NGUYỄN ĐĂNG THỤC
TUỒNG ẢO HÓA VỚI LÝ TƯỞNG GIẢI THOÁT.
Không một tư tưởng của dân tộc nào lại đượm màu giải thoát, tha thiết tự do hơn là tư tưởng Ấn Độ. Tự do, giải thoát của con người tâm linh. Tuy cùng chung một tính chất lục địa với tư tưởng Trung Hoa, nhưng tư tưởng Ấn Độ so với tư tưởng Trung Hoa thì một đàng xu hướng về tự do, một đàng xu hướng về xã hội đại đồng, một đàng đi về Đời, một đàng đi về đạo, Ấn Độ thiên về nội hướng, Trung Hoa thiên về ngoại hướng. Tư tưởng Ấn Độ thì vô vi, tư tưởng Trung Hoa thì hữu vi. Hai trạng thái khác nhau hầu như đối lập ấy, phải chăng là do điều kiện lịch sử khác nhau đã đẻ ra? Tuy cùng tính chất lục địa, nhưng dân Ấn cổ thời sinh hoạt trong hoàn cảnh lục địa xanh, giữa núi cao tuyết phủ, tất cả những hiện tượng tự nhiên của nhiệt đới đã biểu hiệu ra một cách cực độ dũng mãnh. Còn dân Trung Hoa từ
bước đầu lịch sử ở lưu vực Hoàng hà đã gặp hoàn cảnh phù sa thích hợp cho xã hội nông nghiệp định cư. Và ở một xã hội ấy người ta có tính tình bảo thủ, có khuynh hướng duy trì củng cố đời sống bền vững, khác với dân du mục ở Ấn Độ cổ xưa trước khi biến chuyển sang xã hội nông nghiệp định cư còn giữ nghề du mục làm căn bản. Và ngay sau khi đã có những bộ lạc sống thành làng định cư nông nghiệp rồi, dân cư vẫn còn nhiều phần tử sống đời du mục trong rừng rú, trên sườn non vậy.
Thi hào R. Tagore có tả về cuộc sinh hoạt đoàn thể của xã hội Ấn Độ thời cổ như sau trong cuốn; “Sadhana”: “Đường thực hiện”;
Khi những di dân “A-ry-an” đầu tiên đột nhập vào đất Ấn, thì xứ này là một xứ đầy rừng rú, sơn lâm. Tuy vậy, những dân mới đến ấy sớm biết lợi dụng hoàn cảnh. Những rừng ấy đã che chở cho họ chống với ánh nắng gay gắt của mặt trời và những trận bão phá hoại của nhiệt đới. Rừng ấy còn đem lại cho họ cỏ để nuôi súc vật, gỗ để đốt lửa thờ, vật liệu để làm nhà cửa. Các bộ lạc A-ry-an do các tộc trưởng lãnh đạo bèn thiết lập cơ sở định cư ở cách miền rừng rú đủ điều kiện che chở họ và có thức ăn nước uống dồi dào.
Vậy ở đất Ấn Độ, văn minh của chúng ta bắt nguồn từ trung tâm rừng núi và do hoàn cảnh cùng gốc tích ấy nên nó có một sắc thái riêng biệt. Vì được tạo vật thiên nhiên xanh tốt bao bọc, nuôi mặc cho cho nên chúng ta còn giữ được sự giao dịch mật thiết và bền vững đối với các phương diện của tạo vật thiên nhiên.
