Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 130.

Chương 9: Sự Vận Hành Của Hệ Thống HEGEL (Trang 103 - 116)

 SỰ VẬN HÀNH

HỆ THỐNG HEGEL
 
PHẠM CÔNG THIỆN
 
(Bài giảng mở đầu trọn năm dạy về Hegel cho lớp cử nhân triết học Tây phương của Viện Đại Học Vạn Hạnh niên khóa 1969—1970.)
 
 
ĐÔI LỜI ĐẦU
1

Hegel, người mà Schopenhauer gọi là “kẻ có đầu óc của một tên chủ quán bán bia”, chết ngày 14 tháng mưòi một năm 1831; đám tang ông rất trọng thể, ông chết như ông vua và đế quốc ông càng lúc càng bành trướng mạnh. Đứng bên mộ của Hegel, viện trưởng của viện đại học lớn nhất của nước Đức, ông Marheineke, viện trưởng viện đại học Bá linh, trong bài điếu văn, đã so sánh Hegel với Jesus Christ. Thực ra nếu chúng ta ăn nằm với sự nghiệp triết lý của Hegel thì cái lời so sánh ấy không có gì quá lời và còn có vẻ khiêm tốn, chắc chúng ta hãy còn nhớ ở trang cuối cùng quyển Phaenomenologie des Geistes (trang 564) Hegel đã cố ý bày tỏ cho chúng ta thấy ông là ai. Nếu chúng ta thông minh hơn, chúng ta mới thấy rằng quyển Phaenomenologie des Geistes của Hegel thuộc về một loại máu của quyển

 
 
 
Ecce Homo của Nietzsche: hai quyển đồng nói lên con đường soán ngôi Thượng đế, một bên thì nói theo điệu vũ bão ồn ào mà vẫn giữ đưọc sự im lặng kỳ quặc nào đó, một bên thì nói theo điệu im lặng bình tĩnh mà vẫn giữ được sự ồn ào của cơn dông sắp kéo tới.

2

Trong giai đoạn sống ở Berlin, Hegel nói: một vĩ nhân đày đọa người đời phải giải thích mình” (Rosenkranz, Georg Wilhelm Friedrich Hegel's Leben, Berlin, 1844, tr. 555). Đọc Hegel và hiểu được Hegel quả thực là cực hình, Người đọc là kẻ bị đọa, bị giày vò, bị bắt buộc phải đọc đi đọc lại năm mười lần, thế mà đất đai dườngnhư vẫnthụt lùi,bàn chân củangười dọc dẫm lên đó nhưdẫm lênđá nhọn, cố tìm cho ramột chỗ bám, nhưng chỗ bám chỉ là gai, lỗ, kẽ hở, đường xẻ, vạch đứt. Vừa bước vào quyển Phaenomenologiedes Geistes, người đọc đã va đầu vào vách đá, đó là lời Tựa (Vorrede) của Hegel, khoảng 60 trang. Cái Tựa khoảng 60 trang này là phần khó hiểu nhất trong toàn thể khoảng 600 trang của quyển PhG. Ít ai đọc qua một lần cái Tựa này mà dám tự nhận là hiểu hết những gì Hegel nói trong ấy. Không phải vì triết lý Hegel khó hiểu mà chính vì ý thức của người đọc thường sợ không hiểu nổi Hegel! Chính sự sự hãi này là sự sai lầm đầu tiên. Đọc Hegel thực ra không phải đọc Hegel mà chính là tự đọc mình, mình như là “con người” tức là“thực thể ý thức” hay“thức thể” (Bewusstsein). ĐọcHegel và hiểu được Hegel là hiểu được tư thái thể hiện“cho chính ý thức” (für das Bewusstsein selbst). Những điều
 
 
 
