Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 130.

Chương 5: Triết Lý Với Quốc Học (Trang 49 - 60)


TRIẾT LÝ VỚI QUỐC HỌC

KIM ĐỊNH
 
 
 
 
Bài trên (1) đã nói rằng cần phải có triết thì quốc học mới trọn vẹn. Vậy ở đây chúng ta bàn về triết. Triết là triệt, mà triệt có hai hướng là triệt thượng và triệt hạ. Chúng ta sẽ lần lượt bàn về hai loại đó.
 
I
Xét về phương diện triệt thượng có thể phân ra 4 yếu tố làm nên một nền quốc học gọi là dụng, từ, ý, cơ. Có được cả bốn yếu tố đó thì mới đáng tên là triệt thượng.
Dụng là gì?
Thưa Dụng là khi dụng theo nghĩa rộng có thể bao
 
 

(1) Rút từ quyền “Vấn đề quốc học”

 

 
trùm cả hai phía là thành công lẫn thành nhân. Thành công là những đồ dùng, khí cụ để sản xuất như các cơ khí máy móc. Thành nhân là những thể chế hay thói tục thí dụ phép tỉnh điền, tục cưới rể hay cưới dâu, và nhiều cái khác làm thành khuôn mặt của một nếp sống chung, Tây kêu là conduite collective tức là phong thái của một đời sống tập thể thí dụ mối nhân luân là chủ mô, hay là ngũ luân phân phối tài sản là vô sản với hữu sản, hoặc bình sản, giao liên theo tinh thần công thể hay theo óc cá nhân v.v...
Từ là lời nói bao gồm cả những tác phẩm văn chương, văn học, văn nghệ.
Ý là những tư tưởng, cũng như những ý hệ (hệ thống các tư tưởng) căn cứ trên một số ý niệm chính các nên triết lý khác.
Cơ là cái cơ cấu uyên nguyên rất sâu thẳm rất tế vi nhưng lại đóng vai trò quan trọng như lò phát điện đối với các máy chạy điện. Bốn yếu tố trên làm nên cái khung, cái hồn thiêng linh động toàn bộ một nền văn hóa, thiếu nó là thiếu hồn và học vấn chỉ còn là học vấn suông, lạnh lùng tản mát. Vì thế chúng ta cần xét lại từng điểm cách cụ thể.
Trước hết là chữ Dụng. Ngày nay khi nghe hai chữ văn minh thì thường người ta nghĩ ngay đến đợt dụng đầu tiên là khoa học kỹ thuật. Và về điểm này thì người ta quen nói Tây phương có văn minh còn các nơi khác thiếu văn minh và ta có thể nói Tây phương dẫn đầu thế giới trên đường văn minh, điều đó không thể chối cãi ít ra từ thế kỷ 15 về sau. Và thường người ta quen dừng lại ở đấy cho là tận cùng, như hầu hết thế hệ đàn anh chúng ta đã quen làm thế.
 
 
 
Đến nay thì tâm trạng con người đang thay đổi và đó đây đã có người nói đến nền Minh triết Đông phương như vậy là người ta đã nghĩ đến đợt cơ tuy mới là mặc nhiên vì đợt này rất khó trở nên minh nhiên bởi nó không có nhiều mà chỉ có một hai nguyên lý trình bày trong mội hai tiếng nên thường người ta rất dễ mất ý thức, tuy trong đời sống nó còn giữ được ít nét nhưng cách tiềm thức. Thí dụ cơ trong nền văn hóa Việt Nho là trời đất giao thoa, còn biểu lộ nhiều cách thí dụ tên nước Văn Lang hay Giao Chỉ. Và tất nhiên là người Việt đã mất ý thức trọn vẹn về cơ nên giải nghĩa lùm lum, Giao chỉ là hai ngón chân cái quặp lại hoặc Giao chỉ là miền có nhiều Giao long (xem Việt lý Tố nguyên c. XIX) tuy giải sai nhưng nhiều người vẫn sống hậu quả trung thực của nó cách vô thức. Hậu quả đó rất lớn lao vì đây là đợt sâu thẳm nên âm vang vô cùng quan trọng, chính ở đợt này mà có sự sai một li đi một dặm. Vì cái cơ quá tế vi nên chúng ta cần xét về cơ cấu của văn hóa chúng ta. Lối dễ hơn hết, ít ra giúp dễ nhận thức ra cơ cấu đó là lối học đối chiếu với các nền văn minh khác như Ấn Độ và Tây âu, vì xin tóm lược hậu quả của ba nền văn minh vào bản sau đây.
 