Người ta tưởng rằng một cuộc đời như thế tất phải làm nhụt trí thông minh của loài người đi, làm giảm mực độ sinh hoạt và như thế làm sút kém tất cả động cơ tiến bộ. Vậy mà ở Ấn Độ xưa, chúng ta nhận thấy những sinh hoạt rừng rú thâm lâm không khuất phục nổi trí thông minh của loài người và không làm suy giảm nhuệ khí của người ta. Trái lại chúng còn hướng dẫn vào một chiều đặc biệt. Người ta luôn luôn xúc tiếp với sức sống và trưởng thành của tạo vật thiên nhiên, không thấy lòng ham muốn khuếch đại khu vực chiếm cứ của mình và xây tường kín bao bọc lấy những của đã thu hoạch. Mục đích của nó chẳng phải vơ vét ôm đồm mà là thực hiện, mở mang tâm hồn của mình bằng cách cùng tiến hóa với hoàn cảnh. Nó cảm thấy chân lý ở chỗ phải bao quát tất cả. Một sự cô lập tuyệt đối ở đời là không thể có được. Và có một cách độc nhất để đạt tới chân lý là tự mình tham gia vào với tất cả hiện hữu. Thực hiện cái hòa điệu đại đồng giữa ý thức nhân loại và ý thức vũ trụ, đấy là mục đích của các hiền triết sinh hoạt ở rừng rú trên đất Ấn Độ cổ xưa vậy”, R. Tagore. (Sadhana),
Như vậy thì ngay từ bước đầu chập chững của tư tưởng Ấn Độ, chúng ta đã thấy lòng tham vọng, giải thoát ra khỏi cái vòng chật hẹp của cái mình nhỏ bé để trưởng thành cái mình vô hạn, cái mình phổ biến đồng nhất với Tạo hóa.
Bừng mắt trông ra chung quanh mình, dân Ấn nhận thấy như ở trong cái lưới của Tạo hóa, nào rừng rậm, nào núi cao, nào gió mưa bão táp, mây tuyết, nước đổ. Những hiện tượng thiên nhiên biến ảo mau chóng đã in sâu ấn tượng vào tâm trí nó, làm cho nó đêm ngày này ra ý tưởng tìm cách giải thoát. Nhưng giải thoát đi đâu? Lục địa bao
la, mênh mông biển cả, vòi vọi núi Tuyết Sơn tuyết phủ lưu niên, đoàn thể A-ry-an càng đi tìm thoái ly lại càng vào sâu trong rừng núi lục địa. Cảnh tượng hãi hùng của nhiệt đới càng xúc động vào tâm hồn nó bao nhiêu, nó càng muốn thấu hiểu cái bí quyết về thế giới sự vật để trước hết lợi dụng những thế lực thiên nhiên vào cuộc sống còn hàng ngày. Nó nghĩ cách thâu hóa những thế lực thiên nhiên để đổi làm quyền năng của mình. Đấy cũng là một đường giải thoát khỏi thế lực uy hiếp của tạo vật thiên nhiên. Ấy là tinh thần chung cho các dân tộc cổ sơ, không riêng gì cho dân tộc A-ry-an. Dân tộc này có chỗ khác với những dân tộc cổ sơ khác là ở tại chỗ nó sớm ý thức nó bị cái tuồng ảo hóa lừa gạt nó, dọa nạt nó, ám ảnh nó vây hãm nó trong vòng tối tăm mù mịt.
Vì sự vật chung quanh biến chuyển mau chóng chớp mắt đã đổi khác, chúng ta khó lòng tin vào giác quan của chúng ta được. Cho nên ta nhìn sự vật, vũ trụ như không phải là thực. Cái gì có thực tất nhiên phải không thay đổi, phải tồn tại. Mà nhìn chung quanh không có cái gì là tồn tại, thực có, để cố bám lấy như kẻ đang đắm đuối dưới nước, cố tìm một cái gì để bám lấy cho khỏi chìm vậy. Tất cả sự vật của giác quan đều thoáng qua trong chớp mắt. Tất cả bày ra trước mắt in như trong giấc mộng, tựa như: “tuồng ảo hóa đã bày ra đấy”. Song không phải thấy như thế mà nhân loại đã hết hy vọng đi tìm cái gì thực có, cái gi tồn tại đâu. Hãy xem câu chuyện ngụ ngỏn này do Vivekananda trích dẫn ở kinh Upanishads:
“Shvétakétou là con của một đạo sĩ. Aruni, một nhà ẩn sĩ. Nó sinh trưởng trong rừng núi. Nhưng một hôm nó
đi ra đô thị Pauchâla và đến trình diện trước điện nhà vua Pravâhana Jaĩvali. Nhà vua hỏi nó nhiều điều nó đều không trả lời được. Nó quay về hỏi lại cha về Chân lý. Cha nó bèn giảng dạy nó về nhiều điều và kết luận bảo nó rằng: “Cái Ấy là nguyên nhân tế nhị của tất cả sự vật này, thì chính cái Ấy đã sinh ra có tất cả những cái này. Ấy là toàn thể, ấy là chân lý, con là cái Ấy, hỡi Shvétakétou (Tat tvam Asi). Cũng như con ong, này Shvétakétou, nó hút mật của các thứ hoa khác nhau, và cũng như các thứ mật khác nhau không biết rằng mình xuất ra tự các thứ cây và các thứ hoa khác nhau, tất cả chúng ta cũng thế khi chúng ta bước chân vào cuộc đời này chúng ta cũng đều không biết chi hết. Song cái Ấy là bản chất tế nhị kia, chính ở cái Ấy mà tất cả cái gì hiện hữu đều có cái ngã của mình vậy. Ấy là cái Chân. Ấy là cái Ngã. Và con, hỡi Shvétakétou, con là cái Ấy (Tat tvam Asi).
Cũng ví như những dòng sông khi chúng chảy vào ở bể thì chúng không còn biết được rằng mình đã là những dòng sông khác nhau, thì chúng ta cũng vậy khi chúng ta từ trong cái thực tại kia mà xuất ra, chúng ta không biết được rằng chính chúng ta là cái Ấy; hỡi Shvétakétou, con là cái Ấy” (Tat tvam Asi).
Đấy là lời nói của một nhà đạo sĩ ẩn dật trong sơn lâm, sau khi đã không chú ý vào ngoại vật nữa, mà quay sự chú ý ấy vào bên trong để nội tỉnh. Và từ trong cái thuần túy kinh nghiệm của tinh thần với tinh thần, y đã tìm thấy cái gì là thực thể không thay đổi, tồn tại bất biến. Cái thực thể ấy ở ngoài sự thay đổi, nghĩa là ở ngoài thời gian và không gian, vì không gian và thời gian còn
tùy theo với nhân loại mà thay đổi. Cái thực thể ấy cũng ở trên cả sự giải thích của trí thức vì trí thức là tác dụng của ý thức màý thứccủa nhân loại cũng tùy theo tuổitác màthayđổi. Thực thể ấy không thể đem đối đãi so sánh theo cách nhận thức thông thường là chia ra chủ thể năng tri với khách vật sở tri.Nó chỉ có thể tâm truyền cho nhau từ người nọ qua người kia như một luồng từ điện lực vậy. Người ta chỉ phải thấy nó, kiên nó chứ không có thể thị nhìn nó như đối tượng với mình.
“Ở đâu có đối tính (dualité) cái nọ cảm thấy cái kia, cái nọ nhìn thấy cái kia, cái nọ gọi cái kia, cái- nọ suy nghĩ cái kia, cái nọ nghe thấy cái kia, cái nọ biết cái kia. Nhưng kẻ nào mà tất cả sự vật đối với nó đã trở nên Đại Ngã, thì nó còn có thể cảm giác thấy ai và làm thế nào mà có nó thể cảm giác được? Nó còn có thể nhìn thấy ai và bằng cách nào?Nó còn có thể nhìn nghe ai và bằng cáchnào? Nó còn có thể gọi được ai, và bằng cách gì? Nó còn có thể suy nghĩ gì và bằng cách gì? Nó còncó thể biế tai và bằng cách gì? Làm thế nào để nó cóthể biết được cái mà nhờ đấy nó mới biết được tất cả hiện hữu? Làm thế nào mà nó có thể biết được cái người biết?” (Upanishads Brhadaranyaka S II; 4).
Cái Ấy là gì? Là tất cả vạn vật vũ trụ không thay đổi, là cái toàn thểlà cái Thái Nhất Brahman. Và cái Atman là cái “Người biết”ở ta không biến dịch, tuyệt đối thì tham thuộc vào vũ trụ toàn thể, tức cùng là Brahman vậy. Brahman là tất cả những hành động trong vũ trụ, hơn nữa là động cơ cho tất cả hành động. Động mà không động! Giữa Brahmanở vũ trụ với Atman ở ta đây, vì có cái gì ngăn
che làm cho ta tưởng chúng là hai vật khác nhau, kỳ thực chỉ là một. Bởi thế mà ta thắc mắc, ta khát vọng, ta lo âu sợ hãi, trong lòng không yên, phải chạy ngược chạy xuôi mà tìm kiếm như đánh mất một của báu vô giá. Chỉ khi nào lại tìm thấy cái vật báu ấy thì tâm hồn mới mong bình tĩnh, không còn đòi hỏi. Đến đấy là giải thoát vì đã biết thật biết, đã yêu một tình yêu tràn ngập vô biên.
Bức tường mây che phủ ấy, chính là tuồng ảo hóa, cái trò ma thuật khác nào ánh mặt trời chiếu vào đám mây lúc mưa làm cho sắc cầu vồng nổi hiện. Sự thực thì cái thực thể bất biến ấy không ở đâu xa, nóở ngay tại chính trong tinh thần ta. Chỉ vì thân thể của ta đây với những cảm giác, tri giác tưởng tượng cũng ở trong cái trường thế lực thiên nhiên luôn luôn biến đổi ảo hóa, luôn luôn lừa gạt ta, đưa ta đi hết xó này xó kia như ma trơi dẫn lối đưa đường. Làm cách nào ra khỏi cái lưới dục vọng của cái tuồng ảo hóa ở chung quanh ta và chính ở bản thân ta được? Làm cách nào ra khỏi khu rừng chằng chịt mà vô tình ta đã sa chân ngã bước lạc vào, càng đi càng thấy như đi vào bụi rậm tối tăm mù mịt? Ai đem lại cho ta ánh sáng để soi đường? Ai sẽ là người có thể dắt ta ra khỏi nơi bụi rậm? May ra có hạng hiền triết là bậc tiên tri Rishis, trong sự trầm tư mặc tưởng đã thực hiện trong thuần túy kinh nghiệm đến chỗ thấy được cái thật không thay đổi, thấy được ánh sáng để soi tỏ lối đi về mục đích giải thoát. Nhưng Rishis là ai? Upanishads giới thiệu:
“Là những bậc người một khi đã tới Linh hồn tối cao thì tràn ngập những hiền đức. Là bậc một khi đã thấy được Linh hồn vũ trụ, Ý thức Đại đồng đầy thể với linh hồn mình
thì hoàn toàn nhập điệu với cái bản ngã nội tại. Là bậc đã thực hiện được Linh hồn Vũ trụ ở tại trong lòng thì được giải thoát khỏi những dục vọng vị kỷ; đã thấu hiểu ở khắp cả mọi hoạt động của thế giới, những bậc người ấy đã đạt tới tâm trạng quân bình. Rishis là những bậc đã vươn tới Thượng đế tối cao ở tất cả mọi nơi, thì đã thấy được sự hòa bình thường tại, đã hoà hợp được với tất cả hiện hữu, đã tham nhập thấu triệt vào tận nguồn sống của đại vũ trụ”. (R. Tagore dẫn trong Sadhana).
Vậy tư tưởng Ấn Độ từ thời Vệ đà, hơn hai ngàn năm trước kỷ nguyên đã tin có những bậc thánh trí; Sinh nhi tri, trong sự trầm tư mặc tưởng nơi thâm sơn cùng cốc đã thông cảm được với hoàn cảnh rừng thiêng, đã thấu triệt được cái thực tại bất dịch của sự vật, ẩn đằng sau các hiện tượng và ở bên trong cùng thẳm tâm hồn cá nhân nhân loại.
Cái thực thể ấy là nguồn sống bao la, tràn ngập thiên địa, từ tinh tú vận chuyển có tiết điệu đến cầm thú thảo mộc, sông núi, hết thảy đều bao hàm một nguồn sống nội tại.
“Tất cả cái gì hiện hữu ở thế giới đều có Thượng đế bao bọc” (Upanishads). Và ở thời Vệ đà là thời cầu tụng, cúng tế, thì:
“Tôi quì vái trước mặt Ngài. Ngài ngự ở tại ngọn lửa, ở tại dòng nước. Ngài thấm nhuần tất cả thế giới. Ngài ngự ở tại các mùa gặt hàng năm cũng như ở tại cây cổ thụ” (Upanishads).
Cái ý thức về nguồn sống bao la ấy mà dân A-ry-an đã sùng bái làm Thượng đế thì do hoàn cảnh thảo mộc xướng
mậu, cầm thú phồn thịnh, thời tiết nhiệt đới, hoàn cảnh lục địa mà luôn luôn họ tiếp xúc cho nên chúng đã gợi ở tâm hồn họ cái dòng sinh lực bất tuyệt tràn ngập từ cá nhân ra ngoại vật, tràn ngập cả không gian, và thời gian, vượt cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai:
“Tất cả sự vật đã phát xuất từ nguồn sống bất tuyệt và đều do nguồn sống làm linh động”. Bởi vì: “Nguồn sống thì vô cùng vô hạn” (Veda). Và nguồn sống ấy là Brahman vậy: “Bản thể tối cao tuyệt đối thấm nhuần tất cả cùng với tất cả cùng sinh sinh” (Upanishads trong Sadhana).
Nguồn sống tràn ngập, nguồn sống miên tục, trôi chảy không ngừng, không biên giới biểu hiệu ra thiên si vạn thù, thiên hình vạn trạng, không trạng thái nào giống với trạng thái nào. Có trạng thái sáng sủa như mặt trời mặt trăng, có trạng thái tối tăm như vực thẳm, như đêm dày, có cái vòi vọi như ngọn Hy Mã Lạp Sơn, có cái bát ngát như mặt biển Ấn Độ dương. Có cái nhỏ bé như côn trùng, có cái hùng mạnh như thú dữ. Có cái bỉổi, có cái mỹ miều, có cái độc ác, có cái lương thiện, v.v... Cùng một nguồn sống biến hóa ra vô cùng trái nghịch. Thực là một trò ma thuật ảo ảo huyền huyền, sắc sắc không không, có ai bày ra cái tuồng ảo hoá ấy không? Đấy là cả một mớ nghi vấn về cuộc sáng tạo của thế giới, như đã diễn tả trong đoạn văn Upanishads này:
“Ở thủa ấy, chưa có cái gì gọi là Hữu, chưa có cái gì gọi là Vô. Không có không gian, không có nền trời thăm thẳm. Cái gì đã biến động? Ở đâu? Ai đã điều dộng chỉ huy? Đã có nước sâu sâu chưa, có nước không sâu chưa?
Ở thuở ấy, chưa có chết, chưa có cái không chết, sáng tối hỗn mang chưa phân biệt. Cái Một Hồn Nhất im lặng, tự động: ngoài cái Ấy ra không có chi hết.
Khởi kỳ thủy đêm dày bao phủ đêm dày, tất cả chỉ là một ba động bất phân. Cái Một Hồn Nhất nằm trong Hư vô đang vươn lên Hiện hữu, bèn nhờ sức phát nhiệt mà sinh ra.
Rồi bắt đầu dục vọng phát triển, là mầm mống đầu tiên cho tưtưởng. Các thánh trí trầm tư mặctưởng lặn tìmtrong nội giới tâm hồn đã thấy được cái thực hữu ở trong cái Hư vô.
Một sợi dây của các Ngài kéo dài một đường ngang:bên nàolà trên,bên nào là dưới? Có những vật mang mầm mống, có những đạo đức; ở bên dưới là Tinh khí bột nhiên, ở bên trên có Ân điển.
Ai biết đích xác, ai có thể báo trước: tự đâu xuất hiện, ở đâu sinh ra Tạo vật này? Các thần tiên còn nằm ở trong động tác sáng tạo. Ai biết được từ đâu tạo vật sinh ra? Cuộc tạo hoá này từ đâu xuất hiện, nó đã bị sáng tạo ra hay không phải do sự sáng tạo?
Ai ở trên trời cao vòi vọi, cai quản tất cả có biết được chăng... hay là chính Ngài cũng chẳng biết được?” (Rg. Veda X. 129).
Cái tâm trạng hoài nghi ấy, đòi có sự giải thích.Từ đâu mà có cái cảnh tượng sáng tối, còn mất, sống chết, thiện ác trà trộn này? Một đấng Toàn Thiện, Toàn Trí. Toàn Năng, nếu có thì đã bày ra những trò mâu thuẫn ấy để làm gì?
Vậy các bậc Rishis đã lặn trong nội giới để tìm câu trả lời. Vũ trụ này từ đâu ra? Nó đứng ở đâu? Nó đi về đâu?
Và câu trả lời là: Vũ trụ này từ chỗ tự do mà ra nó thiết lập ở trong sự tự do. Và nó trở về tự do.
Song nếu tự do là bản chất của Vũ trụ thì làm sao chúng ta lại thấy như là chúng ta bị giam trong cái lưới sắt, bị nô lệ cho cái định mệnh khắc nghiệt:
Quyền họa phúc Trời tranh mất cả
Món tiện nghi chẳng trả phần ai,
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
Ôn Như Hầu
THUYẾT MAYA: TẠI SAO VÔ CỰC ĐI VÀO HỮU CỰC.
Các bậc tiên tri (Rishis) ở Ấn Độ thời xưa đã trả lời: Chỉ có một nguồn sống tràn ngập bao la nó biểu hiệu ra thiên hình vạn trạng. Nhưng vì những lửa dục vọng ở chúng ta đã nổi lên che lấp mất chân tướng, mà chúng ta đã cố chấp vào cái ngã riêng biệt nhất thời, chúng ta bám chặt vào cái trạng thái hữu hạn để rồi lo mất. Chúng ta đã bị cái ảo ảnh làm bế tắc, huyễn hoặc, làm cho chúng ta lấy giả làm chân, tưởng không là sắc, tưởng như chúng ta cố bám vào sự sống chẳng hoá ra lại tự giam vào cái vỏ chết, cái vỏ không gian, thời gian và nhân quả. Ấy là Maya, tuồng Ảo hoá, trò Ma thuật.
Dân A-ry-an từ thượng cổ, cầu cúng những thế lực tự nhiên mà họ thần thánh hóa, đã ý niệm cái trò Ma thuật của các thế lực thiên nhiên, biểu diễn trước mắt họ.
“Indra, thần sấm, do cái sức Maya: Ảo hoá của Ngài đã biểu hiện ra ở nhiều trạng thái khác nhau” (Rg. Veda III, 53, 8).
Vậy những hiện tượng biến ảo ấy ở chung quanh ta và ở tại chính bản thân ta làm cho ta không thể thấy được cái bí quyết của Tạo hoá. Chúng ta nói nhiều, chúng ta tự mãn với những vật của giác quan, chúng ta đuổi theo mãi miết những dục vọng hão huyền, bởi tất cả nhũng lẽ ấy mà chúng ta nhìn nhận cái thực tại qua một đám mây mù. Thực tại hiện ra cho chúng ta qua đám mây mù ấy nửa thực nửa hư. Làm sao ra khỏi đám mây mù Maya, đấy là giải thoát, đấy là tự do. Con đường tự do giải thoát chẳng ở đâu xa, ở tại chính nơi tinh thần ta khi chúng ta đã đánh tan được đám mây mù bao phủ. Đến bấy giờ thì Bản ngã Atman ở nhân loại cũng chính là cái Đại ngã Brahman ở Vũ trụ, vì chúng ta đã chinh phục được tuồng ảo hoá ma thuật Maya, ở chính ngày bản thân tâm lý và sinh lý của ta vậy. Cái Ngã này với cái Bản thể Vũ trụ kia vốn là Một, đồng nhất tính, chứ không phải Hai. Đến được đấy là tự do, là giải thoát, là Niết Bàn. Nhưng trước khi đến được mục đích cứu cánh ấy là khát vọng chung của nhân loại, của vạn vật, của tất cả chúng sinh trong vũ trụ, thì tất cả, và riêng con người còn phải phấn đấu với chính mình để làm chủ được trò quỉ thuật ảo hóa Maya. Thoạt sinh ra người ta đã nằm ở trong một con người sinh lý với tất cả tuồng ảo hóa của giác quan, ở trong một con người tâm lý với tất cả tuồng ảo hóa của tình tự, tư tưởng, tưởng tượng về hình
danh sắc tướng (nama rupa). Và chúng ta đã chấp vào đấy coi như là có thật.
Thoạt mới sinh ra đã khóc choé,
Trần có vui sao chẳng cười khi ?
Khi hỉ, nộ, khi ái, ố, lúc sân, si.
Chứa chi lắm một bầu nhân dục
(Nguyễn Công Trứ)
Một thần thoại Ấn Độ kể truyện rằng, một hôm người học đạo tên là Narada hỏi với Sư phụ là thần Krishna hiện lên:
— Xin Thầy chỉ giáo cho con nhận thấy Maya! Cách vài hôm sau, Thần Krishna dắt học trò Narada đi chơi vào trong một bãi sa mạc kia. Đi được một quãng xa, Thần Krishna bèn bảo học trò: “Narada con ơi, Thầy khát nước lắm, con có thể đi kiếm cho Thầy một hớp nước không?
— Con xin đi ngay, thưa Thầy, con sẽ lấy được nước đem về dâng Thầy xơi tức thì. Nói rồi Narada rảo cẳng bước đi. Cách đấy không xa có một cái làng. Narada bèn đi vào đấy để xin nước và đến gõ cửa một ngôi nhà. Ra mở cửa là một cô gái tuyệt đẹp. Nhìn thấy sắc đẹp lạ lùng ấy, Narada quên bẵng mất rằng Thầy mình đang chờ nước uống và có lẽ đang chết khát. Narada quên lú hết và bắt chuyện với mỹ nhân. Suốt buổi hôm ấy nó không nghĩ đến việc trở về. Đến hôm sau nó lại trở lại cái nhà ấy để chuyện trò với người con gái tuyệt thế giai nhân kia. Câu chuyện đưa đến ái tình. Narada hỏi xin với thân sinh ra nàng lấy nàng làm vợ. Rồi làm
lễ cưới ở tại đấy, ăn ở với nhau, rồi sinh con đẻ cái. Như thể trong khoảng mười hai năm trường, trong khi ấy thì bố vợ chết đi để lại cho vợ chồng Narada tất cả gia nghiệp, Narada sống một cuộc đời thật sung sướng, như nó đã từng mơ tưởng, vợ con đề huề, ruộng bò sung túc. Rồi bỗng xẩy ra một vụ nước lụt. Trong một đêm, nước lũ đã dâng lên phá hủy đê điều và tràn ngập cả làng mạc. Nhà cửa đổ, người và súc vật trôi theo chìm đắm, tất cả đồ đạc đều bị cuốn đi sạch. Narada phải bỏ chạy. Một tay giắt vợ, một tay giắt con, vai cõng đứa con bé. Nó cố lội qua dòng nước đang chảy xiết, hãi hùng. Đi được vài bước, nó thấy dòng nước chảy mạnh quá. Đứa con bé ở trên vai Narada nhào ngã xuống nước, chớp mắt bị cuốn đi mất tích. Narada chỉ kịp thốt lên một tiếng thất vọng. Trong khi cố với cứu đứa con ngã, thì một tay giắt con bị tuột, đứa con thứ hai cũng bị chìm lỉm mất nốt. Sau cùng đến người vợ mà nó cố giữ chặt thì cũng bị dòng nước cướp đi, và chính nó thì bị ném vật vào bờ khóc than thảm thiết. Chợt văng vẳng đàng sau tiếng nói êm đềm; “Narada con ơi, nước uống đâu? Con đi kiếm cho Thầy gáo nước uống giải khát, Thầy chờ con mãi, đã hơn nửa giờ rồi”.
— Narada kêu lên: — Một nửa giờ! Mười hai năm dằng dặc đã qua trong tâm trí của Narada, trong khi ấy biết bao nhiêu cảnh tượng biến cố đã diễn ra mà chỉ có trong nửa giờ mà thôi! Và đấy là tuồng Ảo hoá Maya vậy. Bằng cách này hay cách khác chúng ta đều chìm vào trong ấy cả”. (Vivekananda-Jñanavoga).
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
(Còn tiếp)