật tuyên bố sau khi giác ngộ: Ai cùng có Phật tính, ai cũng có thể thành Phật. Đem tâm đó để hiểu Phật thì đến thẳng với Phật. Đem tâm đó, đem Phật tính đó, để đọc sự tích đức Phật Thích-ca thì người đọc thong dong trong cả hai thứ ngôn ngữ hòa quyện nhau – ngôn ngữ của sự thật lịch sử và ngôn ngữ của sự thật truyền thuyết. Người đọc sẽ biết Phật là ai và sẽ hiểu ngay như chàng Dona đã hiểu. Và, như chàng Bà la môn ấy, sẽ chắp tay cung kính đảnh lễ Ngài.
Phật lịch 2552
Paris, ngày 21.03.2009
Cao Huy Thuần