THẠCH TRUNG GIẢ
L.T.S: Từ trước đến giờ, ở Việt Nam, người ta đã viết khá nhiều về Đạo Đức Kinh, nhưng dường như khó tìm thấy ai viết độc đáo như nhà văn Thạch Trung Giả. Ông cố gắng trình bày Đạo Đức Kinh nơi tận nguồn suối chảy. Tác giả đã áp dụng phương pháp riêng tư của ông để nhìn Đạo Đức Kinh. Điều này cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ về bản tính của phương pháp và tương quan giữa phương pháp và đối tượng, một vấn đề trầm trọng, chứ không phải một vấn đề hiển nhiên đã được giải quyết dễ dãi.
Làm sao nói lên ngôn ngữ chính yếu của Đạo Đức Kinh mà không bị rào trong sự đóng khép của ngôn ngữ thời hiện đại?
Tác giả trao cho chúng ta một chìa khóa. Chìa khóa này có mở được hay không, chúng ta hãy chờ đợi.
CHƯƠNG I
PHÉP ĐỌC VỚI TINH THẦN NGƯỜI ĐỌC.
ĐỊA VỊ ĐẠO ĐỨC KINH. — PHÉP ĐỌC VỚI SÁU ĐIỂM.
NGUYÊN NHÂN CÁI KHÓ TRONG ĐẠO ĐỨC KINH:
NGƯỜI ĐỌC PHẢI XÉT LẠI CHÍNH NÃO TRẠNG CỦA MÌNH.
* *
*
Đạo Đức Kinh là một trong những bộ sách uyên áo nhất mà nhân loại được biết, uyên áo nhất mà cũng bí hiểm nhất — bí hiểm nhất nên đã đẻ ra không biết bao lời giải trái ngược. Cái lẽ đầu tiên vì nội dung tư tưởng, cái lẽ thứ thử hai vì giáo chủ không phải là người tiếp xúc với quần chúng như những Thích Ca, Jésus, Mahomet phải cảm thông, phải lựa giọng, phải thích úng với lối hiểu của người đời. Thêm nữa, cho đến bây giờ, 25 thế kỷ qua vẫn chưa có một giáo hội Lão Trang, những bình giả chỉ là những người sống lẻ loi, cư sĩ chiếm phần lớn, đạo sĩ lại ẩn hình, không có một đạo thống, không có sự trao đổi thường xuyên, sâu sắc và đầy đủ về lối hiểu. Họ gặp nhau qua những quyển sách, những tri kỷ thường cách nhau hàng thiên cổ. Nhưng cái khó đầu tiên, mà cũng cái khó cuối cùng chính ở nội dung tư tưởng. Nó quyết định tất cả.
Sau nhiều phen suy nghĩ về đạo Lão và theo dõi từng chương của Đạo Đức Kinh cũng như Nam Hoa Kinh, so sánh những lời giải của học giả Đông Tây, thì tôi lại thấy cái khó tăng lên một phần vì những lời giải chẳng khác gì
một pho cổ tượng chìm giữa rừng sâu lại bị lưng người xem đứng trước — muốn ngắm tượng, thấy lớp lớp những lưng người.
Đạo Đức Kinh thuộc về loại tác phẩm bí hiểm nhất nhưng cũng cám dỗ nhất — nếu ta nhìn số dịch bản sang tiếng Tây phương, và so sánh với số dịch bản về những bộ kinh luận nổi tiếng nhất của Phật giáo và Ấn giáo.
Bởi lẽ thứ nhất, những quyển gọi là Kinh của Lão giáo không nhiều mà trong số Kinh không nhiều đó, Đạo Đức Kinh lại là mẹ
Bởi lẽ thứ hai, cái giọng văn thâm trầm, kỳ cổ, diễm ảo mà lại mộc mạc, có một chất vị mặn mà khiến cho những người dịch kinh Phật sau này chỉ còn cách vay mượn mới phiên chuyển được tiếng Phạn, tiếng của thiên thần (người Ấn gọi là dévâvani).
Đọc những câu như
Sắc bất dị không, không bất dị sắc (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc) Xá lợi tử! Thị chư pháp không tướng: bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thụ, tưởng, hành, thức.
(Này chàng Xá Lợi! Đây là cái tướng Không của mọi pháp: chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt, bởi thế cho nên trong cái Không, không có sắc, không có thụ, tưởng, hành, thức)
Hoặc
Vô vô minh dỉệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận
(Không có vô minh mà cũng chẳng có vô minh để mà hết, cho đến già chết cũng không mà cũng chẳng có già chết để mà hết).
— Thì không ai chối cãi được vết tích của cái văn Đạo Đức Kinh. Nhưng lẽ quyết định khiến cho áng văn bí hiểm đó thành cám dỗ chính là sự bí hiểm. Không phải vì người đọc thích trò quái dị, nhưng bởi vì cái tạo nên sự bí hiểm chính là sự cao sâu của tư tưởng không thể nói ra bằng cái giọng tầm thường, nhưng chẳng những sự cao sâu mà lại cả sự mờ tối, lúng túng của chính tác giả.
Cái hay nhất mà cũng cái dở nhất của học thuyết Plalon, theo nhận xét chung của những người chuyên khảo về triết gia Hi lạp thần linh này chính là điểm mờ tối. Chúng tôi cũng nhận thấy điều này ở Platon và chúng tôi lại nhận thấy ở Lão Tử. Vào trong một học thuyết lại phải ra khỏi nó đi, nếu là điều kiện túc mãn của phép nghiên cứu nói chung thì phép nghiên cứu của Đạo Đức Kinh nói riêng lại đòi hỏi điều ấy hơn nữa.
Nói rằng nội dung tư tưởng ấy khó hiểu là nói bao quát, xét kỹ ta thấy 6 yếu tố:
|
I HỘI THẦN
IV QUYỀN TẠM
|
II RÚT ĐẤT
V BIỆN CHỨNG
|
III ẨN DỤ
VI VIỄN CẢM
|
Một là nhận thức trên căn bản tâm linh; hai là rút đất với những lời hàm súc như hàm số phải giải; ba là ẩn dụ khiến người đọc lấy giả làm thực; bốn là quyền tạm khiến
người đọc chấp là cứu cánh; năm là biện chứng rnà quyền tạm là một hình thái; và sáu là linh cảm về một Toàn Chân vượt quá sức tác giả đưa ra một quan niệm hỗn độn như quặng lẫn vàng mà người đọc thực biểu phải vượt ra ngoài đóng vai nhà giải phẫu.
Như chúng tôi vừa nói, chính những người giải — có lẽ không phải tất cả đã ngăn che tác phẩm. Mà lý do đầu là bởi vì đem não trạng của những thế kỷ sau nhìn tiền nhân, tiền nhân ấy lại là đại diện cuối cùng cho một dòng tư duy, một nền văn minh mà Đạo Đức Kinh là chứng tích, là giọt sáng thừa còn rớt lại với đời.
Lão Tử sinh vào thời Xuân Thu Chiến Quốc sáu thế kỷ trước Thiên Chúa giáng sinh đồng thời với Pythagore bên Hi Lạp, Thích Ca bên Ấn Độ, mà phép khảo cổ khi còn phôi thai bảo rằng lúc rạng đông của văn minh nhân loại nhưng đến bây giờ, với những khám phá mới mẻ, sâu xa đứng đắn hơn người ta thấy cái đạo của Pythagore làm cái triết của Pythagore chỉ tiếp tục một truyền thống lâu đời, còn đạo Phật chỉ thừa kế dòng tư duy đã có trước Thích Ca nhiều thế kỷ — Điều này Thích Ca đã nói trong Kinh điển Thủy Giáo và cổ vị Phật tức là Ca Tì La (Kapila — cùng quê với Thích Ca nên danh hiệu cũng được đời đặt cho miền dó Kapilavastu — Ca Tì La Vệ). Ngài sáng lập ra phái Số Luận (Samkhya), và hai vị thầy trực truyền cho đức Phật chính là người của phái này.
Cuộc khai quật rộng sâu những cổ tích do hai đoàn Sir John Marshall và Ernest Mackay dọc lưu vực Ấn hà gần đây đã mở một chân trời mới cho khoa khảo cổ là 35 thế kỷ trước Thiên Chúa tức là 55 tliẽ kỷ trước ta đã có một
nền văn minh rực rỡ và nền văn minh ấy đến độ cực thịnh. Sau đó 10 thế kỷ tức là trước Pythagore, Thích Ca, Lão Tử 20 thế kỷ. Nếu những kiến trúc vật chất đã hoàn mỹ ý nghĩa như thế thì phương diện tâm linh lại còn sung mãn hơn vì điều hiển nhiên là cổ nhân chú trọng đến tinh thần hơn vật chất, và tư tưởng Số Luận trước Thích Ca 5 thế kỷ chỉ là sự viên thành của nền văn minh trước Thích Ca 30 thế kỷ. Và trong Đạo Đức Kinh nếu Lão Tử thường nhắc đến Bậc hiền đức xưa tinh tế nhiệm mầu, siêu huyền thông suốt — thì chúng ta chớ nên nghĩ là nỗi u hoài do điều tưởng tượng.
Từ Lão Tử đến bây giờ 25 thế kỷ, và tư tưởng trước Lão Tử cũng vào khoảng 25 thế kỷ — thực rành rành là dư vang một nền cổ văn minh tâm linh của một chu kỳ đã chuyển hết vòng.
Hai thế giới, hai ý thức hệ, hai nhân loại, hai lăng kính khác nhau, và người ta đã đem bóng mình phủ lên cổ giả. Lối hiểu Đạo Đức Kinh thuộc về hai loại chính:
Loại thứ nhất là Duy Thiệu
Loại thứ hai, Duy Lợi
Và nhiều khi Thiện và Lợi cũng lẫn vào nhau. Người thấy Thiện là chú trọng đến phương diện luân lý ở Đạo Đức Kinh; người thấy Lợi, coi Đạo Đức Kinh dạy phép dưỡng sinh — thấp nhất là những người phù thủy dùng văn Đạo Đức Kinh để cầu đảo.
Người ta đã coi Đạo Đức Kinh dạy phép tu thân xử
thế tránh cái vòng tương sinh của sự vật, coi Đạo Đức Kinh dạy phép nhu thắng cương nén mình đi để thâu lợi gấp bội. Cũng có người nhấn mạnh vào lẽ vong kỷ vi thiên hạ như Mặc Tử. Một đôi người có chút khuynh hướng coi Đạo Đức Kinh dạy trở về một siêu việt tất cả. Nhưng chỉ một chút khuynh hướng còn thực chất cũng thuộc loại Thiện Lợi nếu ta xét toàn thể lối hiểu.
Nhưng cổ nhân trước Khổng Tử không lấy Thiện Lợi làm tiêu chuẩn, không nhìn sự vật qua lăng kính đó, nếu có nhắc đến mà ta nắm lấy thì không khác gì lũ mù rờ voi hết bảo voi là cái cột lại bảo voi là cái quạt vì chỉ thấy tai với cẳng.
Xem triết sử và đạo đức sử, ta thấy hiển nhiên điều này là những thế kỷ trước Tây lịch, cứu cánh của luân lý không phải là cái Thiện lại càng không phải cái Lợi, mà chính là cái Chân. Những Parménide, Pythagore, Platon đã sống như thế, và Aristote đã tổng hợp, hệ-thống-hóa, phân ngôi thứ các luân lý, đã phản ảnh trung thành cho ý thức hệ Hi Lạp. Ông nói đến phép tu thân xử thế, hay nhân với nghĩa coi là điều sơ đẳng của luân lý, nhưng luân lý tối cao, luân lý đủ và tự đủ là hội Chân đẳng trí tuệ, là cảm ứng với cái Tinh Minh bất diệt (Vie contemplative). Cái luân lý trên cơ sở siêu hình đó, được coi là Chí Thiện (Souverain Bien). Vậy thiện thực thiện là siêu thiện, nhìn cái Thiện qua cái Chân trên bình diện cao đẳng là tinh hoa của đạo đức Hi Lạp cũng như Ấn Độ vậy.
Từ Tây lịch trở đi, Tây phương cũng như Đông phương là sự bành trướng của ý Thiện với Nhân Nghĩa của Khổng Mạnh, Bác Ái của Cơ Đốc, và đến thế kỷ 17 nổi ý Lợi từ
Anh quốc đã khiến cho giống Đức giàu lý tưởng phải kêu là ghê tởm, là người Anh đã đầu độc văn minh nhân loại.
Đành rằng lợi cũng có nhiều nghĩa, nhiều hạng nhưng bản thể vẫn là một nên đã nhìn cái Thiện qua cái Lợi.
Cái tinh thần thực tiễn thiển cận đến mức độ kinh khủng đó đã được triết gia Đức F. Nietzsche cực tả đến mức độ tinh vi, sâu sắc, gay gắt như tiếng kêu báo nguy của con hổ trước dàn hồ đương sinh sôi nảy nở.
Quá Trình Đạo Đức Toàn Thế Giới
TỪ CHÂN XUỐNG THIỆN, TỪ THIỆN XUỐNG LỢI.
Và cái ý Lợi đó đã thành hình đồ sộ ở thế kỷ 20 mà cuốn tiểu thuyết Giờ thứ 25 của nhà văn Lỗ mã ni đã cho ta thấy cái thế giới mà giá trị của con người tính bằng năng suất còn ở dưới một cái máy.
Vậy thì mấy chục thế kỷ quen nhìn từ Chân xuống Thiện, từ Thiện xuống Lợi, người ta càng ngày càng xa Đạo Đức Kinh, càng giải thích lại càng hạ thấp. Điều này ta thấy quá nhiều, mà thấy ngay ở con cháu Lão Tử là Phùng Hữu Lan, học giả thừa uy tín, người thông ngôn cho quảng đại tri thức Trung Hoa.
Xuất phát điểm của đạo Lão cũng như nhiều triết hệ thượng cổ là Chân, đạt đáo điểm của nó cũng là Chân, nó vút qua Thiện Lợi; bám lấy Thiện Lợi tức là đảo lộn cả
hệ thống, làm sai cả bản thể, làm tê liệt cả sức sống của một luồng tâm linh vùng vẫy như rồng thần mẫn diệu.
Chân không phản Thiện nhưng Chân siêu Thiện, sai một ly đi một dặm, ta sẽ thấy rõ điều này sau khi đã phân tích, đã đi vào những chỗ tế vi của tác phẩm.
THẠCH TRUNG GIẢ
(còn tiếp)
|
thượng tuần tháng 6, phát hành
MỘT MÙA TÓC MỘ
thơ Huy Tưởng
|
|
QUẾ SƠN - VÕ TÁNH
Đã xuất bản
MÙA HÈ L' Eté của Albert Camus — Bùi Giáng dịch
NGỘ NHẬN Le Malentendu của A. Camus — Bùi Giáng dịch
BẠO CHÚA CALIGULA của Albert Camus - Bùi Giáng dịch
CON NGƯỜI PHẢN KHÁNG I' Homme Révolté-A.c.-Bùi Giáng
MÙA HÈ SA MẠC L’ Eté-le Désert-Noces - A.c. - Bùi Giáng dịch
KẺ VÔLUÂN L' immoraliste của André Gide — Bùi Giáng dịch
SƯƠNG BÌNH NGUYÊN Bùi Giáng dịch và luận
NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ củaErnest Hemingway
Nguyễn Hữu Hiệu dịch
TRĂNG CHÂU THỔ“Vấn đề căn bản Siêu Hình Học”
của Martin Heidegger — Bùi Giáng
THIÊN ĐÀNG ĐÃ MẤT của Ernest Hemingway
Nguyễn Hữu Hiệu dịch
NHÀ SƯ VƯỚNG LỤY của Đại sư Man Thu - Bùi Giáng dịch
OPHELIA HAMLET của Shakespeare - Bùi Giáng dịch
MÙA XUÂN TRONG THI CA Bùi Giáng
THÚY VÂN Bùi Giáng
HÒA ÂM ĐIỀN DÃ André Gide - Bùi Giáng dịch
Sắp xuất bản
CÕI NGƯỜI TA Saint Exupery, - Bùi Giáng dịch
CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO - Nguyễn Hữu Hiệu dịch
TÂM TÌNH LIỆP HỘ - Bùi Giáng
|