Hegel nói là những điều “thể hiện” cho chúng ta (für uns). Những gì thể hiện “cho chúng ta” chính là “thực hiện”, nghĩa là “tự tại” (an sich), được đặt ra theo quan điểm của Tri Thức Tuyệt Đối, nghĩa là cho chúng ta, chính tại nó (für uns = an sich). Alexandre Kojève, trong Introduction à la lecture de Hegel (Gallimard, Paris, 1947, trang 577), xác định quan điểm của cái Tựa (Vorrede) và Phần Dẫn Nhập (Einleitung) của quyển PhG là “hoàn toàn được viết ra theo quan điểm của Tri Thức Tuyệt Đối”.
Muốn hiểu được cái Tựa thì phải đứng từ quan điểm ấy để cho những tư thái “thể hiện” cho mình, hay “cho chúng mình” (für uns), “cho chúng ta” (tức là Hegel và người đứng cùng bờ với Hegel). Nói khác đi, muốn hiểu cái Tựa và phần Dẫn Nhập của quyển PhG thì ta phải bị bắt buộc, “bị đày đọa” tự coi mình như là “một vĩ nhân”, một kẻ đã đạt tới Tri Thức Tuyệt Đối, ngang hàng với Hegel. Người đọc Hegel mà muốn hiểu được Hegel thì không thể nào có thái độ hạ mình, tự ty, “khiêm tốn”, nhất là khi Hegel đã đưa mình ngay vào lòng Tri Thức Tuyệt Đối (das absolute Wissen) ở nơi ngưỡng cửa: hoặc là vĩnh viễn đứng ngoài cửa hoặc là xông thẳng vào trong nhà. Đi vào nhà là đi vào nhà của thiên tài, chỉ có những thiên tài mới được nhận vào cửa. Người có trí thức lừng khừng manh mún không thể nhập Tri Thức Tuyệt Đối được. Một cách kín đáo, qua ý nghĩa tối hậu của sự nghiệp triết lý, Hegel đã tự nhận là “thiên tài độc nhất của nước Đức và của cả nhân loại”. Đứng theo quan điểm của Tri Thức Tuyệt Đối, tức là quan điểm “sở tại” (an sich) “cho chúng ta” (für uns), nghĩa là quan điểm của Hegel và người hiểu Hegel thì mình phải là “thiên ải độc nhất” thì mới hiểu “thiên tài độc nhất” được thể

 
hiện qua Hegel. Do đó, điều kiện tối thiểu cho một người muốn hiểu Hegel thì phải có đủ tự tin để tự nhận là “thiên tài có tầm mức tri thức ít nhất là ngang với tri thức của Hegel”. Còn nếu không dám tự tin như thế thì vẫn phải chịu đứng ngoài, không đi vào được bên trong ý nghĩa sở tại của triết lý Hegel. Như thế có nghĩa là không đặt đúng vào quan điểm của Hegel. Quan điểm của lời Tựa và phần Dẫn Nhập của quyển PhG là quan điểm của Tri Thức Tuyệt Đối: quyển PhG mở đầu bằng Tri Thức Tuyệt Đối và chấm dứt bằng Tri Thức Tuyệt Đối. Chương cuối cùng của quyển PhG là chương tám, nhan đề là “Das absolute Wisssen” (Tri Thức Tuyệt Đối); chương này cho chúng ta nhìn thấy rõ chân tướng của Hegel, “kẻ đã đạt tới Tri Thức Tuyệt Đối”. Hegel đã tự xây cho mình một ngai vàng tột đỉnh và ông tự ngồi oanh liệt trên đó. Lời nói tối hậu: “Tất cả đều được thành tựu” (es ist vollbracht). Hegel vừa làm Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, ngôi thứ nhất, ngôi Ihứ hai, ngôi thứ ba. Hegel xuống thế, chịu nạn trên cây thập giá, chết và thăng thiên. Nhiều lúc tôi thắc mắc tự hỏi: không biết người tín đồ Ki tô giáo có bao giờ nhận ra thâm ý của Hegel không? Chính Hegel càng “thâm độc” hơn cả Nietzsche: Hegel đã soán ngôi Thượng Đế một cách kín đáo, một cách tỉnh tảo lạnh lùng. Đoạn cuối cùng ở trang cuối cùng của quyển PhG (trang 564) chấm dứt với thâm ý khó nhận: “beide zusammen, die begriffne Geschichte, bilden die Erinnerung und die Schädelstätte des absoluten Geistes, die Wirklichkeit, Wahrheit und Gewissheit seines Thrones, ohne den er das leblose Einsame wäre ; nur — aus dem Kelche dieses Geisterreiches | schäumt ihm seine Unendlichkeit” (Cả hai hợp lại, lịch sử được hội niệm, dựng thành sự tưởng niệm và chỗ đóng đinh của thánh thể tuyệt
 
 
 
đối, sự hiện thực, chân lý và xác tín của ngôi vị thánh thể mà không có ngôi vị ấy thì thánh thể sẽ là nỗi cô đơn không có sự sống, chỉ có từ chén ngọc của vương quốc linh thần thì mới sủi bọt lên niềm vô hạn cho chính thánh thể”. Đoạn cuối này hoàn toàn tối nghĩa, nhưng có thể hiểu như vầy: ngôi vị Thượng đế đã nằm ởTri Thức Tuyệt Đối của chính Hegel. Nhưng chính sự giải thích này cũng tối nghĩa nữa, vì muốn hiểu được đoạn văn cuối cùng ở trang cuối này thì chúng ta phải hiểu trọn vẹn chương cuối cùng của quyển PhG, tức là chương VIII (das absolute Wissen). Jean Hyppolite trong luận án tiến sĩ nhan đềGenèse et Structure de la Phénoménologie de l'esprit de Hegel (Aubier, Paris, 1946, cuốn II, tr. 553) có nhận xét rằng “Không có chương nào trong quyển PhG mà khó hiểu đen tối cho bằng chương cuối cùng”, và để giải thích chương cuối này, Jean Hyppolite đã cầu cứu nơi cái Tựa (Vorrede) của quyển PhG, vì đúng như Alexandre Kojève đã trình bày, cái Tựa đã nằm trong quan điểm của chương cuối cùng (tức là Tri Thức Tuyệt Đối). Hai phần khó nhất của quyển PhG là khoảng 60 trang đầu của quyển sách (Tựa == Vorrede) và khoảng 20 trang cuối quyển sách (chương VIII = das absolute Wissen).
 
  1. Ý NGHĨA TIỀN KHỞI CỦA SỰ BẮT ĐẦU
TRÌNH BÀY SỰ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG HEGEL
  1. TÍNH CÁCH KHAI MỞ VẤN ĐỀ
Mở ra vấn đề Hegel thì phải mở như thế nào? Làm thế nào có thể đi ngay vào vấn đề Hegel mà không phải đứng

 
 
 
 
ngoài Hegel? Triết lý không phải là một loạt những ý kiến chẳng ăn chung với ngay chính vấn đề của triết lý. Làm thế nào cá có thể ở trong nước? Câu hỏi có thể ngớ ngẩn, khi mà người ta chưa thực sự biết hỏi và hỏi cùng với câu hỏi được đặt ra trong từng bước vận hành của tư tưởng chính yếu. Chính Hegel, ngay từ năm 1801, khi Hegel phải hỏi cùng câu hỏi được Fichte và Schelling đặt ra, ngay lúc ấy Hegel đã muốn làm cá bơi trong dòng nước: “Tinh thần sống động trú ngụ trong một nền triết lý, lúc muốn tự hiển bày khai mở, đòi hỏi phải được sinh ra lại nhờ một tinh thần đồng loại. Trước một thái độ có tính cách lịch sử chỉ muốn được biết về những ý kiến, bị thúc đẩy bởi tư lợi nào đó, thì nền triết lý ấy chỉ lướt qua như một hiện tượng kỳ dị và không khai mở ra bề trong của nó”. Triết lý Hegel chỉ khai mở bên trong của nó khi nào chúng ta không bận tâm đến những ý kiến, khi nào chúng ta không có một thái độ có tính cách sử học; tính cách khai mở vấn đề của chúng ta chính là để cho vấn đề tình được khai mở ngay trong bản tính của nó, tức là từ bên trong của vấn đề, đi từ bên trong của vấn đề. Triết lý Hegel có sống được hay không là tùy thuộc vào sự kiện: tinh thần của chúng ta có phải là đồng loại với tinh thần sống động trong triết lý Hegel? Triết lý Hegel là một nền triết lý khô chết, không phải vì triết lý ấy khô chết mà vì cá bị bỏ trên cạn.
 
2. VẶN HÀNH CỦA VIỆC PHỦ NHẬN TRIẾT LÝ HEGEL
  1. Phủ nhận Hegel như Kierkegaard là ngộ nhận ý nghĩa chính yếu của sự bắt đầu với Hegel. Chưa bắt đầu với Hegel

 
 
 
 
và đã phủ nhận Hegel rồi (đây là trường hợp kỳ dị của Kierkegaard và của cả Nietzsche). Thái độ đi ngược lại tư thế của Kierkegaard và Nietzsche đối với Hegel (như thái độ tích cực của Georges Bataille đối với Hegel, cf. L’expérience intérieure, NEF, 1954, trang 140) thì cũng chỉ bắt đầu với một cái đã bắt đầu rồi, nói theo Hegel, tức là “chỉ bắt đầu thôi” (nur sein Anfang ist)
 
  1. PHÂN TÍCH Ý NIỆM VỀ SỰ BẮT ĐẦU
  1. CÁI TRỤC CỦA HEGEL
Viết về Hegel không phải đưa ra một ý kiến nào đó về Hegel. Sự sai lầm của những người dạy triết là chỉ đưa ra những quan điểm, những ý kiến. Hegel nói đi nói lại nhiều lần rẳng lịch sử triết học không phảilàmột khochứanhững ý kiến triếthọc. Ngày 24 tháng10năm1820, lúcHegel đến Bá Linh, ông viết: “Còn gì vô ích cho bằng cái việc chỉ biết một loạt những ý kiến? Còn gì chán mứa cho bằng?... Mỗi một ý kiến chỉ là ý kiến của tôi thôi”. Hegel chơi chữ: “Eine Meinung ist mein”. Hegel xác định triết lý: “Triết lýkhông chứa đựng ý kiến gì cả; không có những ý kiến gọi là ý kiến triết lý”. Đưa ý kiến này đốilậpvới ýkiến kia không phải là triết lý, vì “triết lý làkhoahọc kháchquan của chân lý... mà chân lý là một”. Hegel sợ chữ nghĩa trừu tượng, liền xác định rằng câu nói chân lý là một không phải là môt tư tưởng chỉ có tính cách trừu tượng đơn giản mà lại là một cái gì cụ thể. Ý kiến thông thường của người dạy triết vẫn cho rằng Hegel là một triết gia trừu tượng; Hegel gọi ý thức ấy là thứ“ý thức chưa được huấn luyện

 
 
 
 
về triết lý”. Sứ mạng của triết lý, đối với Hegel, phải là tỏ bày cho thiên hạ biết rằng sự thực, lý niệm, không phải nằm trong những lời lẽ có tính cách tổng quát rỗng tuếch mà phải là một cái gì khái quát mà vẫn nhất thiết có tính cách đặc thù và xác định.
Viết về Hegel không thể đề cập những gì trừu tượng được; phải viết về một cái gì có tính cách xác định cụ thể. Phải tìm cho ra cái trục xoay, trung tâm điểm: đó là phạm trù Grund (có nghĩa đại loại là: căn bản, nền tảng, cơ sở, căn thể). Tất cả triết lý Hegel là nằm ngay cái trục này. Tất cả những vấn đề khác nhau đề cập trong quyển này đều được di động xoay chuyển chung quanh tiến trình khai triển của cái trục, cũng như chính Hegel vẫn chủ trương: “như vậy, triết lý là hệ thống trong tiến trình của sự khai triển”.
 
2. PHẠM TRÙ “GRUND”

Cũng trong ngày 20 tháng 10 năm 1820, Hegel có ghi lại một đoạn quan trọng: “Mệnh đề (A là A) là một nguyên lý đồng nhất... Nhưng khi tôi đi tới phạm trù Grund thì điều này đã trở thành một sự xác định hoàn toàn có tính cách cụ thể. Căn bản, những căn bản, điều chính yếu trong những sự vật cũng là điều đồng nhất với chỉnh nó và dừng lại trong chính nó; nhưng đồng thời căn bản (Grund) được định nghĩa là một cái gì đi ra ngoài chính nó để tự liên hệ với một cái gi đó mà nó làm căn bản. Vì thế Ý Niệm đơn giản chẳng những chứa đựng cái làm căn bản mà cũng chứa đựng cả cái khác của cái điều mà nó làm căn bản; nhân cũng chứa đựng cả duyên. Cái gì đó được coi như là một

 
 
 
 
căn bản khi nó được hiểu như không có cái mà nó làm căn bản thì nó không là căn bản, điều này cũng y hệt trong trường hợp nhân mà không duyên... Ý nghĩa của cụ thể chính là thế, nghĩa là chẳng những chứa đựng một sự xác định trực tiếp thôi mà cũng chứa đựng cả một cái khác nữa... “Ý nghĩa của cụ thể tính là thế, Hegellạitô đậm:“Sự thực có khuynh hướng tự phát triển. Chỉ có sựsống,cái gọi là tâm thức, mới di động và khuấy động đúng nghĩa, mới phát triển. Ý thể, cụ thể ngay tự thể và hiện trưởng, là một hệ thống sinh động, một toàn thể tính chứa đựng một nguồn tài lợi gồm đầy những chặng đường, những giai đoạn. “Triết lý phải tri nhận sự phát triển này, triết lý phải là sự suy tư bao dung, triết lý chính là sự khai triển, sự phát triển đang suy tư.
 
3. SỰ KHAI TRIỂN CỦA CÁI TRỤC

Trong đoạn văn trích ở trên của Hegel làmột giọtsương phản hiện tất cả mặt trời của tư tưởngHegel.Toànthể bài này là xoay hướng vào đoạn văn trích dẫn ở trên và ý nghĩa trọn vẹn của nó chỉ sáng rõ khi chúng ta tiến tới gần mặt trời; trong sự khai triển theo vòng trôn ốc từ giọt sương đến mặt trời rồi từ mặt trời cuộn vòng lại đến giọt sương, chúng ta sẽ di động không ngừng đến ánh sáng tột đỉnh để rồi quáng mắt trước sự bùng vỡ của bóng tối để rồi chạy trốn bóng tối đi về ánh sáng cô đọng lại trong giọt sương được nhìn thấy lại sau mấy vòng xoay theo những chiều hướng khác nhau của cái trục.
“Grund” được Hegel đề cập rõ rệt nhất trong những

 
 
 
 
năm 1812-16, những năm hình thành tác phẩm vĩ đại nhất và khó hiểu nhất của Hegel, tức là bộ Luận Lý Học(Wisenschaft der Logik). “Grund” có ý nghĩa là “căn bản”, “nền tảng” (fondement), nhưng Hegel đã xác định rằng căn bản, nền tảng không phải là cái nằm ở đằng sau, nằm ở dưới để nâng đỡ hữu thể: căn bản không phải ở đằng sau, ở dưới những vật thể và có tính cách tách biệt với những vật thể. “Grund” vừa là cái này mà cũng vừa là cái kia, vừa đồng vừa dị với sự thể, vật thể. “Grund” là căn bản trong cái khác nó mà do nó đặt ra. Không có gì ở đằng sau hiện tượng giới cả. Căn bản đưa đến sự vượt trội: vượt từ hiện tượng đến căn bản của hiện tượng, vượt từ căn bản đến hiện tượng; sự vượt đôi này được nghĩ ra trong sự nhất trí của nó nhờ ý niệm về “trung gian tính” (Henri Niel, De la Médiation dans la philosophie de Hegel, Aubier, Paris, 1945, trang 204). Từ giọt sương đến mặt trời, từ mặt trời đến giọt sương nhờ trung gian của ánh sáng. Nhưng ánh sáng phải hiểu như di động và chuyển biến. Sự phát triển của ánh sáng di động cùng với sự phát triển của bóng tối. Ánh sáng và bóng tối tùy thuộc lẫn nhau. Ánh sáng là ánh sáng chỉ nhờ bóng tối. Bóng tối là bóng tối là vì chống lại ánh sáng. Cả hai có tương quan đồng nhất với nhau, cho nên thay đổi lẫn nhau, như âm và dương, như tiêu cực và tích cực, như không và có. Tiêu cực là tích cực, tích cực là tiêu cực; bóng tối là ánh sáng và ánh sáng là bóng tối. Mỗi bên đều là y như nhau, đồng với nhau, hoàn toàn tuyệt đối tùy thuộc lẫn nhau. Sự tùy thuộc tuyệt đối nàỵ, sự tùy thuộc lẫn nhau này gọi là “Grund”. Vì tiêu cực tùy thuộc hoàn toàn vào tích cực, cho nên tích cực là “căn bản” (Grund) của tiêu cực. Cũng y như thế, tiêu cực là “căn bản” của tích cực. Mỗi bên đều đồng là căn bản, không phân
 
 
 
biệt được. Tính cách đồng nhất của hai bên là “căn bản” (Grund). (W. T. Stace, The philosophy of Hegel, Dover, N. Y. 1955. trang 189). Tiến thêm một bước nữa thì “căn bản” đồng thời là sự nhất trí của chính đồng nhất tính và dị biệt tính: “căn bản” trong ý nghĩa của sự tổng hợp của tam tính: đồng nhất tính, dị biệt tính và căn bản tính.
Trong phần nói về“thể tính” (Wesen), phần II thuộc về “Luận lý tính luận” của phần “Luận Lý Học”: “Mệnh đề về căn bản bày tỏ sự việc rằng cái điều được đặt căn bản thì quay trở về lại chính nó, tức là vị trí được hiểu như là bậc ba…”. Nhưng quan trọng nhất là ngay nơi phần “thể tính” (Wesen): “nguyên tố thứ ba mà nơi đó những sự xác định được đặt ra đều bị tẩy trừ, đó là thể tính, chính là căn bản. Nguyên lý về căn bản được phát biểu như vầy: Tất cả đều có căn bản tự túc của nó”. (theo bản dịch Pháp ngữ của Maurice de Gandillac: “Le principe du fondement s’énonce ainsi: Tout a son fondement suffisant”) (Hegel, Propédeutique philosophique, Éditions de Minuit, Paris, 1963, trang 114).
Chúng ta phải ghi nhớ sự phát biểu của mệnh đề về căn bản này: mệnh đề về căn bản cũng là mệnh đềcăn bản quyết định tất cả những mệnh đề Hegel, tức là nguyên lý căn bản qui định tất cả nguyên lý.
 
4. Ý NGHĨA SAI BIỆT CỦA MỆNH ĐỀ CĂN BẢN

Nhưng cái trục của Hegel không phải nằm nơi mệnh đề căn bản (Grundsatz). Hegel đã từng nhấn mạnh ý nghĩa

 
 
 
 
sai biệt này. Chúng ta cần phải đặc biệt để ý điểm này hơn nữa, nhất là trong phần mở đầu của bài viết về Hegel. Thực ra, từ năm 1801, ngay lời mở đầu làm tựa cho quyển Differenz des Fichte' schen und Schelling’ schen Systems der Philosophie, Hegel lưu ý độc giả: “Về những suy tưởng tổng quát mà thiên khảo luận này khởi đầu — về nhu cầu, sự tiền lập đề, những mệnh đề căn bản, vân vân, của triết lý — tất cả những thứ này đều có khuyết điểm là chỉ toàn những suy tưởng tổng quát và chúng được lưu ý bởi một sự kiện là: với những hình thức như là tiền lập, mệnh đề căn bản, vân vân, thì sự đi đến triết lý vẫn còn bị ngăn trở, che đậy...”. Ngay từ năm 1801, Hegel đã chối từ cái việc thu gọn sự thực trong một mệnh đề căn bản độc nhất, vì quan niệm độc đáo của Hegel về sự thực như là một hệ thống cũng có nghĩa rằng chủ thể hình thành không bao giờ đóng kín, đóng chặt lại. Trong lời tựa của quyển Hiện tượng luận về Tâm thể (Vorrede zur Phaenomenologie der Geistes), Hegel bày tỏ rõ ràng hơn nữa: “dass das Wissen nur als Wissenschaft oder als System wirklich ist...” (chỉ được hiểu như là khoa học hoặc như là hệ thống thì kiến thức mới hiện thực). Quan niệm của Hegel về Khoa học (hoặc Hệ thống) là khác hẳn quan niệm thông thường về Khoa học: Hegel không tin cậy vào vài ba mệnh đề căn bản: “Bất cứ mệnh đề căn bản hoặc nguyên lý của triết lý, nếu đúng, thì cũng chỉ là sai khi mà nó chỉ là một mệnh đề căn bản hoặc nguyên lý thôi” (dass ferner ein sogenannter Grundsatz oder Prinzip der Philosophie, wenn en wahr ist, schon darum auch falsch ist, insofern er nur als Grundsatz oder Prinzip ist). Vì thế, cái trục của quyển sách này không phải là ở nơi mệnh đề căn bản (Grundsatz) mà ở nơi căn bản (Grund).

 
 
 
 

5. CĂN BẢN VÀ SỰ BẮT ĐẦU

Bài này bắt đầu với sự bắt đầu được hiểu như là “căn bản”, nhưng căn bản chỉ mới là sự bắt đầu thôi. “Căn bản” (Grund) được coi như là cái trục xoay của sự vận hành, nhưng “căn bản” (Grund) không thể được hiểu như chỉ là “nguyên lý” (Prinzip) thôi; “căn bản” phải là “căn bản nền tảng” nghĩa là “căn bản và nền tảng” (der Grund und Boden).
Sự vận hành của tâm thể, tâm thể tự tri như là tâm thể, chính là khoa học. “Khoa học là hiện thực tính của tâm thể và lãnh vực mà tâm thể xây dựng cho chính nó trong chính nguyên tố của nó” (Sie ist seine Wirklichkeit und das Reich, das er sich in seinem eigenem Elemente erbaut).
Ý nghĩa của “căn bản nền tảng” (Grund und Boden) được Hegel soi sáng khi đề cập “nguyên tố của tri thức” (Element des Wissens) trong lời tựa của quyển “Hiện tượng luận về Tâm thể”: “Das reine Selbsterkennen im absoluten Anderssein, dieser Aether als solcher, ist der Grund und Boden der Wissenschaft oder das Wissen im allgemeinen. Der Anfang der Philosophie macht die Voraussetzung oder Forderung, dass das Bewusstsein sich in diesem Elemente befinde” (Sự tự tri nhận thuần túy nơi tha tính tuyệt đối, nguyên khí như thực, là căn bản và nền tảng của khoa học hoặc tri thức tổng quát. Sự bắt đầu của triết lý đặt tiền lập hoặc đòi hỏi ý thức phải lưu trú nơi trong nguyên tố này). Nhưng nguyên tố (Element) chỉ thành tựu được một cách trong suốt trong sự vận hành biến dịch chuyển thành của nó (durch die Bewegung seines Werdens).

 
 
 
 
Cá chỉ tìm được nước khi cá không còn bị mắc cạn, triết lý của Hegel chỉ tìm lại được nguyên tố bản hữu của nó (in seinem eigenem Elemente) khi sự tri nhận thuần túy nơi tha tính tuyệt đối được nhìn thấy như là “căn bản và nền tảng” (Grund und Boden) của khoa học hoặc tri thức tổng quát. Sự xoay tròn của cái trục cũng là sự vận hành chuyển dịch biến thành của nguyên tố. Thế là chúng ta đã đi vào bên trong triết lý Hegel.
 
PHẠM CÔNG THIỆN

 
 
 
 
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »