Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 2 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 130.

Chương 10: Hiện Tượng Hhọc Là Gì? (Trang 117 - 130)

ĐỌC SÁCH
 
Hiện tượng học là gì?
của Trần Thái Đỉnh. Hướng mới, 1968
(viết tắt: TTĐ).
 
TUỆ SỸ
 
 
Đây là một tác phẩm cỡ nhỏ—nội dung và hình thức — thuộc loại nhập môn, dựa trên bài tựa của Merleau-Ponty viết mở đầu cho luận án tiến sĩ của ông nhan đề Phénoménologie de la Perception (v.t. PP).
Hiện tượng họclàgì? (Qu'est-ce que la phénoménologie?):Câu hỏi này mở đầuchobài tựa của PP; chắc chắn nó đã làmbối rối không ít các nhà nghiên cứu hiện tượng luận, và chính Merleau-Ponty (MP) trong bài tựa ngắn ấy đã cho thấy sự kỳ dị của một cân hỏi. Kỳ dị như thế nào? TTĐ viết ở mặt bìa sau cuốn sách: “Năm mươi năm sau tác phẩm đầu tiên của Husserl còn đặt ra câu hỏi: Hiện tượng học là gì ? thoạt xem có vẻ kỳ lạ. Tuy vậy đối với giới tríthức Pháp, MP đã phải đặt ra câu hỏi, và phải giải đáp. Bởivì,tuy ai nấy đều nói, đều nghe,đềuviết

 
 
 
 
về Hiện tượng học, nhưng mấy ai nắm vững được cái căn bản của Hiện tượng học?”. Giải thích như vậy đã có thể làm nhẹ sức nặng của câu hỏi. Tuy nhiên, với câu hỏi: Hiện tượng học là gì? thoạt xem, không có gì lạ hết, như bất cứ một câu hỏi nào được nêu lên trước cái mà người ta muốn biết. Nhưng càng đi sâu vào HTH, đi sâu vào ngay cả bản văn ngắn của PP, người ta mới thấy đây là một câu hỏi kỳ lạ. Bởi vì nó là một câu hỏi tính luận (question ontologique); chỉ có thể trả lời thích ứng bằng phương pháp HTH như Heidegger đã làm trongSein und Zeit. Ở đây, theo MP, đối với HTH, “mọi vấn đề đều quy vào việc xác định (địnhnghĩa) những yếu tính.” Nguyên văn: ettous les problèmes,selon elle, reviennent à définir des essences (bảndịch tiếng Anhcủa Colin Smith: and according to it, all problems amount to findingdefinitions of essences). Tham vọng củaHTH, vớicâu nói này, chính là cố gắng tìm cách trả lời đích đáng chocâu hỏitính luận. Trở lại câu hỏi; Hiện tượng học là gì? Đó là sựkỳ dị của một câu hỏi  : câu hỏi vềcâu hỏi. Người ta phảigiải quyết nó như thế nào? Đoạn sau MP viết: “một triết thuyết không tự định nghĩa được như thế có đáng cho người ta bàn luận sôi nổi như vậy về nó hay không?...” (TTĐ. dịch, tr. 26) Và kế đó, “Chính nơi chúng ta, chúng ta mới tìm thấy sự nhất thể của khoa Hiện tượng học và ý nghĩa đích thực của nó”. (TTĐ. tr. 27) Tiếp theo nữa: “Phải nhờ phương pháp Hiện tượng học, chúng ta mới đi tới Hiện tượng học.” (dịch của TTĐ. tr. 27) Với những lời này, MP muốn nói gì? Trong phần giải thích của TTĐ về đoạn này, người ta đọc thấy những câu: “Ai chả có kinh nghiệm sống, vì thế mà nhiều người đã tướng minh chảcần học với Husserl mà cũng có thể có cáinhìn trung thực về kinhnghiệm sống đó.Cũng nhưở Saigon, những năm gần đây đã có người tưởng rằng hễ có căn bản
 
 
 
ngoạingữ, đọc làutiếng Pháphoặchiểu được tiếng Đức làlà cóthể viết sách triết... “Với mộtgiải thích đặc trưng khoabảng như vậy, có lẽngười ta khỏiphảiđể ýđếnnhữnghàmngụ trongchính bàitựa của PP. Hàmngụgì?Chắc chắn,người ta thấy tràn lan trong tác phẩm dang dở của MP, Le Visible et l’Invisible (v.t. VI), nhất là ở phần “l’ Interrogation et l’ Intuition”, những tấn công kịch liệt các chủ điểm của HTH Husserl, từ khước hẳn phương pháp giảm trừ yếu tính (réduction eidétique) của Husserl. Như vậy, có mâu thuẫn nào trong chính các tác phẩm của MP không? Hay nói như chính lời của MP:“Như vậy, mâuthuẫn lạihiệnngaytrongchínhtriếtcủa Husserl?” (dịchcủaTTĐ. tr.23).CâunàyđượcTTĐgiải thích: “...có mâu thuẫn ngay trong học thuyết của Husserl ? Ông nêu lên vấn nạn này vì có học giả dám quả quyết rằng Husserl duy tâm, hoặc Husserl duy nhiên.” (tr. 25) Husserl duy gì? Đó cũng có thể là điều đáng bận tâm. Nhưng với MP ở đây, ngay trong bài tựa này, đó không phải là những mâu thuẫn đáng được đặt thành vấn đề. Vậy mâu thuẫn chính là gì? Điều gì che lấp không cho ta thấy ngay trong trang (i) của bài tựa của PP những mâu thuẫn mà ta có thể rút gọn: đó là mâu thuẫn giữa tham vọng về“triết học như một khoa học chính xác” và sự “mô tả trực tiếp kinh nghiệm sống thực.” Thêm nữa, HTH là một triết học đặt lại yếu tính nơi hiện hữu. Đó cùng là một mâu thuẫn nan giải. Không ai quên rằng Heidegger, trong Lettre sur l’ Humanisme, đã từ chối trách nhiệm của mình về một châm ngôn hiện sinh của Sartre: Hiện hữu có trước yếu tính.Những nangiảinơi chính Husserl chưađượcgiải quyết gì hết. Không thể nói như TTĐ: “theo MPthì những ngộ nhận này cũng như nhiều ngộ nhận khác đều do người ta đọc vội vàng, hoặc chỉ đọc theo thiên kiến”. Ở

 
 
 
 
đây, quả thực, không những TTĐ chỉ đọc vội vàng mà lại còn dịch vội vàng nữa.
Trở lại vấn đề, MP đã bênh vực cho mâu thuẫn của Husserl như thế nào trong le Philosophe et son Ombre? Tại sao, trong VI, MP từ khước hẳn phương pháp căn bản của giảm trừ yếu tính là phương pháp biến thiên hiện tượng luận (méthode đe variation), và ông gọi những yếu tính đạt được đo phương pháp này là những huyền thoại (mythe) — huyền thoại chứ không phải huyền nhiệm. Và tại sao tiếp theo đó, MP lại phải nói ngay: để thiết lập và công bố một cái gì đó, ta cần đến những yếu tính; sự cần thiết của kết luận này cũng là một tất yếu của yếu tính. ( VI. tr. 148) Chúng ta có thể tìm thấy những ý tưởng tương tợ như thế trong chính bài tựa, đoạn viết về các yếu tính của HTH. MP không ngần ngại cho ta thấy rõ, trong VI, những yếu tính mà HTH muốn đạt đến chưa thay đổi được thứ yếu tính ở nơi Platon. Quả thực, người ta không thể thanhtoán thếgiới linh tượng (chữ của TTĐ)của Platon bằng lối giải thích theo tiếnhoáluận. Những bảnchất ngàn đời — chữ của TTĐ chỉ cho quan niệm về yếu tính của Hy Lạp xưa — phải được hiểu đúng mức theo kiểu nói của Heidegger, là hiện thể trong toàn thể của nóhayhiệnthể như là toàn thể.Thí dụ: nhà 2 mái hay 1 mái;4 cột hay 1 cột; người tiềnsử bòlết hayngười bây giờ đi hai chân, trong dòngtiếnhoá ấy, CÁI GÌ cho phép ta gọi tất cả đều là nhà, tất cả đều là người? Có thể dựa theo tiến hoá luận một cách ngây ngô để lêngiọng chếdiễu như TTĐ không?“Đó, bạn duy tâm — dẫnđầu là Platon — ngủ đứng rồi đó!” Chỉ cần đọc phần mở đầu trongLogique formelle et Logique transcendantale của Husserl người ta cũng đủ thấy vị trí của triết gia ngủ đứng Platon như thế nào trong tư tưởng của Husserl.

 
 
 
 
Quan niệm hiểu theo kiểu di truyền lại được TTĐ đẩy đi quá xa: “Chẳng những hết đời ta, mà hết cả trăm đời con cháu chúng ta cũng chưa tát cạn được ý nghĩa của thế giới.” (tr. 113) Người học triết lý, nhất là HTH, có được phép có một lối giải thích như vậy không? Nếu hiểu thế, làm thế nào hiểu được sử tính? Và rồi, trước khẳng định ấy của TTĐ, ta phải hiểu thế nào về câu nói bất hủ của MP về HTH: “Chính nơi chúng ta, chúng ta mới tìm thấy nhất thể của Hiện tượng học và ý nghĩa đích thực của nó”?
Dù MP thực sự bác khước hầu hết các phương pháp được ứng dụng ở HTH của Husserl, nhưng với câu nói này, ông đã nêu lên tầm quan trọng của nó. Với tầm quan trọng này, tất nhiên chúng ta không thể đòihỏi TTĐ mộtquảng diễn tườngtận, vì đây chỉ là một quyểnsáchnhỏnhập môn. Nhưng đángtiếc là lối diễndịch của nó lại được diễn ra trong mộtchiềuhướng vô cùnglệch lạc.Nếu càng nới rộng có lẽ lạicànglệch lạc.
Thế nào là lệch lạc? Phải chăng đã không nắm vững cái căn bản của một khái niệm mẫu mực nào đó? Chúng ta cóthể nhắc lời của MP: “Bâygiờtriếtgiaphải ý thức rằng mình không còn có thể tự phụ vào một tư tưởng hoàn toàn triệt để, không bám chặt vào sở đắc của sự hiểu biết về thế giới và nghiêm xác của khái niệm.”
Một câu hỏi quan trọng nhất mà những người đọc qua bài tựa của MP đều không thể không nêu lên: tại sao MPkhông đảđộng gì đến giảm trừ siêunghiệm, mà chỉ đặt nặng tầmquantrọng vào giảm trừ yếu tính như một tất yếu của mọi diễn đạt

 
 
 
 
ngôn ngữ? Chính câu hỏi này mới cho ta thấy hướng đi của PP và vị trí bài tựa của nó. Dĩ nhiên, chúng ta không có quyền đòi hỏi TTĐ phải đặt ra câu hỏi kiểu ấy. Nhưng chắc chắn TTĐ đã bỏ quên một điều, mà chúng ta nói theo một kiểu cách như sau: với bài.tựa của PP, mục tiêu của HTH là xác định hay định nghĩa những yếu tính. Từ đó, người ta có quyền đặt câu hỏi với chính MP: có thực đó là mục tiêu tối hậu của Husserl hay không, hay nỗ lực cho thế giới siêu nghiệm mới là mục tiêu cứu cánh của Husserl? hay duy chỉ có PP của MP mới có thể nỗ lực cho một cứu cánh như vậy?

 
TUỆ SỸ
 
CÁO LỖI
Vì lý do kỹ thuật, giờ chót chúng tôi bắt buộc phải dời bài TIỀM NĂNG của Ý THỨC THẦN THOẠI của Lê Tôn Nghiêm vào số 3.
Xin cáo lỗi cùng Tác giả và độc giả.
TƯ TUỞNG.
 
 
 
PHẠM CÔNG THIỆN TRẢ LỜI LOẠT BÀI CỦA ÔNG LÊ HẢI VÂN VỀ TRƯỜNG HỢP PHẠM CÔNG THIỆN đăng liên tục vô tận trong nhật báo Độc Lập từ hạ tuần tháng 5 năm 1970.

(Xin lỗi độc giả Tư Tưởng về bức thư nay và xin hãy xem bức thư này như là một việc đáng lẽ không nên làm ở đây.)

P.C.T
 
 
Kính gởi thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan (tức Lê Hải Vân).
Phải chăng thi nhân không còn nói với nhau bằng tiếng nói của thi sĩ trong cơn lửa dậy? Tiếng chim đã bị những khẩu hiệu bóp nghẹn rồi sao và chỉ còn lại một thứ ngôn ngữ tối đen đọa đày trong sự rạn vỡ càng lúc càng rạn vỡ ở đất nước này? Tôi mong Ông có can đảm nhận thật tên của mình và nếu bút hiệu Lê Hải Vân bị Ông chối bỏ thì tôi xin chịu lỗi và coi bức thư này gửi riêng cho Lê Hải Vân để cho hình ảnh thi sĩ Nguyên Sa hãy còn là thi sĩ.
Bài Ông xuất phát từ sự xếp đặt lâu dài mang đầy “ẩn ý chính trị pha màu mật vụ” quá sôi nổi và cần phải được nghe lại cho đúng tiết nhịp của thời gian vượt ra ngoài mọi tư thế chính trị, bè nhóm, tập đoàn mà tôi thừa hiểu Ông chỉ là kẻ thi hành hãnh tiến:
1) Tôi đã có bằng cấp tốt nghiệp trường đại học Yale& Hoa kỳ, chứ không phải học hành “ngu dốt” và “bị thi rớt”ở

 
 
 
 
Hoa kỳ như Ông đã công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể chịu khó tọc mạch đến tìm thăm tôi để nhìn bằng cấp ấy hay là Ông gửi thư hỏi thẳng Y.F.S.I & đại học đường Yale tại New Haven (U.S.A) (nhưng tôi khó chịu:một người mang tâm hồn như tôi mà lại có bằng cấp thì đó quả là sự sỉ nhục quá lớn đối với tôi; chỉ có những kẻ không tự tin mới cần bằng cấp để chứng minh và “làm ăn”!)
2) Con người “nghệ sĩ điên gàn” trong tôi đã nổi loạn và khiến tôi tự ý bỏ học bổng ở tại Mỹ chứ không bị ai “cúp” học bổng vì “học dốt” như ông đã công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể viết thư hỏi thẳng người trong cuộc, cô Cynthia Fish, địa chỉ: I.I.E. (Institute of International Education) ở United Nations Piazza tại New York City: chính cô Cynthia Fish là nhân viên phụ trách cấp học bổng cho tôi trong thời gian du học ở Hoa kỳ và cô Cynthia Fish đã ân cần mời tôi ăn cơm riêng với cô tại Broadway để tha thiết van xin năn nỉ tôi đừng bỏ học bổng, nhưng tôi trả lời: “Tôi không sống nổi ở nước Mỹ, vì nước Mỹ chỉ toàn là CocaCola” và cô dịu dàng chăm sóc khuyên nhủ tôi nên nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ở một y viện phân tâm học tại New York, nhưng tôi từ chối và nhất quyết bỏ học bổng.
3). Lúc tôi học ở trường Đại học Columbia thì những bài vở của tôi thường vẫn được điểm A (tức là điểm cao nhất theo lối Mỹ), chứ không phải “học dốt”, “học không nổi” như Ông công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể biên thư hỏi lại giáo sư Faust tại trường đại học Columbia ở New York. Sở dĩ tôi bỏ học Columbialà vì tôi chịu không nổi cái thành phố New York và quá nhớ Paris và thích  “làm thằng Clochard ở Paris hơn là triệu phú ở New York” (Tại sao lại phải cần
 
 
 
nêu ra cái chuyện “học giỏi” của mình, khi tôi khinh bỉ hết tất cả học đường!)
4) Khi tôi nhất quyết bỏ Columbia và bỏ học bổng để đi qua Paris thì chính ông Donald Taylor, nhân viên cao cấp của đại học đường Columbia, đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp điện thoại đến Washington để can thiệp cho tôi qua Paris; trường Columbia thì bênh vực tôi (mà đại diện trường là ông Donald Taylor), còn Washington thì phản đối và cho rằng tôi “lợi dụng học bổng ở Mỹ” để đi Paris vì “những ẩn sự chính trị” (nguyên văn: Political implications) mà tôi thì có bao giờ thèm để ý đếnchuyện chính trị. Chính ôngDonald Taylorđã buồn rầuhỏitôi:“Tại sao biết bao nhiêu sinh viên Mỹmuốn cóđược học bổng như anh mà còn anh thì lại bỏ học bổng? “Rồi ông hỏi tiếp: “Anh sẽ làm gì cho đời anh trong tương lai?” Tôi trả lời: “Thành Phật!” Câu chuyện xẩy ra một ngày trước lễ Thanksgiving tháng II năm 1965. Ông có thể viết thư hỏi thẳng ông Donald Taylor, assistant director F.S.C., Columbia University, New York City. Tôi muốn ông hỏi thẳng một nhân viên caocấpcủa Columbia để Ông đừngquá tin cậy quatintức theo lối “mật vụ” vu vơ.
5) Về câu “Tôi khinh bỉ tất cả các Thiền sư” chỉ là cáchnói theo điệu Thiên sư “Phùng Phật sát Phật” (Gặp Phật thì giết Phật), chắc ông không hề biết rằng mấy Thiền sư gọi tổ sư Bồ Đề Đạt Ma là “tên rợ mắt xanh” (bích nhãn hồ), cái lối nói “ngạo mạn”, và “du côn” ấy nằm trong truyền thống ngôn ngữ Thiền tông, giống như cách nói “vô lễ” khác mà mấy Thiền sư nói với đứcPhật; tôi không phải làmột thiền sư,chonêntôi không dám bắt chước Thiền sư Vân Môn gọi Phật là “đồ chùi cứt khô” (càn thì khuyết). Muốn hiểu được nghĩa sâu
 
 
 
thẳm của những lời nói thô tục trên thì phải có tâm hồn bốc cháy với Lửa Tam Muội và mới đi vào đượctinh thần “ThậpBát Không” của Bát Nhã (ô hay, ông TrầnBíchLan vốnlàcựusinh viên Phật học của Đại học VạnHạnh, khônglẽ nàoônghiểu đạo Phật hơn tôi, giáo sư dạy về Phậtgiáo ở Viện Đại học Vạn Hạnh!)
6) Bây giờ tôi muốn đặt lên vài nhận xét về Ông:
a) Khi phê bình tôi, Ông nên có tháiđộ liêm sỉ tối thiểu:đừng xén từng câu riêng lẻ và bỏ mấtý nghĩatoàn thể,không có gì khôi hài cho bằng rút tỉa một vàicâulạc lõng rồi tha hồ giải thích theo cái nhìn ngu xuẩn của mình;
b) Giá trị của tác phẩm tôi và của đời tôi có đứng vững hay không là do sức mạnh nội tại của chính tâm hồn tôi và do ngọn lửa trong tinh thần tôi điều động, chứ không phải chịu lệ thuộc vào những ý kiến của bất cứ ai;
c) Ông viết về tôi theo giọng điệu “trịch thượng” khôihài và vô lễ một cách lố bịch, tất nhiên người nào có đọc sách Ông và đọc sách tôi đều thấy rằng Ông chưa đủ sức để nói chuyện đàng hoàng với tôi: sự trả thù của kẻ yếu tất nhiên là phải giống đàn bà (“xoi mói”, “tọc mạch”, “ba hoa nhảm nhí”, “ngồi lê đôi mách”), xin Ông hãy là kẻ trượng  phu!
d) Tất nhiên hạng người tinh tế đều thấy rằng Ôngganhtài đố kỵ tôi đủ cách vì thua sút tôi ở quá nhiều lãnh vực (học thức, văn nghệ, tư tưởng, sáng tác) mai này thanh niên Việt Nam sẽ nhớ đến tên Phạm Công Thiện, chứ
 
 
 
khó có người còn nhớ đến tên Ông! Tôi mong Ông sống dai để nhìn thấy sự việc. (Tôi có “kiêu ngạo”lắm không? Thực ra, hãy còn rất khiêm tốn!)
7) Sau cùng tôi xin kêu gọi một chút “thơ mộng” trong tận đáy hồn ông: xin ông đừng đem chuyện riêng tư của đời một người cô độc để làm trò hề đám đông rẻ tiền, nếu ông đủ tư cách và đủ tâm hồn nhạy cảm thì chúng ta hãy nói chuyện nhau trong thế giới phiêu lãng của Tư tưởng. Chỉ khi nào chúng ta chịu đối mặt nhau trong nỗi cô độc của tư tưởng thì tiếng nói của thi nhân mới sống dậy được, chứ không còn những lời ba hoa “đôi co” nhảm nhí nhỏ mọn, hãy để yên cho mây trời muôn thuở vẫn còn lại tiếng vọng của thi nhân.
Đâylà lời trả lờiđầu tiên, duy nhất, cuối cùng. Cònlại chỉ là im lặng, im lặng, im lặng.
Phải chăng thi ca đã chết? Không còn gì thơ mộng nữa sao?
Kính chào,
Phạm Công Thiện.
T.B. Xin Ông đừng nhắc đến tên Thích Nguyên Tánh, Ông hãy để cho tên ấy sống với khoảng trống câm lặng nào đó của đời hắn. Mong chờ sự lễ độ tối thiểu của Ông đối với thế giới riêng tư của người khác, nhất là của một kẻ chưa từng bao giờ chạm đến đời sống riêng tư của Ông. Và câu hỏi cuối cùng tôi muốn hỏi Ông: Tại sao Ông thù hằn tôi đến độ quá mức tưởng tượng như thế, đang khi đó tôi chưa từng bao giờ có ác cảm với Ông? Ông đang thực hiện một kế hoạch cho một thế lực chính trị nào đây? Người tinh ý sẽ hiểu ngay Ông thuộc khối nào, phái nào, nhóm nào, tập đoàn nào!

 
 
 
 
MỤC - LỤC
 
 
trang
  1. ĐÔNG PHƯƠNG ĐỐI MẶT
VỚI TÂY PHƯƠNG.
Tư Tưởng
3
  1. BẤT BẠO ĐỘNG
của ĐÔNG PHƯƠNG...
Thích Minh Châu
23
  1. TIẾNG NÓI CỦA CON
NGƯỜI TRÊN MẶT ĐẤT
(Ba nhà thơ Tây ban Nha)
Phạm Công Thiện (dịch).
27
  1. TINH THẦN
ĐẠO HỌC ẤN ĐỘ
Nguyễn Đăng Thục
35
  1. TRIẾT HỌC VỚI QUỐC HỌC
Kim Định.
49
  1. CHÌA KHÓA ĐẠO ĐỨC KINH
Thạch Trung Giả
61
  1. CHỈ VÌ MỘT CHỮ “LÝ”
Tôn Thất Thiện
71
  1. DÒNG SÔNG
CỦA CÂU CHUYỆN
Ngô Trọng Anh
83
  1. SỰ VẬN HÀNH
HỆ THỐNG HECEL
Phạm Công Thiện
103
  1. HIỆN TƯỢNC HỌC LÀ GÌ ?
(Đọc sách)
Tuệ Sỹ
117
  1. TRẢ LỜI ÔNG LÊ HẢI VÂN
Phạm Công Thiện
123
 
 
 
 
bản đặc biệt
 
Giấy phép số : 521/BTT/NBC/HCBC cấp ngày 20-4-1970
In tại nhà in THĂNG-LONG 20 chợ Trương Minh Giảng—Saigon.

 
 
 
 

 
 
TƯ TƯỞNG
Số 3
ngày 1 - 7 - 1970
 
 
Chủ đề thảo luận:
 
PHẬT GIÁO
ĐỐI MẶT VỚI
THẾ GIỚI
HIỆN ĐẠI
 
 
 
 
 
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »