NGÔ TRỌNG ANH
-
CHÍNH DANH ĐÔNG TÂY.
Danh từ Đông Tây được bày đặt ra để phân định phương hướng cho một số người cùng ở chung một vị trí, một lãnh thổ, khi họ nói chuyện với nhau. Vì trái đất tròn làm mất phương hướng cho nên câu chuyện Đông Tây sinh ra rắc rối nếu những luận sư ở xa cách nhau hơi nhiều: Đông của tôi là Tây của anh và Tây của tôi là Đỏng của anh. Có thể anh vừa là Đông lẫn Tây đối với tôi hay muốn sang Tây mà bay về Đông cũng được v.v...
Vấn đề địa lý nói trên tuy vậy cũng không khó giải quyết nếu tất cả đều chấp nhận Greenwich làm vị trí phát xuất chung cho nhân loại. Sự khó khăn chỉ xảy ra trong phạm trù tư tưởng vì phát xuất từ những vị trí linh động và do đó gây nhiều ngộ nhận. Ngày xưa Tam Tạng Tây du thỉnh kinh thì ngày nay các học tăng cũng Tây du thỉnh
kiến thức hay tài trí biện thông để về mà phổ biến cho bằng thích. Vì vậy vấn đề Đông Tây cần phải minh định cho chính danh nhất là trong khi một số học giả bậc nhất của Tây phương lại đang hướng về những kinh điển Á đông để tìm đạo.
CâuchuyệnĐông Tây trongtư tưởng hoàn toàn vượtra khỏikhuônkhổ Đông Tây địa dư thông thường.Tư tưởng Đông phương là tư tưởng trong kinh điển với những bộ Đại tạng kinh, Đạo đức kinh hay Ngũ kinh v.v... Tư tưởng Đông phương là tư tưởng tiến đến sự siêu thoát tâm linh, sự an vi tâm hồn và sự vô vi tâm thức. Tư tưởng Đông phương hiểu theo nghĩa từ bi hỷ xả, vô chấp vô trước thì không những nằm trong những Bộ Áo nghĩa hay Vệ đà mà còn rải rác đó đây trong những Thánh kinh của mọitôn giáonhất làtrong bài Giảngtrên Núi của Tân Ước. Tưtưởng Đông phương hiểu như vậy thì không ở Á đông một mình mà còn được duy trì trên toàn thế giới với những nhân vật siêu không gian và thời gian như Nietzsche, Krishnamurti, Henry Miller, Heidegger, Rilke v.v... Những nhân vật này, sống ở Âu Tây, có những danh họ Âu Tây nhưng tâm hồn lại quá Tô Đông Pha hay Trang Tử. Khi đề cập những vị nói trên chỉ có những ai mù quáng, nếu không phải là ngu xuẩn, mới bảo rằng họ vẫn theo tư tưởng Tây phương vì họ tên Tây và ở bên Tây!
Tư tưởng Tây phương chính danh là tư tưởng của khoa học kỹ thuật, là tư tưởng của ý thức hệ môn phái. Tư tưởng Tây phương không thoát khỏi chữ Duy ngục tù của Duy lý gồm có Duy tâm, Duy vật, Duy linh, Duy sinh, Duy thực, Duy nghiệm, Duy phương pháp v.v... Tư tưởng Tây phương
kiến thức hay tài trí biện thông để về mà phổ biến cho bằng thích. Vì vậy vấn đề Đông Tây cần phải minh định cho chính danh nhất là trong khi một số học giả bậc nhất của Tây phương lại đang hướng về những kinh điển Á đông để tìm đạo.
CâuchuyệnĐông Tây trongtư tưởng hoàn toàn vượtra khỏikhuônkhổ Đông Tây địa dư thông thường.Tư tưởng Đông phương là tư tưởng trong kinh điển với những bộ Đại tạng kinh, Đạo đức kinh hay Ngũ kinh v.v... Tư tưởng Đông phương là tư tưởng tiến đến sự siêu thoát tâm linh, sự an vi tâm hồn và sự vô vi tâm thức. Tư tưởng Đông phương hiểu theo nghĩa từ bi hỷ xả, vô chấp vô trước thì không những nằm trong những Bộ Áo nghĩa hay Vệ đà mà còn rải rác đó đây trong những Thánh kinh của mọitôn giáonhất làtrong bài Giảngtrên Núi của Tân Ước. Tưtưởng Đông phương hiểu như vậy thì không ở Á đông một mình mà còn được duy trì trên toàn thế giới với những nhân vật siêu không gian và thời gian như Nietzsche, Krishnamurti, Henry Miller, Heidegger, Rilke v.v... Những nhân vật này, sống ở Âu Tây, có những danh họ Âu Tây nhưng tâm hồn lại quá Tô Đông Pha hay Trang Tử. Khi đề cập những vị nói trên chỉ có những ai mù quáng, nếu không phải là ngu xuẩn, mới bảo rằng họ vẫn theo tư tưởng Tây phương vì họ tên Tây và ở bên Tây!
Tư tưởng Tây phương chính danh là tư tưởng của khoa học kỹ thuật, là tư tưởng của ý thức hệ môn phái. Tư tưởng Tây phương không thoát khỏi chữ Duy ngục tù của Duy lý gồm có Duy tâm, Duy vật, Duy linh, Duy sinh, Duy thực, Duy nghiệm, Duy phương pháp v.v... Tư tưởng Tây phương
quân cho Hegel chứ không có gì là mới lạ trong tư tưởng Duy lý của Tây phương cả. Kant kiếm ra Tân thế giới, Hegel chế máy bay còn Strauss vừa chế ra hỏa tiễn vừa khám phá ra mặt trăng chỉ có thế thôi. Trong thế giới duy lý của những tư tưởng gia siêu phàm nói trên, biết bao nhiêu tư tưởng gia bậc nhì, bậc ba thi đua nhau tạo thuyết và thành lập ý thức hệ, kể cả những tu sĩ say mê lý luận và lý trí.
Thế giới duy lý là thế giới của sự phân hai vì phải phân hai mới có thể phân biệt một cách rõ ràng. Vì tánh chất vô thưởng vô phạt của toán học nên sự phân hai này được gọi Luận lý Nhị giá (hai giá trị đối lập). Có thể phân ba, phân bốn hay nhiều hơn, nhưng ít nhất là phân hai. Toán học thích nhị giả vì điện có hai cực âm dương cũng nhị giá lanh như chớp và máy tính điện cơ luận lý mau hơn óc người hàng tỷ lần. Thế giới luận lý là thế giới của máy móc thay người hay của sự huấn luyện con người lý sự nhị giá như vẹt. Máy hay vẹt có cái nguy hiểm là không biết số de nhưng rất có hiệu năng cho nên chính trị thường dùng để dấu tranh hơn thiệt. Trong thế giới chính trị, Nhị giả biến thành: Chính nghĩa và Ngụy tà. Chính nghĩa về mình và ngụy tà về người không theo ta. Tranh đấu để đòi tự do dân chủ mà dùng biện pháp duy lý là đi đến chỗ độc tài giết tự do, giết những người không thích dân chủ vì luận lý nhị giả liệt kê họ vào hàng kẻ thù một cách máy móc. Cũng vì vậy cho nên độc tài càng sáng suốt lại càng mau chết vì không gì minh bạch và luôn luôn sáng suốt bằng máy cả. Độc tài như máy chém là nguy to — Độc tài mù mờ tối om là còn phước cho nhân loại.
Những tôn giáo chủ trương thiện ác một cách máy móc theo con đường nhị giá là vô tình nối giáo cho giặc nên thường được chính trị khai thác triệt để khi mà khoa học chưa được suy tôn hơn thượng đế. Cũng vì vậy cho nên Phật giáo luôn luôn chủ trương con đường Vô nhị (Advaya) hay con đường của Vô Duy.
Tuy nhiên con đường Duy lý của Kant Hegel và Lévi Strauss đâu phải là con đường xấu vì nó giúp phương tiện cho đời sống hằng ngày. Miễn là chúng ta đừng quá suy tôn nó để cho các triết gia bậc thứ mười lăm khai thác và xô chúng ta vào con đường ý thức hệ chính trị đấu tranh. Cái xấu hay tốt của con đường là do ở chúng ta xấu hay tốt.
Phật giáo ngày hôm nay tuy không thống nhất trên hình thức với Giáo hội nhưng vẫn thống nhất trong nội tâm với những hội Phật học rải rác đó đây cùng với những thiền viện âm thầm trong bóng tối. Sức mạnh của Phật giáo không bao giờ chú trọng vào lượng và hình thức cho nên phá tan hình thức đa đoan là một điều kiện để đưa Phật giáo vào con đường Trung quán. Xa rời mọi tư tưởng phân hai là phương pháp duy nhất để đem lại hòa bình cho đất nước: Tâm bình thế giới mới bình. Nếu Phật giáo lo hỷ xả trước khi lo từ bi thì cái từ bi ấy mới có thể khác với cái tình thương của các hội từ thiện. Việc giáo dục quên phần Nội điển mà chú trọng nhiều vào Ngoại điển, là ham bằng cấp mà quên thiền định, là say mê triết thuyết mà quên trầm tư. Tư tưởng Đông phương tại Việt Nam phải nhường bước trước tư tưởng Tây phương cho nên giá trị của Tăng ni thường đặt nặng vào Thế trí biện thông thay vì Vô sanh
pháp nhẫn. Một số xuất ngoại với thế tri chưa thông vào bậc trung tiểu học, nhưng nhờ chính trị quốc tế xoay xở nên có mảnh bằng Tiến sĩ với luận án mập mờ. Thậm chí có vị không biết ất giáp ngoại ngữ du hoc vài ba năm lúc trở về cũng tự xưng tiến sĩ không cần luận án.
Có bằng cấp cao mà không kiếm dược uy tín trong giáo giới vì thế trí thiếu biện không cho nên phần đông xoay sang Giáo hội tranh dành địa vị và để cho những thế lực chính trị nhiều pháp thuật hơn giật dây sai bảo.
Bất cứ cái gì, kể cả giáo hội, nếu xây dựng trên thế trí biện thông thì phải tan vỡ với lẽ vô thường và nếu đặt nền tảng trên đạo đức tu chứng thì vững bền như bàn thạch.
Đạo đức tu chứng không cần phải ngoại tệ du học, không cần cấp bậc khoa cử, không cần kiến thức kỹ thuật; đạo đức chỉ cần hai chữTâm bình, luôn luôn hỷ xả khoan hồng, an nhiên tự tại. Đó là nguồn suối mát xoa diu sự đau khổ của chúng sinh đang quy y hồi hướng chạy trốn thế trí quá biện thông, tài ba quả thất đức.
Nếu chúng sanh theo tu chứng mà Tâm bình được thì kiếm đâu ra sơ hở, để chính trị thủ đoạn len lỏi vào mà phá hoại. Chúng tôi không bao giờ cầu mong liệt vị tu sĩ thống nhất hay đoàn kết với nhau mà chỉ lạy xin quí vị đừng đặt vấn đề đoàn kết hay thống nhất nữa. Tư tưởng tổng hợp cácmâu thuẫn để đem lại thống nhấtđoàn kếtlà một tư tưởng Tây phươngthuộcphạm vi lý trí. Nghe thìhay ho lắm nhưng danh từ thống nhất suông không giải quyết vấn đềnếu không đặt nặng sự thực thi phưong pháp Lục hòa của Đông phương.Phật giáo tám vạn bốn ngàn
pháp môn đâu cần thống nhất trên hình thức? Đặt vấn đề thống nhất trong lúc không ai nghĩ đến là một thủ đoạn chính trị, và tìm gây chia rẽ bằng cách tạo sự nghi ngờ với một biến cố ngụy tạo cũng là một thủ đoạn khác. Xin quí vị coi chừng đề phòng những phần tử chưng bằng cấp để làm trung gian môi giới, mồm mép luôn luôn vừa khóc vừa lạy kêu gọi sự nhất trí để gieo mầm chia rẽ.
Sự thống nhất hay đoàn kết ngoại cảnh bao giờ cũng chủ trương tụ họp để chống lại một cái gì thù địch, hay đểthực hiện một mục đích khó khăn. Nếu thất bại trước kẻ thù hay bó tay trước gian nan thì sự thống nhất tan vỡ trên thực tế. Còn nếu thành công diệt được thù, đạt được đích thì thống nhất lại càng không còn lý do để tồn tại. Thống nhất trong tinh thần Tây phưong bao giờ cũng vô thường. Thống nhất hay đoàn kết nếu cố gắng hiểu theo tinh thần Đông phương thì là thống nhất và đoàn kết nội tâm với ngay chính mình. Và đây là cái điểm khó nhất của sự tu hành theo Phật giáo. Vì muốn diệt tan mâu thuẫn nội tại thì lại không bao giờ dùng đến lý trí mà phải nhờ hành trì tu chứng với những phương pháp thiền định hay sáng tác nghệ thuật. Đó là cả một công trình khó khăn và Tây phương hiện nay đang dày công nghiên cứu các kinh điển Đông phương để mong kiếm ra chút ánh sáng. Rất tiếc rằng phần đông còn đang kẹt trong cái thể của Đông phương học theo lý trí thay vì Đông phương hành theo ngẫu sinh. Do đó hầu hết đang còn lúng túng trong vòng sở tri chướng với những tiếng kêu trong sa mạc lý trí, như giản lược đến chỗ bất khả (reduclio ad impossibile), đến chỗ phi tưởng (ad absurdum), đến chỗ vô biên (ad infinitum), hoặc đưa tư tưởng đến sự bế tắc của Không lộ (Via negativa), của Không đáy
(Abgrund). Nhưng nếu vượt qua được sở tri chướng thì họ lại lâm vào mê hồn trận của Phiền não chướng với những ý thức tự diệt như bi tráng, tuyệt vọng, cô lập, khắc khoải, hư vô, khước từ, thoát ly v.v... (Xem Ý thức mới của Phạm Công Thiện). Tư tưởng Tây phương trên con đường hướng về Đông phương cần phải bớt học để mà hành, và chỉ có cách đi theo con đường của Tôn Hành Giả ngày xưa mới họa may thoát khỏi sự bế tắc của Văn minh cơ khí và Ý thức hệ chính trị của thế kỷ này.
2. TƯ TUỞNG ĐÔNG PHƯƠNG TRONG BỘ TÂY DU KÝ
Vì muốn khuây sầu giải muộn cho quí vị dộc giả trước cảnh tang thương của đất nước chúng tôi xin trình bày tư tưởng Đông phương qua bộ Tây du ký thay vì theo kinh điển như thường lệ. Tuynhiên chúngtôi hạnchế trongphạm vi Bốn dòng sông của câu chuyệnmà thôi,không thể đi quá xa ra ngoài khuôn khổ của tạp chí. Tất nhiên tư tưởng Tây du ở đây là chánh danh Đông phương, nó ở Tây ngưu hóa châu chứ không phải ở Tây Âu Mỹ châu và Đông phương là Đông thắng thần châu chứ không phải là Đông kinh Á châu. Ở đây tư tưởng Tây du ký là tư tưởng Duy thức được thi vị hóa cho nên thoát ra khỏi sự chấp kinh của Pháp tướng tông.Nếu Tây du ký có sẵn, thì ngài Ngũ tổ Hoàng Nhẫnchắckhỏi phải đem kinh Kim cang(kinh Sấm chẻ) ra để thay thế cho kinh Lăng già, đượm mùi học giả. Kinh nghiệm tâm linh được gò bó vào danh tự là một điều nguy hiểm nếu tu sĩ quên phần hành trì mà chỉ lo phần hiểu biết. Sự chứng ngộ sẽ biến thành tật chứng và ngộ nhận vậy.
Muốn đi vào tư tưởng Duy thức chúng ta phải gạt cái thế trí ra ngoài, xa rời lý trí phân hai. Không chấp nhận và cũng không phủ nhận rằng con người chỉ gồm có hai phần: phần hồn và phần xác theo lối Tây phương. Nhưng lại cho rằng con người có bao nhiêu phần cũng được theo óc vô duy của Á đông xưa, tùy cơ ứng biến, tùy nghi sử dụng. Con người có thể có ba hồn chín vía, vị trí ở bất cứ chỗ nào: Khi vui thì ở tay và mặt, với tay bắt mặt mừng, khi buồn thì ở ruột hay ở gan, với rầu thúi ruột hoặc khô héo lá gan cây đỉnh Ngự, lúc nhẫn nhục thì bụng làm dạ chịu, lúc giận dữ thì tam bành lục tặc, lúc lo sợ thì hồn xiêu phách lạc. Có một đặc điểm là tư tưởng Đông phương ít khi nói đến óc với trí óc như ở Tây phương và nhất là không bao giờ chấp nhận sự phân hai giữa linh hồn và xác thịt một cách triệt để như họ.
Nhờ vậy theo Duy thức người ta có đến những tâm thức một cách dễ dàng. Trước hết Nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt và thân gồm năm thức thuộc về cảm giác. Phải hiểu Nhãn thức trong tinh thần Đông phương vô nhị nghĩa là gồm tất cả những gì thuộc về giác quan cả ý thức của sự thấy, cùng cảnh vật và ngay cả ánh sáng nữa. Kế đến thức thứ sáu gọi là Ý thức tương đương với Lý trí Tây phương nhưng vẫn phải hiểu theo tinh thần vô nhị, nghĩa là nó không phải ở trong đầu óc mà thôi. Sở trường của nó là thích phân chia giới hạn, hay phạm trù hóa thế giới ra thành từng phần riêng biệt. Trong Tây du ký, nó được tượng trưng bằng những dòng sông như Lưu sa, Hắc hà, Thông thiên và bến Lăng vân. Những nhân vật như Sa tăng và Bát giới là những yêu quái trên con đường hồi hướng qui y nhưng chuyên sống dưới nước nên rất tài ba thủy chiến và thích đấu tranh lý
luận. Đại thánh tuy có thể lặn được nhưng kém hơn vì y không thích Lý trí với Ý thức. Sa tăng là nhân vật được chọn để tượng trưng Ý thức cho nên y đã nằm trong lòng sông Lưu sa để chờ thầy dẫn độ. Lý trí chủ trương đấu tranh cho nên phải làm chết người thành thử Sa tăng đi đâu cũng đeo chín cái sọ để tượng trưng khí thế: Có lý trí tức có chiến tranh. Chức vụ đương sự xưa kia là Quyện liêm tướng công nghĩa là buông rèm và cuốn rèm cho Ngọc hoàng: Lý trí là trùng phức nghĩa là lo chứng minh cho những gì mình đã chấp nhận ngay từ phút ban đầu, không thoát khỏi vòng lẩn quẩn, tám mươi ngàn danh từ trong tự điển lui tới dùng nhau để giải nghĩa cho nhau, gây biết bao nhiêu ngộ nhận để sinh oán thù. (Cái nạn quây ronéo và đăng báo phổ biến xuyên tạc đã giết chết tư tưởng Đông phương ở Việt Nam ngày nay). Khí giới của Sa tăng là Bửu trượng có thể muốn nhỏ muốn to tùy ý và biến dài biến ngắn cũng được, cho nên ngôn ngữ là khí giới của thế trí muốn nói sao cũng xong. Trong thế giới nhị nguyên lưỡi không xương nhiều đường lắc léo:Muốn chứng minh cho trúng, người ta cứ việc đổi nguyên lý đầu tiên. Và vì đã là đầu tiên thì có cái đầu tiên nào mà chịu nhường cái đầu tiên nào để thành cái thứ nhì đâu? Chiến tranh là vì vậy. Bát giới cũng vậy, xuất thân ở sông Ngân hà làm đến chức Thiên hà nguyên soái nên cũng lý sự không kém Sa tăng tuy nhiên y được chọn để tượng trưng cho Ngũ câu ý thức vì thân xác con beo hay thích trò cảm giác. Tề thiên đại thánh xuất thân cũng ở động Thủy liêm mà y đi vào bằng cách nhắm mắt nhảy liều xuống suối. Nhưng nước ở đây không phải là nước thật cho nên suối không sâu không cạn nhưng phi thường. Đại thánh tượng trưng cho Thức thứ bảy, một thứ Thức không phải Thức. Tổ sư đặt tên cho Đại thánh là
Ngộ không là vì vậy, trong khi Bát giới được Tam tạng đặt tên là Ngộ năng và Sa tăng là Ngộ tịnh. Năng và Tịnh là đang còn trong vòng Ý thức Nhị nguyên, đang còn ham mê hơn thiệt với dòng sông. Thức thứ bảy trong danh từ Phạn không có chữ vijnana (Thức) ở đàng sau như các Thức khác mà chỉ gồm vỏn vẹn có chữ Manas (Tư tưởng, hiểu theo Heidegger). Chúng ta dịch Manas bằng chữÝ cô đơn hay phiên âm thành Mạt na. Ý có thể hiểu theo chữ Ideen của Schopenhauer là khoảng giữa nằm ngang Thế giới biểu tượng với Thế giới Ý chí, giữa Chân đế và Tục đế, Niết Bàn và Địa ngục.
Nằm ngang là một cách để mà nói chứ chính thiệt nó lại liên kết Chân với Giả vô phân biệt một cách tài tình. Tánh chất song nhiệm giải thoát và tù đày của Mạt na khó lòng mà đến với chúng ta nếu thiếu tính chất vô nhị trong tâm hồn. Tánh chất tù đầy của Mạt na được kinh Nhiếp đại thừa luận diễn tả một cách hãi hùng và được tượng trưng bằng năm ngọn núi Ngũ hành chôn chặt con khỉ đá Ngộ không trong vòng Ngũ uẩn. Tánh chất giải thoát của Mạt na thì được trình bày trong Kinh Lăng Già một cách nên thơ và được tượng trưng bằng phép Cân đầu vân thâu đường xa trong chớp mắt. Cân đẩu vân của Ngộ không khác phép Đằng vân của Sa tăng, Bát giới ở chỗ không bay từ từ mà lại thâu từng đoạn nhanh như điện: Các Thức khác sống trong Liên thời (Thời gian liên tục) còn Mạt na sống trong Gián thời (Thời gian Sấm chẻ, hiểu theo Krishnamurti). Mạt na hướng về giải thoát là nhờ nương tựa vào thức thứ Tám hay là Tạng thức, còn nếu hướng về tù đày thì nương vào Ý thức. Cũng vì vậy cho nên Đại thánh không ham nhảy xuống sông lý trí như Bát giới Sa tăng. Thức thứ Tám tức
là Tam tạng, và chính Đường tăng đã cứu Đại thánh thoát khỏi Ngũ hành. Hai thầy trò không thích sông nhất là thân xác Tam tạng quá nặng bay qua sông không nổi cho nên mỗi khi gặp sông là cả hai đều ngao ngán. Tam tạng ngán dòng sông là vì Tạng thức ngán Thế trí biện thông. Tạng thức là thực tại phi thời gian phi không gian, Sự sự vô ngại và Lý sự viên dung, không phân biệt Chân Giả cho nên thường bị yêu ma lừa gạt. Sự bị lừa gạt này tuy vậy không chặn được bước tiến của những bậc chân tu mà lại còn giúp cho họ giải nghiệp là đằng khác. Biết bao nhiêu là yêu quái đội lốt nhà sư, giả đò đàn bà con nít, lạy lục cúc bái để gạt Tam tạng làm ơn mắc oán. Và Tam tạng phải mắc mưu để trả nghiệp tiền kiếp mình, phải lấy ơn đền oán dầu bị lừa, và triệt để đừng đem Thế trí biện thông ra mà đối địch.
Sở dĩ Phật giáo Việt Nam tuy trên hình thức thì tan vỡ vì bị ma giáo thế trí biện thông quấy rối nhưng chúng tôi vẫn tin tưởng là Phật giáo vẫn trường tồn. Nước Việt Nam hiện vẫn còn nhiều Đường tăng ngây thơ với vô số Thiền sư cô đơn trong các cốc. Họ đang âm thầm cầu siêu cho oan hồn và giải nghiệp binh đao cho thời Nam tiến, diệt Chiêm. Đừng lầm các Đường tăng này với một số sư trẻ bị mồi vinh hoa danh lợi dụ dỗ vào cạm bẫy. Đường tăng có lầm chăng cũng vì vô phân biệt trên con đường giải thoát Đông phương, cái lầm hình thức này tăng phần đạo đức cho nội tâm họ. Sư trẻ lại lầm vì quá phân biệt trên con đường danh tướng Tây phương, cái lầm nội tâm này tạo thêm nghiệp chướng cho hình thức họ.
Tạng thức vô lậu, vô thủy vô chung, vô trú, vô ký, vô
thưởng, vô phạt cho nên Tam tạng an nhiên như trẻ thơ. Nếu Mạt na có tánh chất nghệ sĩ nhiều thì Tạng thức có tánh chất hồn nhiên. Và thế giới tuổi trẻ và thế giới nghệ sĩ bao giờ cũng hòa thuận nếu không là quyến luyến nhau. Đại thánh và Tam tạng không thể rời nhau nếu muốn đi vào giải thoát. Và nghệ sĩ chân chính phải học bài với trẻ con, Đại thánh phải tôn Tam tạng làm sư là vì vậy.
3. LƯU SA HÀ, HẮC HÀ VÀ THÔNG THIÊN HÀ
Ba con sông, ba hình thức của thế giới biểu tượng với cảm giác và lý trí. Cả ba đều chận đứng được Đại thánh vì đương sự ngán thời gian liên tục của lý trí suy luận. Lưu sa hà nước trong xanh nhưng sóng gió ba đào, lông ngỗng hay bông lau quăng xuống cũng chìm, không có cái gì vượt qua sông được ngoại trừ thế trí biện thông của Sa tăng gồm chín cái sọ người kết lại làm thuyền Bát nhã. Thuyền Bát nhã cũng như thế trí biện thông chỉ là phương tiện thiện xảo chứ không phải chân lý cho nên sang sông là sọ người ra khỏi. Lưu sa hà là dòng lý trí số một cho nên nghệ sĩ Đại thánh không tài nào thắng được Sa tăng pháp sư luận lý dưới nước vậy đành phải nhờ Quan âm viện trợ thêm Huệ ngạn mới thâu phục được luận sư. Sa tăng ra khỏi nước nên hết lý sự đành an phận thủ thường làm đàn em vì trên con đường giải thoát, lý tính phải nhường bước trước cảm tính của Bát giới và Nghệ sĩ tính của Tề thiên.
Thêm được Sa tăng với một bồ mưu lược Đại thánh vẫn đành bó tay trước dòng nước đen sì của Hắc hà, lý trí thiếu ánh sáng không làm sao thấy đường trong đêm
thâu. Sự ngu si của nhân loại và sự vô minh của thế gian đôi khi chận đứng được sức mạnh của tài trí, nhưng vẫn phải nhường bước trước sự đức độ: Và lần đầu tiên Tam tạng thong dong cỡi ngựa đi bộ sang sông, dòng nước đen như mực đã được Hà thần dẹp sang hai bên. Tất nhiên trong vụ này Đại thánh đuối lý phải nhờ tay Tây hải long vương phái Thái tử Ma ngang đến bắt con yêu cù tai hại.
Ngu si mạnh hơn tài trí nhưng vẫn chưa bằng sự thông thiên. Và cả bốn thầy trò đều bị sông Thông thiên chặn đứng không làm sao vượt qua được, sông Thông thiên khác với Lưu sa và Hắc hà rộng vô cùng, mênh mông đến nỗi mắt Tề thiên nhìn không thấy bờ bên kia. Đây là dòng sông của siêu lý trí, một thứ luận lý toán học mà lý trí người thường không thể nào hiểu thấu. Âu cũng vì không thấu được cho nên suy tôn nólà thông thiên trong khi nó cũng vẫn trong vòng phàm tục của thời gian liên tục. Nhân vật trấn đóng Thông thiên hà là một nhân vật sống trong nước chuyên môn: Đó là con cá vàng Kim Ngư xưa ở hồ sen với Phật. Cá vàng tượng trưng cho luận lý máy móc khác với luận lý của Sa tăng cho nên ngài Quan Âm phải đan rọ nghĩa là một thứ máy khác để giúp Tề thiên bắt nó.
Vượt qua sông Thông thiên tuy nhiên lạikhôngkhónếu ta biết dùng một nhânvậtcó tiếng làchậm nhưrùabò: Đó là con rùa Thủy nguyên, tức nguồn nước hay căn nguyên của lý trí. Biết dược căn nguyên của lý trí với con rùa thì chúng ta có thể thông thiên. Do đó con rùa thắc mắc với Tam tạng nhờ hỏi Phật tổ tại sao y tu mãi không thành người? Lý trí haycănnguyên của lýtrí có thể thông thiên nhưng không phải là nhân tánh hay đặc tánh
của con người cho nên lý trí không thể nào giúp rùa hóa thành người được. Luận lý chỉ biết giúp rùa phương tiện sinh sống một cách máy móc, đôi khi biến rùa thành máy chứ không tạo nhân tánh cho rùa được. Cái tài của rùa vượt được Thông thiên hà mênh mông muôn dặm đối với trí Bát nhã vô phân biệt thì cũng vẫn là rùa bò, không làm sao thoát xác được. Giá trị của rùa chỉ có bấy nhiêu nếu y còn thích sống với cái máy tính điện cơ Kim ngư. Muốn biết tại sao không thành người, rùa phải ra khỏi dòng nước Thông thiên.
4. DÒNG SÔNG CỦA CÂU CHUYỆN
Trong số đoạn trường Tây du của Tam tạng, Đường tăng phải chịu tám mươi mốt tai nạn cho đúng với số tám mươi mốt tòa sen của Phật đài. Đó là cái nghiệp mà nhà tu hành phải trả nợ tiền kiếp. Tu không phải là cầu an nhưng nguyền giải nghiệp đúng theo câu hát của Đào Tấn:
Lao xao sóng vỗ ngọn tùng,
Gian nan là nợ anh hùng phải mang.
Hai tai nạn cuối cùng của Tam tạng đặc biệt cũng xảy ra trên dòng sông, một cái tại bến Lăng vân và một cái trên đườug về với Thông thiên hà.
Trước khi đến chùa Lôi âm để gặp Phật thỉnh kinh thầy trò Tam tạng phải vượt qua con sông cuối cùng của Lý trí. Đó là một con sông cách chân núi Linh sơn sáu dặm không có tên gọi. Cái Lý nội tâm với dòng thời gian
nội tại không hình không tướng cho nên đành phải vô danh. Tuy không tên nhưng sông lại có bến, đó là bến đò Lăng vân. Nếu Lăng vân lại không có đò ngang đưa khách mà lại có một cái cầu độc mộc khó lòng đi qua. Cái chướng ngại nội tại không thể nào nhờ ai gỡ giúp cho nên nếu không đò mà lại có câu: Muốn sang bên kia bờ giải thoát phải tự mình bước qua cầu. Và chướng ngại là do mình, cho nên ở đây không còn yêu tinh quấy rối. Kim Đăng đại tiên trước khi bái biệt có dặn dò Đường tăng:
Quí vị đều thấy cảnh Phật rồi, đường đi tới đó không còn yêu tinh ngăn chặn nữa.
Chướng ngại do con sông vô danh tạo ra chiếc cầu độc mộc tượng trưng cho chướng ngại do nội tâm mình tạo ra. Tại đây ngoài sở tri chướng của Lưu sa hà, Hắc hà, Thông thiên hà còn thêm phiền não chướng của Lăng vân độ.
Do đó Tam tạng thất kinh không dám qua cầu.
Qua cầu được là thành Phật vì mình đã chiến thắng xong với bản ngã. Sự kiện này khó khăn vô cùng vì không thể dùng phương tiện của Lý trí. Bát giới bao phen muốn đằng vân nhưng Đại thánh ngăn cản vì con sông nội tâm không thể vượt qua bằng pháp thuật ngọai tại. Đại thánh cũng không Cân đẩu vân đểlăng vân, nhưng lại bước qua cầu bằng đi bộ. Sở dĩ Đại thánh qua cầu được vì chính y là Mạt na hay hiện thân của cái cầu móc nối Chân đế với Tục đế. Chính y là độc mộc cầu cho nên y ngang nhiên qua lại dễ dàng, trong khi Sa tăng Bát giới đành bó chân không đằng vân được. Lý trí và Ý thức không làm sao đưa chúng ta vào bờ bên kia, chỉ có Mạt na hình ảnh của
nghệ thuật mới có thể đi vào bờ sông giải thoát, bằng những bước chân hồn nhiên thơ ấu.
Tam tạng leo lên cầu không nổi vì nghiệp còn nặng thân xác chưa thoát xong. Thành thử tất cả thầy trò đành ở lại chờ Đức Bửu tràng quang vương Phật biến thành ông lái đò chèo thuyền Bát nhã đến cứu độ
Tuy nhiên dầu cho có Phật cứu, bước xuống thuyền vẫn không phải là chuyện dễ vì thuyền Bát nhã không có đáy. Đại trí không có căn nguyên cho nên nguồn gốc của tư tưởng là Hố thẳm không đáy.
Muốn xuống thuvền, Tam tạng phải liều nhắm mắt nhảy đại và nhờ Đại thánh xô thêm. Đại thánh hay nghệ thuật trí của Mạt na là phương tiện duy nhất để giúp nghệ sĩ siêu thoát thành Phật vượt ra khỏi dòng thời gian lý trí. Căn nguyên của lý trí chính là bước nhảy của lý trí hay bước nhảy căn bản của Schopenhauer mà Heidegger đã đề cập trong bộ sách quan trọng bậc nhất của ông (Satz vom Grund. 1957). Tuyệt đỉnh tư tưởng Tây phương gặp đoạn chót Tây du tại bến đò Lăng vân trên dòng sông của Lãng quên, không tên gọi.
Đứng trên thuyền Bát nhã Tam tạng thấy xác mình trôi sông và ông hỏi của ai: lý trí Đường tăng chết theo dòng thời gian cho nên đương sự hết phân biệt và hết sợ hãi từ đây. Tam tạng bắt đầu ra đi với Đại bi, sang đò Lăng vân thêm được Đại trí (Vô phân biệt trí) và nhất là Đại hùng (thấy mình chết mà không quan tâm). Thiếu Bi không làm sao có Trí, và thiếu Trí thì cái Hùng biến thành tai hại cho sự giải thoát vô cùng vì nó tạo thêm oan nghiệt.
Với vô phân biệt trí, oan nghiệt không còn tác dụng cho nên khi thuyền qua đến bên kia bờ Tam tạng thấy thân mình nhẹ như bông.
Tuy nhẹ như bông nhưng trên đường về Tam tạng vẫn còn vướng phải một tai nạn chót tại Thông thiên hà. Cái tai nạn này rất quan trọng vì nó dính líu với mấy bộ kinh then chốt, mục đích tối thượng của hành trình.
Vì đinh ninh rằng thầy trò Tam tạng đã thành Phật cho nên A Nan và Ca Diếp mở kho lấy kinh vô tự, không có chữ nghĩa gì hết toàn giấy trắng tinh mà phát cho. Kinh này theo điệp khúc “Bất thuyết nhất ngữ” mà Phật dùng để kết luận các buổi thuyết pháp, không thể truyền bá cho đại chúng được cho nên Phật Nhiên đăng thấy thương hại và bảo phải vào đổi lại thành kinh hữu tự. Phật Nhiên đăng là Phật của kiếp trước, không rõ trào lưu hiện tại là thích danh từ chữ nghĩa, ham mê bằng cấp, thích đọc báo chí, thèm quây Ronéo phân phát lung tung, cho nên mới tưởng ai cũng có tinh thần “ly danh tự” như mình: đọc kinh nhưng không chấp kinh.
Kinh hữu tự dễ bị xuyên tạc, thêm bớt cắt xén cho hợp quyền lợi riêng tư rất nguy hiểm vì gây chiến tranh tôn giáo. Phật căn dặn kỹ càng Tam tạng trước khi đổi kinh: Kinh vô tự quí hơn kinh hữu tự.
Cũng chính vì cái chuyện hữu tự này mà Tam tạng vướng phải một tai nạn chót khi cỡi rùa vượt sông Thông thiên trên bước đường về. Ngồi trên lưng rùa Thủy nguyên mà quên hỏi với Phật nguyên thủy kiếp rùa nên bị rùa giận hất nhào xuống sông. Mặc dầu không chết đuối vì đã thành Phật
nhưng cái nghiệp mang kinh hữu tự cũng đủ làm cho ngài ướt hết áo quần và bộ kinh cũng ướt luôn. Nhưng cũng nhờ ướt kinh phải phơi kinh nên trang chót dính liền vào đá bóc không ra và bộ kinh thiếu phần kết. Thiếu phần kết thành ra tuy hữu tự mà cũng như vô tự cho nên cái nghiệp chấp danh tự được giải quyết xong và thầy trò Tam tạng không gặp tai nạn gì khác nữa.
Sau đó tám vị Kim cang nổigió đưapháiđoàn đếnTràng an nhẹ nhàng bay qua trongkhoảnhkhắcmấy dòngsông của câu chuyện.
Dòng sông của câu chuyên chiến tranh Việt Nam tiếc thay chưa có ai chịu bắc cầu độc mộc trong nội tâm cho nên cầu Hiền lương vẫn còn đó, Bến hải vẫn còn đó mà không làm sao vượt qua được. Lý trí biện thông quá nhiều, bàng môn tà đạo cũng lắm, lo chuyện hận thù chống nhau cho nên không những dòng sông này càng chảy mạnh mà lại còn tạo thêm những dòng sông khác như cái nạn sông Mékong ngày hôm nay. Và với dòng Mékong hàng triệu chiến sĩ Việt Nam sẽ phơi thây thêm một cáchsaysưatronglý tưởng.Và đất thiêng của xứ Phật Chùa Tháp biếnthànhđịa ngụctrần gian vì chữ Từ bi mà thiếu phần hỷ xả. Đường tăng đâu rồi để cho:
Dòng sông nước chảy không bao giờ ngừng, cũng như vô sốý niệm tuôn mãi không bao giờ dứt.
(Anguttara IV)
NGÔ TRỌNG ANH
Trung tuần tháng 6 năm 1970 nhà Xuất Bản
QUẾ SƠN—VÕ TÁNH, hân hạnh giới thiệu cùng độc giả:
CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO
NGUYỄN HỮU HIỆU
giới thiệu
Tư tưởng và quan niệm về sáng tạo của:
NIETZSCHE — RIMBAUD — HENRY MILLER
SCHOPENHAUER — WILLIAM FAULKNER — ANDRÉ GIDE — GEORGES SIMENON — RAINER MARIA RILKE
Cô đơn, bạn đi theo con đường của kẻ sáng tạo: bạn muốn tạo ra một thần thánh và bầy con quỉ của bạn!
Cô đơn, bạn đi theo con đường của tình nhân: bạn yêu chính bạn, vì lẽ đó bạn khinh bỉ bạn, như chỉ những kẻ tình nhân biết khinh bỉ.
Kẻ tình nhân muốn sáng tạo bởi hắn khinh bỉ! Biết gì về tình yêu kẻ không biết khinh bỉ chính cái mình yêu dấu.
Hãy đivàocôđơn, bạn ơi, với tình yêu củabạn vàsựlao khổ củabạn; vào buổi xế chiều công lýsẽ khậpkhiễng lết lê theo bạn.
Hãy đivàocôđơn với nước mắt ta, bạn ơi.Ta yêu kẻ muốn sáng tạotrong khi vượt quá mình và lụn tànnhư vậy.”
Zarathustra đã nói như thế.