Thân tâm
xã hội
Triết Tây
O
O
Triết Ấn
Thân tâm
O
Triết Việt
Thân tâm
xã hội
Bản trên nói lên rằng triết Tây không biến cải con người tư nhân (thân tâm) cũng như không biến cải xã hội. Triết Ấn biến cải được tư thân nhưng không biến cải xã hội, còn triết Việt thì biến cải được cả hai. Mới đọc bản này nhiều
 
 
 
độc giả sẽ cho là quá khích, so với hiện trạng thì không có như vậy mà trái lại là chính xã hội Tây âu đã biến đổi đời sống vượt xa chúng ta trăm ngàn lần. Điều đó chúng tôi cũng nhận như vậy nhưng cho rằng mới chỉ có như vậy từ hơn một hai trăm năm nay và lý do của sự cải tiến là khoa học cơ khí chứ không do văn hóa nhân văn. Đành rằng trong cuộc cải tổ xã hội như các cuộc cách mạng Pháp hay các tư trào thợ thuyền đều phải có vận động văn hóa nhưng khởi nguyên là do khoa học tạo điều kiện trước hết, còn nhân văn, văn học chỉ là theo sau, chứ không đi trước. Chúng ta chỉ cần đi ngược thời gian về các thế kỷ trước thì liền nhận ra xã hội Tây âu cũng như Ấn Độ vẫn nằm trong mối tương quan chủ nô về người và tư bản vô sản về tài nguyên. Chỉ cần xét hai điểm then chốt đó là đủ hiểu tính chất một xã hội và mức độ hiệu nghiệm của một nền văn hóa. Bởi vì hai điểm này là cột cái trong sự giải phóng con người cách chân thực. Mà đích cùng của triết là giải phóng con người, không phải bằng lý thuyết suông nhưng bằng mấy điểm then chốt kể trên: là phá chế độ nô lệ để thiết lập tình huynh đệ phổ biến, và hai là thiết tập chế độ bình sản để bảo đảm cho nền tự do có nội dung. Ai cũng biết bên Tây âu vẫn chủ trương quyền tuyệt đối tư sản, một chủ trương đã dẫn tới tư bản. Mà đã là tư bản thì một người có chín người không, không có chi cả nên gọi là vô sản. Đã vô sản thì phải lệ thuộc vào người có của để mà sống, mà đã lệ thuộc trong vấn đề dạ dày thì còn mấy tí tự do. Ai cũng biết những triết gia Tây âu kể cả những vị lẽ ra phải tiến bộ nhất đều chủ trương chế độ nô lệ cần thiết cho đời sống xã hội, thì đủ biết nói triết Tây chưa giải phóng được con người là điều có thật ít ra trong một thể chế lớn lao lâu dài. Như vậy thì trong những phạm vi khác tế vi hơn
 
 
 
đã chắc gì có được giải phóng. Có lẽ vì thế mà bên Âu Mỹ người ta rất hờ hững với triết, phần lớn coi đó là một xa xỉ phẩm, tệ hơn nữa đến chính những người học triết cũng không dám tin vào chính mình. Ngược hẳn với bên Viễn Đông, kẻ sĩ dầu sao vẫn được coi trọng thì điều ấy có thể coi là chứng minh sự thành đạt phần nào của cái học mà nền móng là triết.
Bây giờ hỏi rằng tại sao lại có sự bất lực nơi hai nền triết học kia thì tôi cho rằng vì cả hai chưa đạt Cơ. Nếu ta biểu tượng cá nhân sống trong xã hội bằng nét ngang và cơ bằng nét dọc thì triết Tây mới có nửa nét ngang, triết Ấn mới có một nửa nét ngang và một nửa nét dọc, triết lý Việt có cả hai, tức đã giải phóng cá nhân (phá chế độ nô lệ và lập chế độ bình sản) đồng thời cũng trở thành đường tu thân tâm. Nhưng nếu có người hỏi tại sao triết Việt có đủ cả lại thua triết Tây mới chỉ có nét ngang. Thưa bởi hai lý do; trước hết vì văn minh kỹ thuật quá cao làm lóa mắt người Á châu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho văn hóa Tây lấn át văn hóa Đông phương; hai nữa là hầu hết người ta cho rằng nhờ triết học mà khoa học tiến. Đó là sự tin tưởng chung đến nỗi có người như Heidegger lấy sự thành công của khoa học để chứng minh sự thất bại của triết học. Đây là một sự lầm lỡ tai hại của Heidegger nó giúp vào sự lầm tưởng rằng muốn tiến trong khoa học thì phải thất bại trong triết học, cũng như trước đây nhiều người cho rằng phải vứt bỏ tâm linh mới tiến bộ được trong khoa học cơ khí. Chính vì thế nên giới trí thức Á châu đã đầu hàng quá dễ triết học Tây âu để mong cầu tiến bộ kịp người. Hai nữa người mình đã mất ý thức về cái cơ cấu của nền văn hóa dân tộc mà lại chưa có được một nền triết học mới ít ra trong các lý giải, mạch lạc,

 
 
 
 
vì thế trước sức tấn công của đối phương văn hóa Việt đã không thể cầm cự. Bởi vì bên văn hóa Tây phương có tư tưởng và ý hệ đó là những xe tăng, mà văn hóa Việt lại chỉ có văn chương thi phú ví được với những chậu cảnh những trang sức tốt cho thời binh, làm sao chống chọi nổi? Tây âu hơn ta ở Ý (ý hệ tư tưởng tôn giáo có tổ chức). Còn ta tuy hơn Tây ở Cơ nhưng đã mất ý thức nên văn hóa ta lùi bước trước văn hóa Tây âu là việc không có gì đáng ngạc nhiên.
Để hiểu rõ hơn hai đợt Cơ và Ý tôi xin mượn một thuyết bí truyền được Thông Thiên học quảng bá. Thuyết đó chia cuộc tiến hóa con người làm 7 giống dân chánh làm như bảy nấc lớn đi lên. Trong mỗi giống dân chánh lại chia ra 7 giống dân phụ.
Giống dân chánh thứ III là dân da đen
Giống dân chánh thứ IV là dân da vàng
Giống dân chánh thứ V là dân da trắng
Da trắng hiện nay mới tới dân phụ thứ 5 như Anh, Đức, Nga, Mỹ, còn Pháp, Ý, Tây Ban Nha thuộc dân phụ thứ 4. Dân da vàng trái lại đã đạt đợt dân phụ thứ 7 như Mông Côe, Tàu, Nhật, Việt... Ở đây tôi không bình luận về thuyết trên là đúng hay sai mà chỉ có ý mượn cái sườn đó để diễn tả cái quan niệm riêng của tôi về quá trình tiến hóa của con người mà tôi đã phác họa sơ sài trong Việt Lý tố nguyên. Cuộc tiến hóa đó đi theo từng nhịp gồm hai bước sinh và tâm: sinh đi trước tâm đi sau. Và tôi gọi sinh là ngành (tương đương với giống dân chính) còn tâm là chi (tương đương với dân phụ) và tôi cho rằng về sinh thì Tây âu hơn ta một bậc: ta bốn

 
 
 
 
(IV) họ năm (V) nhưng về tâm thì họ mới đạt chi 4 và 5 còn ta đã đạt chi 7. Áp dụng vào trường hợp triết mà nói thì sự tiến bộ của ngành biểu lộ bằng ý (tư tưởng Tây hơn ta) còn chi biểu lộ bằng cơ (ta hơn Tây). Nhờ lối phân tích này ta có thể đánh giá khá đúng những chỗ hơn chỗ kém của mình hầu bổ cứu nền quốc học chúng ta.
Vậy về sinh (ý) Tây phương hơn hẳn ta một ngành vì thế triết học của họ rất phong phú, có lý giải cách hệ thống. Họ có những nhà tư tưởng lớn, những ý-hệ-gia vĩ đại vượt xa Đông phương, đến nỗi đem so sánh thì ta kể là không có triết học. Và đó là chỗ ta còn thiếu nên cần phải bù đắp. Tuy nhiên đứng về tâm linh thì hầu như Tây âu chưa đạt: họ có linh thiêng tức rất cao, nhưng chưa gần gũi đi sâu vào tâm hồn để có thể gọi được là tâm linh. Nhưng rồi có ngày họ sẽ bước lên chi 6 và khi lên đến chi 7 thì tâm linh họ đã hơn cả Đông phương. Vì cơ đặt trên ngành V cao hơn cơ đặt trên ngành IV. Lúc ấy triết sẽ có thêm sự phân tích lý giải và nhờ đó nhân loại sẽ có một nền triết tương xứng với trình độ khoa học. Hiện nay khoa học vượt triết vì khoa học đã đạt đợt khí (vi trần) tâm lý đạt tiềm thức thế mà triết lý chưa thoát vượt đợt ý là những cái gì cứng dọng. Bởi vậy chưa đạt thân. Và bởi vậy nên ta phải sài đỡ cái cơ của ta, vì nó đã đạt đợt khi (âm dương nhị khí) nên biến chuyển linh động mà không còn đặc sệt như ý niệm. Tuy ý triết Việt kém nhưng ta vẫn phải theo cái Cơ của nó, bởi vì không phải ý qui định nội dung cho những câu nói những ý nghĩ và nhất là đem lại cho chúng một hiệu năng bằng bơm hăng say thần khí vào nhưng chính là cơ, vì Cơ mới giúp cho nhận ra mối tương liên của vạn vật với Toàn Thể, mà bất cứ cái học nào có móc nối

 
 
 
 
được với Toàn Thể mới có sống động. Vì thế cần phải bám riết lấy Cơ trong khi xây đắp triết lý cho Việt Nam. Trong việc xây đắp này tất nhiên là phải học với Tây phương rất nhiều, như đã nói họ hơn ta một ngành, và chính vì chỗ đó mà họ thắng ta. Nay nếu ta muốn trỗi dậy dành lại quyền sống cho nền văn hóa nước nhà thì nhất định phải xây đắp một nền triết mới. Nếu nền triết này hoàn toàn theo Tây thì sẽ thiếu Cơ và tôi sẽ gọi là triết học nghĩa là triết để mà học và tận cùng ở học mà thôi. Còn nền triết này tuy vay mượn chất của Tây hay bất cứ từ đâu nhưng trung thành với cái Cơ của tiền nhân, thì sẽ gọi là triết lý. Chữ triết lý gồm cả Ý cả Cơ tức vừa lý giải mạch lạc như triết Tây vừa có những cái nhìn trực chỉ như triết Đông: Một nền triết như vậy phải có tính chất cách mạng và hoàn toàn mới. Là vì tuy cái Cơ là của Việt Nam nhưng chúng ta đã mất ý thức về nó, nên đã để cho Hán Nho ngự trị trước, rồi đến ý hệ ngoại lai sau này kế vị làm chủ tình thế trên mảnh đất này. Vì thế, nay đưa triết Việt như kiểu trên ra mà trình bày thì qủa là một cái gì có vẻ hoàn toàn mới lạ. Trước hết mới đối với các tư trào đang ngự trị trên dải đất này. Bởi chúng là sản phẩm của Tây nên cũng mang nặng tính chất Tây: là tuy có lý giải rành mạch, hệ thống hóa đàng hoàng nhưng vẫn để người học nguội lạnh nên vẫn chỉ là thuyết với lý, không huy động nổi tình và tâm. Còn đối với triết Đông nền triết Việt cũng sẽ cách mạng ở hai điểm, một là lối lý giải biện chứng cùng nhiều yếu tố mới được thâu hóa, hai là nhận thức ra cơ, mà không còn cảm lờ mờ như xưa. Sự nhận thức gây rất nhiều âm vang vào cả toàn bộ khiến cho nền triết lý đó vừa có nét nhất quán khác thường lại vừa hiệu nghiệm hơn xa, và do đấy
 
 
 
tuy thoạt gặp nhiều người Việt coi như xa lạ nhưng khi đã vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu sẽ trở nên rất gần gũi với tâm hồn Việt Nam, tâm hồn Viễn Đông và có lẽ là với tâm hồn con người nói chung không phân biệt Đông Tây chi hết. Một nền triết như thế chưa biết đã hiện thực được chưa nhưng đó phải là ý tưởng cần đặt ra để hướng tới, để thôi thúc việc làm của chúng ta.

II

Bây giờ bàn đến điểm hai là triệt hạ
Triệt hạ hơn hết gọi là “Ở đời”. Tiếng ở đời mới xuất hiện bên triết Tây với Heidegger trong thành ngữ “in-der-welt-Sein” = Etre-au-monde. Đây là một thành ngữ rất dễ gây hiểu lầm vì chữ “in” không có nghĩa là ở kiểu vật thể như kẹo ở trong hộp, nhưng là một lối ở thẩm thấu mà ta có thể dịch là “ở đời”, miễn phải hiểu chữ ở là để phần tinh anh vào nơi nào mãi mãi còn đời phải hiểu là vũ trụ tức là cả thiên lẫn địa cả âm lẫn dương, hiểu như vậy chữ ở đời mới có một ý nghĩa cao rộng đủ để bao hàm sự tuyền vẹn con người. Vì thế đó là nét đặc trưng của nền triết lý Nho Việt nên chỉ với nó mới có thể nói “ở đời” còn hai nền triết Âu và Ấn thì không. Về triết Âu thì ta biết nó là nơi ngự trị của nhị nguyên thuyết, tức là thứ triết thuyết chẻ đôi thế giới ra hai: bên kia là lý giới bên này là trần giới rồi bắt con người hướng tất cả bầu tinh anh nghị lực vào lý giới mà bỏ bê trần giới. Đó không là ở đời mà là ở trời. Vì thế Platon ông tổ của triết thuyết nhị nguyên cho rằng cùng đích triết là nhìn ngắm những ý niệm (contemplation

 
 
 
 
des idées). Cũng dòng triết này khi truyền sang Ấn Độ thì đi xa hơn bèn coi trần thế là ảo mộng, nghĩa là còn tệ hơn triết của Platon vì Platon mới coi sự vật đời này là bóng là hình, đến triết Ấn thì chỉ còn là “ảo hóa đã bày ra đó” để đánh lừa con người và vì thế con người phải tìm cách vượt ra khỏi trần giới. Vậy cũng không là ở đời mà là trốn đời”. Con người dồn trọn vẹn ý chí vào việc tìm giải thoát ra khởi đời và do đó không còn để dành chi cho thế giới bên này. Đó là lý do giải nghĩa tại sao Tây âu đầy những nền triết học nguy nga đồ sộ mà lại để cho xã hội nằm chình ình trong bất công, trong nô lệ. Là vì có ở đời đâu mà tác động vào đời. Cũng vì thế mà khi muốn dùng danh từ cho thật chính xác thì không nên áp dụng chữ tâm linh cho các thuyết lý Tây âu, vì thực ra mới chỉ có duy linh hay thiêng liêng là những yếu tố nằm trong cơ cấu không ở đời tức là tìm cao cả bên ngoài thế giới. Bên ngoài thế giới thì có thể là thiên hay địa, nhưng nét cốt cán là ở xa người và duy có một chiều kích. Hai nét đó đi đôi, vì chữ đời theo nghĩa uyên nguyên là ở trong vũ trụ mà vũ trụ là sự giao thoa của trời cùng đất, cho nên chỉ ở đời thực mới có lưỡng-nghi-tính. Heidegger gọi là nét gấp đôi, còn không ở đời thì gọi là đánh mất nét gấp đôi. Đó là những con người chỉ còn một chiều kích giống như Herbert Marcuse tố cáo: “one dimensional man” và do đó Heidegger mới đưa ra thuyết ở đời là cốt để chống lại các triết học đi trước ít hay nhiều đã ra khỏi đời này, ra khỏi thân tâm, ra khỏi cả gia đình, quốc gia để đi tìm cái cao cả, cái siêu việt thể bên ngoải con người, bên ngoài xã hội, và do đó không cải tạo nổi xã hội, hoặc thân tâm nên gọi được là vong thân. Đấy là lý do khiến những người như Heidegger phản đối và đưa ra thuyết Sein und Zeit: Tính thể và

 
 
 
 
thời gian tức Tính thể ngay trong thời gian. Đó là điều hợp với cái tôi quen gọi là phi thường (sein) nằm ngay trong cái thường thường (đời: temporel). Muốn hiểu rõ điều này chúng ta hãy trở về phân tách cái cơ cấu của Lạc thư vì nó nói lên cái nghĩa ở đời nếu không hay nhất thì ít ra hợp với tâm trí người Việt chúng ta hơn nhất.
Trước hết là đối với tinh thần Lạc thư thì không có vấn đề triết cho triết, mà chỉ có vấn đề ở đời cách triết, tức là không có vấn đề riêng đặt ra cho triết, nhưng triết chính là bàn về mọi vấn đề con người cách triệt để, nghĩa là thấu đến cơ, mà cơ là thần, mà đã thần thì “vô phương” không cần nơi riêng để ở, thì cũng thế không cần đặt ra vấn đề riêng biệt cho triết, vì nó đã thấm vào mọi lối sống, nói khác nó thấu vào Dụng. Mà nếu đã thấu dụng thì cũng thấu từ, ý khỏi cần có vấn đề riêng cho nó, vì nếu phải có vấn đề riêng, phải có ý - hệ riêng thì là dừng lại giữa đường chưa có đạt cơ vậy. Vì đạt cơ là phải đem được triết vào đời. Đời với triết hòa hợp. Đó là điều triết Việt đã làm được và nó biểu thị như sau. Trong Lạc Thư thập tự nhai đặt giữa còn vòng chu vi làm bằng cả số sinh lẫn số thành. Nếu số sinh chỉ thời gian (biến dịch) thì số thành chỉ không gian (trải dài ra và im lìm) và biểu thị muôn vật đã hiện hình: tất cả các vật đã hiện hình đó đều hiện diện trực tiếp với Cơ. Cơ biểu thị bằng thập tự nhai chiếu thẳng vào các số chu vi mà không đi qua trung gian nào. Điều đó nói lên mối liên hệ cơ thể giữa vạn vật, vạn vật nào cũng có cơ như nhau: “các hư thái cực” Thái cực hay cơ là một vậy.
Trong phạm vi văn hóa nó biểu lộ ra trong nhất-quán-tính chạy xuyên qua tự dụng, từ đến cơ, không một cái gì
 
 
 
nằm bên ngoài. Nhờ đó cơ không còn là cái gì riêng nhưng biến hình theo sự vật, thế mà văn có biến mới hóa nghĩa là mới có sinh lực huv động tâm hồn. Vậy khi nào một nền triết đã trút bỏ được các chữ chuyên môn với những vấn đề riêng biệt của sách vở nhưng khơi dậy nổi những luồng cảm hứng hăng say thì từ lúc ấy mới kể là đã đạt được cơ. Mà đã đạt cơ tức cũng là đạt Dụng đạt từ và ý. Đạt Cơ là đạt được nền triết tương xứng với đà tiến của khoa học hiện đại và lúc ấy khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu cũng không làm cho đời sống biến thành chong chóng quay theo bất cứ ngọn gió nào. Vì triết đã đạt khả năng đánh lèn các nhịp theo Tiết điệu uyên nguyên cho mọi bước tiến. Đấy là lý tưởng có thể coi là cao quá mức nhưng vẫn phải là điểm qui hướng cho nền quốc học mai này của chúng ta.
 
KIM ĐỊNH
 
 
 
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »