TƯ TƯỞNG
CƠ QUAN LUẬN THUYẾT CỦA ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
CHỦ NHIỆM
T.T THÍCH MINH CHÂU
Tổng Thư Ký Tòa Soạn
Đ.Đ TUỆ SỸ
TRUNG TÂM PHIÊN DỊCH HÁN NÔM
SỐ 4, Năm thứ V Tháng 6 năm 1972
Ngân phiếu, thư bảo đảm xin gởi
Cô HỒ THỊ MINH TƯƠNG
VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
222, Trương Minh Giảng – Saigon 3, đ.t. 25.946
THIỀN HỌC
TỔ TRÚC LÂM AN TỬ
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
Văn tức là Người ở Trúc Lâm Tam Tổ. Tinh thần Thiền đặc biệt của dòng Trúc Lâm Tam Tổ là hợp nhất trên thực nghiệm tâm linh con người hành động phụng sự dân tộc với con người nghệ sĩ lấy tâm Thiền làm nguồn cảm hứng sáng tạo.
Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) một tay cứu quốc đại anh hùng, đã cùng tướng sĩ nhà Trần, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão v.v… hai phen chiến thắng với quân Mông Cổ bấy giờ hung mãnh nhất thế giới. Ngài vừa là một tâm hồn chiến sĩ, vừa là một nhà tín ngưỡng tâm linh Phật giáo, vừa là một thi sĩ có một hồn thơ đạo học thâm thúy nhẽ nhàng giọng Thiền sau khi giặc đã dẹp yên, sơn hà xã tắc đã kê lại vững vàng.
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ diễn kim âu.
(Đất nước hai phen mòn ngựa đá
Non sông muôn thủa vững âu vàng).
Một ngày kia, gặp tiết xuân sang, Nhân Tông cùng các bô lão trong triều đi yết Chiêu lăng là lăng vua khai sáng nhà Trần tức Trần Thái Tông (1225-1258) để tỏ lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn, làm người phải nghĩ đến tổ” :
Non kia ai đắp mà cao
Sông kia ai bới ai đào mà sâu ?
Trên đường đi, Nhân Tông có khởi hứng mà đọc một bài “Ngũ ngôn tuyệt cú” :
Xuân nhật yết Chiêu lăng
Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên phong
(Trần Nhân Tông)
DỊCH :
Ngày xuân viếng Chiêu lăng
Nghi vệ đàn bầy đủ
Quần thần mũ áo đông
Bạc đầu lão sĩ nọ
Ôn lại chuyện Nguyên phong.
Chuyện Nguyên Phong mà các chiến sĩ tuổi già đầu bạc hay nhắc nhở đến, áy là cả một giai đoạn đầu tiên oanh liệt về chiến công của vua Trần Thái Tông vào khoảng những năm 1251-1258 vậy. Vua Trần Nhân Tông, ngày xuân nhớ đến viếng lăng ông nội đã khai sơn phá thạch ra nhà Trần không thể không nghĩ đến những chiến sĩ vô danh đã hy sinh cho tổ quốc. Cho nên ý nghĩ của vua rất tự nhiên mà gợi lên hai chữ Nguyên phong khi nhìn thấy trong đám đông nghi vệ ấy người lính đầu bạc cười nói chuyện trò vui vẻ thân mật.
Sự nghiệp vĩ đại của vua Trần Thái Tông có lẽ dồn cả vào những năm Nguyên phong, cho nên nó đã biểu hiện vẻ vang cho một triều đại. Theo chính sử :
1252 – Nước Chiêm Thành đi thuyền đến đánh cướp biên giới phương Nam, đòi lại những đất đã mất vào đời nhà Lý. Vua Trần Thái Tông giận lắm, bỏ cả vui xuân để thân đốc quân đi đánh, bắt được Vương phi Chiêm Thành là Bồ-gia-la rồi mới trở về. 1253 – Vua lập ra viện Quốc học lần đầu tiên để đào tạo nhân tài cho công cuộc xây dựng quốc gia. Ngoài cho tô tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử để thờ phụng và xuống chiếu cho nhân sĩ trong nước đến viện để học tập giảng sách Ngũ kinh, Tứ thư của nhà Nho.
Vua dựng ra nhà học chuộng nghề văn đồng thời lại cho xây nhà giảng võ. Như thế là cả văn lẫn võ đã được ngài khuyến khích cho nên rất phát triển, có các công như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão nối nhau xuất hiện cùng với danh tướng như Hưng Đạo vương và văn thần như Chu Văn An.
1257 – Quân Mông Cổ lần đầu đến xâm lấn nước ta. Vua tự làm tướng ra chống giữ tại biên giới, đóng quân ở sông Lô, tướng Mông cổ là Ngộ-lương-hợp-Thai sai người đến dụ Vua đầu hàng. Ba lần đến Vua đều bắt giam cả và ra lệnh cho các tướng đưa ra nhiều quân ra chờ lệnh. Quân giặc đến sông Thao. Vua tự đốc chiến quan quân thấy quân địch đang còn mạnh nên phải rút lui. Lúc ấy có người khuyên Vua đóng quân ở lại để cự chiến. Lê Phụ Trân một tướng anh dũng nói với Vua “Bệ hạ hãy tạm làm như đánh bạc cuối cùng, hãy tạm lánh đi tôi xin chận hậu” Quân giặc bấn loạn, Phụ Trân lấy ván thuyền che cho Vua, được thoát nạn, lui về giữ sông Thiện mạc. Vua ngự ở chiếc thuyền nhỏ đến hỏi Nhật Hiệu vấn kế. Nhật Hiệu lấy mái chèo viết xuống nước sông hai chữ “Nhập Tống”. Vua đến hỏi Thủ
Độ, Thủ Độ nói : “Đầu tôi chưa rơi xuống đất Bệ hạ không phiền phải nghĩ ngợi”. Vua Thái Tông cùng Thái tử Thánh Tông, hai cha con ngồi lên thuyền, tiến lên Đông bộ đầu, đánh nhau với quân Mông cổ được lớn, giặc phải bỏ chạy về, qua Quy hóa lại bị chủ trại ở đấy là Hà Bổng tập kích phá tan.
Đấy là những ý niệm về thời Nguyên phong đã hiện lên trong tâm hồn Trần Nhân Tông qua bài thơ “Ngày xuân yết Chiêu lăng”, đủ tỏ bấy giờ hai chữ Nguyên phong đã nhắc lại cả một thời oanh liệt với hình ảnh Vua Trần Thái Tông. Sau này Vua Trần Anh Tông là chắt nội, con Trần Nhân Tông cũng lại dùng hai chữ Nguyên phong để đề cao tinh thần đặc biệt của vua Trần Thái Tông :
“Đường Việt khai cơ lưỡng Thái tông
“Đường xưng Trinh quán, ngã nguyên phong !
“Kiến Thành tru tử, An Sinh tại
“Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
DỊCH NGHĨA
“Nhà Đường bên Tầu với Việt Nam đều có hai Vua
“Thái Tông.
Nhà Đường hiệu là Trính quán, Việt nam hiệu là
“Nguyên phong.
“Đường Thái Tông giết anh là Kiến Thành vì làm phản,
“Việt nam với Trần Thái Tông cũng có anh là An
“Sinh làm phản mà không bị giết,
“Đủ tỏ tên hiệu giống nhau, mà đức độ khác nhau vậy.”
Đây là những kỷ niệm về hai chữ Nguyên phong hiển hách mà vua Trần Nhân Tông khi đến yết Chiêu lăng đã khởi hứng nên câu :
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên phong.
Và nhờ noi gương Nguyên phong ấy mà Trần Nhân Tông với Trần Thánh Tông, cũng hai cha con đã cương quyết đánh đuổi được giặc Mông cổ hai năm sau lại kéo đến trả thù cái nhục bị Trần Thái Tông đánh bại ở Đông bộ đầu. Muốn có một ý niệm đại khái về không khí tinh thần Thiền học đã tạo nên cái sức quật cường của dân tộc được những người lãnh đạo có tinh thần Nhân, Trí, Dũng, chúng ta chỉ cần thẩm định những lời văn thơ đạo học của Thánh Tông cũng như Nhân Tông, lời lời tâm huyết, hàng hàng mông lung.
Sử chép: “Đương lúc bấy giờ người Nguyên hùng cường gian ác, chăm chú muốn nuốt đất Nam, cho nên tìm hết cách sang trách ta, gây nên mổi dụng binh, vua ta cũng tự giữ nghiêm trọng, không chịu khuất chút nào, có thể nói là bậc hùng”.
(Việt sử tiêu án)
Sau khi cha con vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông dẹp xong giặc Mông cổ dầy xéo đất nước , sông máu, núi xương, thật như lời sử gia An Tây đã viết về quân ấy “đi đến đâu cò không còn mọc lên được”. Thánh Tông về thăm quê hương nơi chôn nhau cắt rún, Ngài có cảm hứng lên bài “Hạnh Thiên trường hành cung” :
Cảnh thanh u, vật diệc thanh u
Thập nhị tiên chu, thử nhất chu
Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt
Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu
Nguyệt vô sự, chiếu nhân vô sự
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu
Từ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh
Kim niên du thắng tích lai niên du.
BÌNH GIẢI RẰNG :
Tác giả cảm hứng về hai phen chống đánh quân Mông Cổ
Dầy xéo đất nước, xã tắc đòi phen nghiêng ngả mà rồi lại thấy được quê hương đất tổ bình yên vô sự nên thốt ra lời thơ hàm xúc; nào phủ Thiên trường Túc mặc quê hương phát tích nhà Trần bấy giờ cảnh vật thanh u phong phong phú, trong 12 châu tiên thì đây là một châu. Bước bước đều vang lừng tiếng chim ca hót, cây quất hàng hàng nặng chĩu những trái rủ xuống như bầy nô bộc cúi đầu chào đón nhà vua. Cảnh hết loạn ly, lòng người cũng hết rối loạn, khác gì vầng trăng trên trời quang mây tĩnh soi chiếu vào lòng người yên tĩnh. Mặt nước trong suốt phản chiếu cả một bầu trời trong suốt. Bốn bể đã yên sóng gió, bụi trần đã lắng xuống cả rồi. Năm nay đi chơi xuân hơn cả mọi năm đi chơi về trước.
Thực là một bài thơ tuyệt tác của một bậc đạo sĩ sau khi đã làm tròn nhiệm vụ chiến sĩ quốc gia, lòng thảnh thơi mãn nguyện với việc đời sẵn sang thoát sang cõi đạo. Đạo ẩn bên trong Đời, Đời mật thiết với Đạo. Thật là “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Tình đây là tình cao thượng tức là tâm đạo, cảnh đây là cả một quốc gia dân tộc vật lộn dũng mãnh với chính nghĩa sinh tồn. Ngoại cảnh thế nào, nội tình cũng thế, nội ngoại tươn g xứng phù hợp như Thể với Dụng, hai bộ mặt của cái tâm Bát nhã.
Về bài thơ này, Ngô Thời Sĩ trong “Việt sử tiêu án” đã thẩm mỹ như sau:
“Từ năm Thiệu Bảo (1279-1284) nổi cuộc binh đao, hai “lần đánh quân Nguyên, may mà xã tắc lại yên, may mà “giang sơn như cũ, tuy rằng lòng trời giúp cho, nhưng nhân “sự cũng rất gian nan. Họp vương hầu ở Bình than, đãi phụ “lão ở Diên hồng, không hạng nào là không hỏi đến ; khi vào “Thanh hóa, khi ra Hải đông, lúc đi Đại bàng, lúc về Thiên “trường, không đâu không bước chân tới. Nhất đán rửa sạch “bụi Hồ, lại yên thế nước, trở về thăm cố hương, mắt trông
“cảnh đẹp, tai nghe chim ca, chén rượu dưới trăng, tiếng đàn “bờ suối, nghĩ lại khi đi Chí linh, Vạn kiếp, giao chiến Đại “than, Bạch đằng ; những lúc con thuyền lênh đênh, dùng bát “cơm hẩm vua tôi, cha con vẫn một lòng lo sao qua cơn sóng “gió. Sở dĩ vì có hoài cảm ấy mà làm bài thơ trên vậy”.
(Ngô Thời Sĩ trong “Việt sử tiêu án”)
Đây là tinh thần Thiền Việt nam : Chiến sĩ, Nghệ sĩ, Đạo sĩ ba con người làm một đã kết tinh một cách hiển nhiên rõ rệt, vào ba đời vua nhà Trần một cách miên tục nhất quán, đời ông, đời cha, đời con : Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông. Đến Trần Nhân Tông thì nghiễm nhiên bó đuốc Thiền tông Việt nam đã được quốc dân suy tôn : “Tam tổ thánh hiền” mà Trần Nhân Tông là đệ nhất Tổ Điều ngự Giác hoàng vậy.
Qua văn thơ, Trần Nhân Tông càng tỏ rõ thật xứng danh một vị Tổ Thiền tông với tâm hồn “đạo sĩ nghệ sĩ” uyên thâm linh hoạt. Hồn đạo sĩ với hồn thi sĩ hợp thành nhất phiến bất phân, như bài “thiên trường vãn vọng”.
Thông hậu, thôn tiền đạm tự yên
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
Mục đồng định lý ngưu qui tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
DỊCH :
Thôn trước, thôn sau chìm mờ trong sương khói
Nửa thực, nửa hư lúc sẩm tối mặt trời tà
Kẻ chăn trâu thổi sáo, cho trâu trở về hết
Cò trắng từng đôi bắt đầu sà xuống cánh đồng.
Rõ ràng một bức họa linh động “Mục ngưu đồ” điển hình của Thiền học.
Ở đây cực tả cảnh thực hòa mộng, mộng với thực trà trộn mơ màng phiêu diêu nhìn qua con mắt tâm lý nghệ thuật tượng trưng, như một nhà Thiền sư Tây tạng đã nói : “Thế giới này có
mà không phải là thật”. Đấy là một quan niệm tương đối về thế giới vậy :
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
(Nguyễn Du : Kiều)
Cảnh với tình, tình với cảnh hỗ tương biểu hiện ra có và không, biến hóa linh động như cảnh đồng quê lúc sẩm tối “mặt trời gác núi, chiên đà thu không”. Ai nấy đã thu xếp dụng cụ ngoài đồng để về nhà, sau lũy tre xanh. Chậm chạp nhất là lũ trẻ chăn trâu, ngồi trên lưng trâu thổi sáo véo von, con trâu ngoan ngoãn lững thững bước một như theo nhịp điệu của tiếng sáo mà di hướng về cổng làng. Con một con hai lần lần về hết. Bấy giờ giống chim cò lò dò ăn đêm mới sà xuống bờ ruộng. Hình ảnh đôi cò trắng đây của Trần Nhân Tông xuất hiện lúc nầy trong cảnh mờ tối giữa đồng quê khác gì như đôi hạc trắng đại diện cho hồn đạo sĩ xuất hiện sau khi “tâm viên ý má” đã thuần hóa ngoan ngoãn như con trâu do trẻ mục đồng điều khiển vậy.
Ý vị đạo Thiền của Trần Nhân Tông rất phong phú và thâm thúy. Nhân cảnh sinh tình, một cái tình thanh sao, thoát tục đượm mầu thực nghiệm tâm linh vũ trụ hóa như bài “Đăng bảo đài sơn” sau đây :
Địa tịch đái dũ cổ
Thời lai xuân vị thâm
Vân sơn tường viễn cận
Hoa kính bán tình âm
Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm
Ỷ lan hoành ngọc địch
Minh nguyệt mãn hung khâm.
NGHĨA GIẢI : “Lên núi Bảo đài”. Đối cảnh sinh tình, quá trình biện chứng ý thức từ ngoài vào trong qua những hình ảnh cụ
thể linh hoạt. Chốn hẻo lánh làm cho đài càng thêm cổ kính xa xưa. Bấy giờ vào mùa Xuân chưa muộn, Vũ trụ còn đầy sinh khí ấm áp.
Kìa núi mây phủ ngọn gần, ngọn xa chập chờn huyền diệu.
Đường núi đầy hoa,k nửa sáng chiếu, nửa bóng dâm che, ẩn ẩn hiện hiện.
Sự đời trôi chảy cuồn cuộn như dòng nước không đề lại vết tích. Trăm năm riêng lòng đối thoại với lòng, riêng ta lại với ta, vũ trụ ngoại giới là tâm, vũ trụ nội giới cũng là tâm.
Tựa lan can, mượn ba âm của tiếng sáo vi vu tan chìm vào không trung.
Chợt một ánh sáng tuệ chiếu như trăng trong tràn ngập cả thân tâm”
Đấy là qua cảnh thiên nhiên mà giác ngộ tâm Thiền đồng thời mượn cảnh vật bên ngoài mà gợi lên hình ảnh tâm linh vũ trụ hóa như “trăng sáng tràn ngập cả cái tâm linh khâm” ví như cái “linh khâm bảo hợp thái hòa” của Nguyễn Công Trứ sau này vậy.
Trên đây mượn cảnh trữ tình, một lịch trình vận động biện chứng củ ý thức từ ngoài vào trong để siêu lên trên cả thời gian và không gian. Không gian với thời gian, mây với núi như gần như xa, hoa cỏ phủ sương, ánh dương quang khép mở, lúc ẩn lúc hiện, đối với nội cảnh tâm tình trôi chảy vô hình một dòng liên tục sinh sinh hóa hóa, chỉ còn lại một nguồn tâm linh sáng tạo theo điệu sáo du dương mà vọng chìm vào không trung vô hạn. Bất giác trong lòng bừng sáng như trời đang u ám, chợt mây tan, mù tạnh, ánh trăng suông êm dịu tràn ngập khắp bầu trời. Đấy là trạng thái ý thức Thiền(Dhyana) như Vô Ngôn Thông đã nhắc lại cho :
“Tâm địa nhược Không, Tuệ nhật tự chiếu !”
Để thực hiện cái tâm Thiền ấy, Nhân Tông cũng như ông nội là Thái Tông trước kia, không phải ngồi tu luyện ăn chay, niệm Phật ẩn dật nơi thâm sơn cùng cốc. Trái lại con đường thực hiện của Thiền học Việt nam như đã kết tinh vào phái “Trúc lâm Yên tử” mà Nhân Tông là đệ nhất tổ, ấy là cả một cuộc đời hành động thực tế tích cưc phụng sự quốc gia xã hội, cùng với nhân dân chiến đấu trên bãi biển chiến trường vào sinh ra tử, chia nhau bát cơm hẩm, đồng lao công tác, cùng nhau mưu tính như ở hội nghị Diên hồng đặt quyền lợi chung trên hết, dân tộc tự do, quốc gia độc lập trên hết. Với hành động phụng sự vô cầu ấy, Tràn Nhân Tông tìm quên cái ngã cho đoàn thể, cho dân tộc lấy làm tha nhân, đồng nhất ngã nhân với tha nhân vào tín ngưỡng tổ quốc hay Hồn nước. Hồn nước hay tổ quốc đối với tín ngưỡng truyền thống Việt nam cũng là “hồn sông núi” “sơn hà xã tắc” cho nên hành động nhân phụng sự nhân sinh đưa đến chỗ “tâm địa nhược không” coi việc đời với lòng bình thản, không tham cầu, hoàn toàn vô tư, cho nên :
“Vạn sự thủy lưu thủy
Bách niên tâm ngữ tâm !”
nghĩa là :
Việc đời dòng nước chẩy,
Trăm năm lòng hỏi lòng !
Cái tâm hồn thiền tự nhiên bình thản ấy, đạt được sau khi làm trọn sự nghiệp anh hùng đối với Tổ quốc, với Dân tộc đã phản chiếu minh bạch vào bài Tứ tuyệt “Xuân văn” sau đây :
ÂM :
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim kham phá đông xuân diện.
Thiền bản bồ đoàn khan trụy hồng
DỊCH :
Tuổi trẻ sao hay lẽ có không,
Trời xuân trăm đóa ngổn ngang lòng.
Tới nay xuân đã quen biết mặt.
Mảnh chiều thiền, hoa rụng lắng trông.
Đấy là Tổ Trúc lâm An tử nói rõ qua bốn câu thơ thanh tao điêu luyện cái lịch trình đời sống thiền của mình từ lúc làm Thái tử theo vua cha đánh giặc Nguyên, cho đến khi chính mình làm vua cầm quyền ngự trị, trải qu hai phen giang sơn nghiêng ngả, quân dân đồng lao cộng tác để bảo vệ chủ quyền. Đến năm Trung hưng thứ 9 (1924), nhà Vua mới tự cho đã làm tròn trách nhiệm đối với đời, với người trong Quốc gia xã hội để nhường ngôi cho con mà thoát ra với thiên nhiên, giai đoạn thực hiện đời sống thiền cuối cùng cuộc đời trăm năm của nhân loại. Tiếng gọi vũ trụ thiên nhiên này đã vọng vào tâm hồn của tác giả bài Tứ tuyệt “Đề nhà thủy tạ chùa Phổ minh” sau đây :
PHIÊN ÂM :
Đến Phổ minh tự thủy tạ
Huân tận thiên đầu mãn trầm hương.
Thủy ba sơ khởi bất đa lường
Lão ùng ảnh lý, tăng khai bế
Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường
DỊCH NGHĨA :
Đề nhà thủy tạ chùa Phổ Minh (Nam định)
Hương đốt ngàn cây, ngát trần gian
Hiu hiu gió thoảng, nước lăn tăn
Dưới cây cổ thụ sư thấp thoáng
Một tiếng ve thu cảm vô ngần
Trong tạp chí Tri tân, mục Việt nam Văn học sử, Hoa Bằng có trích dẫn “Cư trần lạc đạo phú” của Vua, bằng văn
Nôm dài 10 hồi :
Mình ngồi thành thị,
Nết dụng sơn lâm,
Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính,
Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm.
Tham ái nguồn đình,
Chẳng còn nữa châu yêu ngọc quí.
Thị phi tiếng lặng,
Được dầu nghe én thuyết, oanh ngâm
Chơi nước biếc, ẩn non xanh,
Nhân gian có nhiều người đắc ý.
Biết đào hồng, hay liễu tục,
Thiên hạ năng mỗ chủ tri âm.
(Đệ nhất Hồi)
Và
Núi hoang rừng quạnh,
Ấy là nơi dật sĩ tiêu dao.
Triền vắng, am thanh,
Chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.
Ngựa cao, tán cả
Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang.
Gác ngọc, lầu vàng,
Ngục tốt thiếu chi người yêu quí ?
(Đệ thập Hồi)
Để khuyên người đời cải quá, quy y, Vua còn có lắm câu rất già giặn :
Buông lửa giác ngộ, đốt hoại bỏ rừng tà ngày trước,
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thủa này.
(Đệ nhất Hồi)
hay là :
Nguyện mong thân cận minh sư,
Quả Bồ đề một đêm mà chin.
Phúc gặp tình cờ tri thức,
Hoa ưu đàm mấy kiếp đâm bông.
(Đệ tam Hồi)
Qua mấy đoạn phú “Cư trần lạc đạo”, chúng ta có thê thấy thêm cái triết lý thực hiện của Vua Trần Nhân Tông đệ nhất Tổ Trúc Lâm An Tử, đã đến tinh thâm ý nghĩa Bất nhị pháp của hoa sen “ở bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” sống hoạt động trong hiện sinh mà tâm hồn vẫn siêu nhiên thoát tục. Đấy là tinh thần Thiền “Hành động vô cầu giải thoát”của đạo nghiệp (Karmayoga) :
Biết đào hồng hay liễu tục,
Thiên hạ năng mỗ chủ tri âm.
Chơi nước biếc, ẩn non xanh
Nhân gian có nhiều người đắc ý.
Bởi vì tâm hồn Ngài đã bình thản, “tự tại”, “vô vi nhi vô bất vi”. “vô sở nhập nhi bất đắc”.
Đấy thật là một Nhân bản toàn diện khai phóng của các Vua Việt nam đời Trần vậy.
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh
Đang in :
TRƯỜNG BỘ KINH TẬP IV
(DÌGHA – NIKÀYA)
của T.T THÍCH MINH CHÂU
TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
Phát hành nhân mùa Phật Đản 2516
TRƯỜNG BỘ KINH
(DÌGHA – NIKÀYA)
Tập III
của THƯỢNG TỌA THÍCH MINH CHÂU
Pali-Việt đối chiếu dày 820 trang, in offset trên giấy trắng, giá 1000$.
KIẾN TRÚC
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẬP I
Của Kiến Trúc Sư NGUYỄN BÁ LĂNG
dày 136 trang khổ 21x27, nhiều hình chụp các kiểu thức kiến trúc Phật giáo Việt nam. In offset trên giấy trắng. Giá 600$.
Độc giả Tư Tưởng có thể đến mua sách tại viện Đại Học Vạn Hạnh, hoặc gởi bưu phiếu (mỗi quyển thêm 150$ cước phí bảo đảm) đề tên Thượng Tọa Thích Minh Châu Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh 222, Trương Minh Giảng Saigon 3.