Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 130.

Chương 3: Tiếng Nói Của Con Người Trên Mặt Đất (Trang 27 - 34)


TIẾNG NÓI CỦA CON NGƯỜI  TRÊN MẶT ĐẤT
* Atonio Machado
* Juan Ramón Jiménez
* Federico García Lorca
Ba nhà thơ hiện đại của Tây ban Nha

 
PHẠM CÔNG THIỆN dịch
 
 
 
 
ATONIO MACHADO
Camiante, son tus huellas
el camino, y nada más;
Caminante, no hay caminno,
Se hace camino al andar.
Al andar se hace camino
y al volver la vista atrás
Se ve la senda que nunca
Se ha de volver a pisar.
Caminanto, no hay camino,
Sino estelas en la mar.

 
 
 
 
Dịch:
Hỡi kẻ lãng du, những dấu chân mi
là con đường, chứ không có gì hơn nữa:
Hỡi kẻ lãng du, không có con đường nào cả
bước chân đi của mi làm thành con đường như thế
Bước đi làm ra con đường ,
Và khi nhìn lại,
Mình nhìn thấy lối đi
Sẽ không bao giờ được dẫm lại nữa .
Hỡi kẻ lãng du, không có con đường nào hết
Chỉ còn vết nước rẽ của đại dương
JUAN RAMÓN JIMÉNEZ
¿ Sostiene la hoja seca
a la luz que la encanta,
o la luz
a la hoja encantada?
Dịch:
Có phải chiếc lá khô nuôi dưỡng
ánh sáng mê hoặc
hay ánh sáng nuôi dưỡng
chiếc lá mê ly?
PFDERICO GARCÍA LORCA
El grito deja en el viento
Una sombra de cipres
 
 
 
(Dejadme en este campo llorando)
Todo so ha roto en el mundo.
No queda más que el silencio
(Dejadme en este campo
(llorando)
El horizonte sin luz
está mordido de hogueras.
(Ya os hedicho que me dejéis
en este campo
llorado).
Dịch :
Tiếng la bỏ lại trong gió
một bóng cây trắc bá
(Hãy bỏ tôi lại cánh đồng này
để khóc.)
Tất cả mọi sự trên thế giới này đã gãy đổ .
Chỉ còn im lặng ở lại.
(Hãy bỏ tôi ở lại cánh đồng này
để khóc ).
Chân trời đen cháy xém với cơn lửa dậy .
(Tôi đã van người hãy bỏ tôi ở
lại cánh đồng này
để khóc).
ENCRUCIJADA
Viento del este :
Un farol
y el puňal
en el corazón.
 
 
 
La calle
tiene un temblor
de cuerda
en tensión
un temblor
de enorme moscardón
Por todas partes
yo
veo el puňal
en el corazón

Dịch
NGÃ TƯ ĐƯỜNG
Gió thổi từ Đông phương:
một ngọn đèn lồng
và một cái dao
trong tim
Con đường
run rẩy
như sợi dây
căng thẳng
vù vù
như một con ruồi nhặng to lớn
Ở mọi nơi
Tôi
thấy dao găm
trong tim.
 
 
 
ROMANCE SONÁMBULO
Verde que te quiero verde.
Verde viento. Verdes ramas.
El barco sobre la mar
Y el caballo en la montaňa (….)
TÌNH CA MỘNG DU
Xanh lá cây ta yêu mi xanh lá cây
Xanh lá cây gió. Xanh lá cây cành
Chiếc tàu trên biển cả
và con ngựa trên núi đồi (….)
(Bài này quá dài chỉ xin trích một đoạn thôi)
 
 
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TIỂU SỬ:
 
*          ANTONIO MACHADO  (1875-1939).
Sinh tại Seville, lúc 8 tuổi, sống ở Madrid, năm 1903, xuất bản tập đầu Soledades (những nỗi cô độc), chịu ảnh hưởng Una-muno, sống lãng tử phóng đãng của con người nghệ sĩ cho mãi đến 32 tuổi, thường lang thang ở Paris, la cà những quán cà phê ở Madrid, sau dạy chữ Pháp ở Soria ở bờ sông Duero, năm 1913, Machado viết thư cho Unamuno: “tôi đã học chút ít điều ở Paris, nhưng tôi học được nhiều điều hơn nữa bằng cách đi rong qua những thành phố nhỏ bé tồi tàn”.Sau Machado lấy vợ năm 1909, khi hai vợ chồng ở Paris thì

 
 
 
 
Machado học với Bergson và sau đó nàng bị bệnh ho ra máu, chết năm 1912. Machado tuyệt vọng cô đơn và muốn tự tử, trong lúc quá cô đơn, Machado có làm một câu thơ “Hỡi Trời, tim tôi và biển cả giờ đây đều cô độc” ( Seňor, ya estamos solos mi corazón y el mar), sống bơ phờ, mất mát, câm lặng giữa vùng đá tảng ở Soria, giữa những vườn olive rì rào; năm 1917, Machado sống ở Segovia, trở lại sinh hoạt thường nhật của thiên hạ, ông diễn thuyết đó đây, viết kịch, được dịp gặp gỡ một người đàn bà tên là Guiomar, yêu nhau nồng cháy, một câu thơ của Machado còn ghi lại: “Guiomar và cơn run rẩy của một rạng đông cuồng dại” (Guiomar, y en el calofrio / de una amanecida lo ca…): Machado đón nhận nền cộng hòa Tây Ban Nha vừa mới ra đời, nhưng khi nước Tây Ban Nha của ông sụp đổ năm 1939 thì ông trốn qua biên giới nước Pháp và chết trong lưu đày.
 
*          JUAN RAMÓN JIMÉNEZ   (1881- 1958).
 
Sinh tại Moguer , một thành phố nhỏ ở Andalusia, giữa những ngôi nhà sơn trắng của tỉnh lỵ, gần vịnh biển xanh và vườn thông reo. Năm 1900, đến sống ở Madrid, năm 1916 ông sang Hoa Kì và lấy vợ ở đó, khi băng qua đại dương ông đã bị xúc động dữ dội và viết tập “Nhật kí của thi sĩ và Biển cả” (Diario de poeta y mar). Năm 1948, khi vượt biển băng qua Buenos Aires, ông viết tập “Thú của đáy sâu” (Animal de fondo). Tác phẩm văn xuôi thư mộng nhất của ông là “Con lừa Platero và tôi” (Platero y yo). Năm 1956, ông được giải Nobel về văn chương.

 
 
 
 
*          FEDERICO GARCIA LORCA  (1899-1936)
 
Thi sĩ nổi danh nhất của Tây Ban Nha ở thời hiện đại, sinh tại Fuente Vaqueros, một thành phố nhỏ gần Granada. Lên đại học, học Luật, Triết và Văn. Năm 1919, lên sống ở Madrid trong gần 15 năm trời, bỏ học đại học, rồi sống và viết, đọc thơ trước quần chúng, lang thang vùng Castile, năm 1924 - 27, viết tập thơ Romancero Gitano (xuất bản năm 2928), có lần trưng bày tranh vẽ ở Barcelona (năm 1927) và cũng có kịch trình diễn tại Madrid. Năm 1929 - 30, Garcia Lorca trọ học ở tại nhà John Jay Hall thuộc trường đại học Columbia, thường hay lang thang đến vùng Harlem, chán ghét đời sống U.S.A. yêu thương thánh ca của dân Mỹ đa đen. Năm 1930, sau khi nghỉ hè ở Cuba và Mexico, ông trở về Tây Ban Nha một thời gian ngắn sau khi Cộng hòa Tây Ban Nha được tuyên bố, ông say sưa với nền Cộng hòa mới năm 1933-34, ông đi vòng quanh Argentina và Uruguay để diễn thuyết, đọc thơ; khi nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ thì ông ở nơi quê hương, tại Callejones de Garcia. Khi viếng thăm người bạn, ông bị lính Franco bắt, sau khi dẫn đi và bị đập bằng bá súng, rồi bị bắn nát cả thân thể. Những tác phẩm của Lorca bị đốt tại công trường Plaza del Carmen ở Granada và ngày nay bị cấm bán ở Tây Ban Nha của Franco, nhưng thơ nổi tiếng khắp hoàn cầu, đi vào trái tim của nhân loại cho đến muôn đời.


 

PHẠM CÔNG THIỆN

 
 
 
 
SÁCH DO NHÀ AN TIÊM XUẤT BẢN
*          Tôn Giáo là gì
của John Yale
(viết theo lời của Vivekananda)
*          Việt Lý Tố Nguyên
của Kim Định
*          Sa Mạc Trường Ca
thơ của Bùi Giáng
*          Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm
thơ của Vũ Hoàng Chương
*       Nói chuyện với Krishnamurti
do Carlo Suarès thực hiện
Nguyễn Minh Tâm dịch
VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN
của KIM ĐỊNH
Đây là công trình của một cuộc khảo cổ khác thường, không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học để cố tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, những tính chất có ngay tự đầu và sẽ còn lại mãi với dân tộc, nên gọi là Tố theo nghĩa “bản lai cố hữu”.
Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên chiếu rất nhiều tia sáng kỳ lạ vào con đường chúng ta phải đi để đến đợt văn minh chân thực. Như thế sự quay về học lại nguồn gốc nước nhà dưới mọi khía cạnh văn minh, văn hóa, định chế, sử địa, văn chương... không còn là một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân tộc, đặt nền tảng vững chắc nhất cho nền quốc học ngày mai vậy.
AN TIÊM XUẤT BẢN
 
 
 
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »