Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 4 (Năm 1972)

Tư Tưởng Số 4 (Năm 1972)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1972. Số trang: 96.

Chương 4: 4. Tăng Triệu Và Tánh Không Trung Hoa (Trang 35 - 46)

TĂNG TRIỆU
VÀ TÁNH KHÔNG
TRUNG HOA
 
 
TUỆ HẠNH
 
 
Một cuộc đời không quá phần ba thế kỷ, một tài năng lưu truyền trong chỉ một bộ luận chiếm không hơn mười trang Đại Tạng, một sự nghiệp hậu thế xưng tán làm sáng tổ Tam luận tông, một cái chết gia hình thảm khốc, con người Tăng Triệu quả là đã “sống thật” trọn vẹn một đời người vậy.
            Ấu thời thất học và ở tuổi thiếu  niên sinh nhai bằng nghề sao chép kinh sách cho những nhà quí phái nhiều tiền không phải là một thiệt thòi cho Triệu, mà trái lại, nhờ đó, Triệu đã thoát khỏi sự dính chấp vào giáo điều đóng khuôn theo Khổng để mà tự do ta thân Lão Trang. Mười lăm tuổi, Triệu đã thâm hiểu Đạo Đức kinh và đã buộc miệng than thở : “Hay thì có
thật là hay, nhưng mà nơi tâm thần chúng ta có thể an nhiên và nơi những đau khổ trần gian đều tiêu diệt vẫn chưa tìm thấy” . (1). Phải đợi đến khi Chi Khiêm dịch Tịnh Danh kinh (2), Triệu mới “tìm thấy con đường để đi”, mừng rỡ khôn cùng và xuất gia ngay.
            Mười tám tuổi, danh đã lừng lẫy, bốn phương học giả kéo về Tam Phủ thiết vấn nạn đề, để cuối cùng vẫn bị Triệu, không những tư tưởng uyên thâm mà còn là nhà biện bác đại tài, khắc phục tất cả. Qui phục dưới trướng La Thập, bậc thầy vĩ đại của văn học Phật giáo Trung hoa này đã phải kinh phục cho rằng Triệu là con rồng vùng vẩy trong chánh pháp (3). Mười chín tuổi, đứng đầu hàng tứ kiệt (4), Triệu giữ việc tập thành các kinh điển ghi chép theo lời dịch giảng của thầy – cả những ghi chép lời phê bình riêng tư của Thập trong khi dịch giảng mà sau này tập thành bộ La Thập luận giải. Điều này, cùng với lời Thập khen Bát Nhã Vô Tri Luận rằng : “ngô giải bất tạ tử, văn dương tương ấp nhĩ” (5), minh chứng rằng văn chương dịch thuật của Thập quả mang rất nhiều dấu vết tài năng của Triệu vậy.
            Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ta hạ giá công đức của Thập đi. Bởi vì, trong giai đoạn du nhập sơ thời, một cuộc du nhập không phải trong ý nghĩa đức Phật Ấn độ chinh phục Trung Hoa mà là trong ý nghĩa học giả Trung Hoa dang rộng đôi tay đón nhận đức Phật bấy giờ đã lên tiếng nói bằng Hoa ngữ, nếu không có Thập thì tư tưởng Đại Thừa và nhất là Tánh Không, chắc chắn là không được những kết quả vĩ đại mà Triệu là một minh chứng bấy giờ vậy. Thập chỉ trước tác có một quyển “Thật Tướng luận” và thích giải Tịnh Danh kinh ; công nghiệp của Thập chủ yếu ở phần dịch thuật và nhất là giảng
Giải các bộ kinh điển Đại Thừa quan trọng như Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharamapuṇḍrīka). Đại Phẩm Bát Nhã (Pañcavi-msatika), Tiểu Phẩm Bát Nhã (dasasāhasrikā) Đại Trí Độ Luận (Prajñapāramitāupadesa sāstra) và ba bộ tập thành Tam luận : Trung Quán (Madhyamika), Thập Nhị Môn (Dvādasanikāya) và Bách Luận (Sata Sāstra). Chính nhờ giữ phần “chấp bút” cho thấy trong công cuộc dịch giảng này mà tài năng của Triệu mới bộc lộ.
            Với một tâm hồn tinh khiết, không bị buộc ràng bởi thành kiến hay học thuyết thiên chấp nào, Triệu đã thấu triệt ngay bản ý của Long Thọ khi nghe thầy giảng Trung luận, nên ngay sau đó, trước tác “Bát Nhã Vô Tri luận” (kh. 404 sau TL) hơn hai ngàn chữ, trình lên thầy và được tán than : “Ta hiểu không thua ngươi, nhưng văn từ phải nhường ngươi” (5). Đến Lưu Di Dân cũng kinh dị : “Không ngờ trong tăng giới lại có bậc Bình Thúc” (6) ; và Huệ Viễn, sáng tổ Tịnh Độ tông, bấy giờ đã hơn 60 tuổi, phải ca ngợi : “Thật là độc đáo”. Rồi sau đó, Triệu sáng tác “Vật Bất Thiên”, “Bất Chân Không”, “Niết Bàn Vô Danh” từng được Diêu Hưng Hoàng đế nhà Hậu Tần (393-416) hạ bút chú giải từng chỉ tiết một vài ngự để tựa cho (7), lập thành một “Trung Quán Luận Trung hoa”, tức “Triệu Luận”(8), vừa triển khai ý chỉ của vị Bồ tát Luận sư vĩ đại Long Thọ, vừa minh chứng sở ngộ của Triệu để tự tạo nên một địa vị độc đáo trong văn học Phật giáo Đại thừa, và từ đó, tự lập nên một học thuyết Tánh Không mang văn thể Đạo gia, dùng từ ngữ Quách Tượng, trích dẫn Lão Trang để nói về chân lý tự chúng : “Niết bàn có thể đạt đến ngay trong chính cuộc sống này chứ không phải ở một tì ế giới nào khác”, vốn là nguyên lý căn bản và là mục đích của Mādhyamika vậy.
Nói đến Long Thọ là nói đến Không, một hệ luận biện chứng bốn tầng của một tổng họp rồi siêu việt hai cực đoan phủ và khẳng định của thực thể. Đã là cực đoan thì phải gặp nhau, cho nên :
                        Như Phật kinh trung thuyết
                        Đoạn Hữu đoạn phi Hữu
                        Thị cố tri Niết Bàn
                        Phi Hữu diệc phi Vô
Trung luận q.6
Phẩm Quản Niết Bàn thứ 25.

 
            Th. Stcherbatsky đã trả lời cho những học giả Tây phương thường quan niệm Không của Long Thọ như là một triết thuyết về tiêu cực, hay là một cái gì chối bỏ cả Hữu và Vô, bằng cách minh chứng rằng, Long Thọ chỉ phủ định quan niệm tương đãi họp thành bởi hình danh sắc tướng, mà không phủ định thực tại (9). Thực tại, tự nó, vốn là Không. Không là một diễn tiến của cuộc sống trong đó vạn vật tùy thuộc vào nhau, thử hữu tức bỉ hữu, chịu đựng kết quả của nhau, thử vô tức bỉ vô, hay nói cách khác,  sự vật chỉ hiện hữu trong tương hệ nhân duyên :
                        Chúng nhân duyên sanh pháp
                        Ngã thuyết tức thị Không
                        Diệc vi thị giả danh
                        Diệc thị Trung đạo nghĩa
q.6 Phẩm Quán Tứ Đế thứ 24.
            Cho nên  Pratītyasamutpāda cũng là Sūnyatā,
Sūnyatā chỉ được trực nhân bằng Prajñā, tức Bát Nhã, trí tuệ siêu việt tất cả tương đãi của tứ cú. Triệu dẫn chứng theo Đại Bát Nhã kinh, tán đồng ý chỉ của Long Thọ :
            Nếu có đối tượng biết, tất có cái không biết. Tâm của bậc Thánh không biết, cho nên không có gì mà không biết.
(Triệu luận. chương Bát Nhã vô tri luận)
 
            Đấy là chân lý về Không, trình bày theo tứ cú, bảo rằng :
                        Tất cả đều không
bởi vì :
                        Tri cùng sở tri, hoặc giả cùng là Hữu, hoặc giả
                        cùng là Vô
                        Nếu cả hai là Vô, thì vật không thể Có
                        Nếu cả hai là Hữu, thì vật không thể Không.
(Bát Nhã Vô Tri luận)
 
            Cho nên Bát Nhã không có đối tượng để biết, không có đối tượng để thấy (Bát Nhã vô sở tri, vô sở kiến : Đại Bát Nhã kinh). Mà Bát Nhã, theo thuật ngữ của Triệu, chiếu khắp vạn hữu. Chiếu chớ không phải tri, bởi vì biết tạo nên một phân tán giữa hai cực đoan, chủ thể biết và vật bị biết, sở tri. Biết là nhiễm ô, là tiếp xúc với đối tượng dẫn đến nghiệp ràng buộc tư hữu. Bát Nhã là Huệ Chiếu, là tấm gương huyền giám dung chứa và phản chiếu đầy đủ hình danh sắc tướng mà vẫn không bị dao động, vẫn luôn tịch tĩnh. Triệu tìm thấy thuật ngữ này trong kinh Bát Nhã, dùng để định nghĩa trí tuệ của Bồ tát ở giai đoạn thiền sau cùng, tức Đại Viên cảnh trí, “ Tri cùng vô tri tức đồng nghĩa với tịch chiều, tức là định tuệ”, mà sau này
Thiên Thai tôn, một lần nữa, mệnh danh là chỉ quán (định : chỉ, tịch ; tuệ : quán, chiếu).
Bát Nhã, tịch nên không những biểu lộ vạn hữu ngoại tại (thể) mà còn chiếu, thấu suốt bản thể nội tại (thể) nữa. Vạn vật, do đó không hiện hữu dựa trên cảm tưởng. Cuộc đời, tự nó, minh chiếu. Khi minh chiếu, Bát Nhã phản ảnh nội tại để mà tạo nên cái ta gọi là thế gian, mà thật ra, là bản thể của vũ trụ. Bát Nhã không chỉ là định chỉ, cái biểu lộ bên ngoài, mà vượt hơn nữa, là sinh thể vũ trụ, tuệ quán. Thiền định là xả bỏ thế giới bên ngoài để quay trở lại bên trong, tịnh lự để mà tìm kiếm thực tại tự nội thể ; còn Bát Nhã thì vừa bên ngoài lẫn bên trong, Bát Nhã là ánh sáng triền miên, là cuộc sống vô cùng, trong đó mọi hiện hữu nhị nguyên đều bị tiêu diệt toàn diện.
            Triệu còn đi xa hơn bước nữa, nhân cách hóa Bát Nhã thành đấng Thế Tôn với hai ý nghĩa ; bậc Giác Ngộ tìm thấy thực tại trong gia cảnh, và là bậc đã khám phá ra lý duyên khởi của vạn hữu. Bát Nhã, theo Triệu là đồng nhất thể của hai mặt vũ trụ : một mặt tịch tĩnh, một mặt nhiễm ô, hay nói cách khác : thực tại và giả tá. Long Thọ cũng đã từng đề xướng nghiệp  Saṃsāra) và Niết Bàn (Nirana) làm nhân duyên cho nhau ; khi Niết Bàn ngự trị là lúc nghiệp không có môi trường hoạt động, và ngược lại. Bởi vì thật ra, không có hai môi trường khác biệt nhau mà chỉ có Một ; hoặc là một tiến hành trong mê lộ của những huyển hóa ngẫu nhiên ràng buộc vào nhau, hoặc là một tịch tĩnh bất biến. Long Thọ không hề đề cập đến ý chỉ của vũ trụ. Chuyển hóa chỉ từ giả tưởng tiến đạt đến thật tri. Bao giờ mà ta còn ngoan cố không chịu giả từ giả tưởng
Chấp mắc vào cái “ngã” hạn cuộc trong dòng tụ họp chằng chịt của những yếu tố cá biệt ảo hóa, bấy giờ ta vẫn còn phải là đối tượng của nghiệp tập thành để rồi tan biến đi như những bọt bèo lênh đênh trên biển cả. Cho nên ta phải biết nhìn thấy mặt kia của thực thể, phải biết xả bỏ tất cả những ảo tưởng để khám phá ra rằng cái gọi là “ta” chỉ cứu cánh là sản phẩm của tưởng tượng, của một tràng nhân duyên kết hợp, để siêu việt cả hai mặt để mà hòa điệu với Đạo, với Con Đường Giữa : Saṃsāra eva nirvanam. Con đường giữa đó, Triệu gọi là “tức tợ tức chân”.
            Với định thức này, Triệu tin tưởng là đã tìm thấy giải đáp cho vấn đề đang dày vò học giới đang thời : liên hệ giữa tục đế và Chân đế. Triệu đã trút bỏ hết cả những thuộc tinh thần bí của chúng ; Chân đế bấy giờ tự viên mãn trong lúc tục đế hoàn toàn lệ thuộc vào nhân duyên. Định thức này thật ra không miêu tả thế nào là tục đế, thế nào là Chân đế, mà chỉ trình bày một cơ cấu vũ trụ trong đó tục đế không phải là mặt trái của một nhất thế mà mặt phải là Chân đế. Trung đạo của Triệu, dầu sắp Niết Bàn và Nghiệp trên cùng một bình diện, như Long Thọ từng làm, về mục đích giải thoát những nỗi khổ và thăng hoa hành giả đến cực lạc xứ, trong đó có đức Phật ngự trị, đức Phật mà Triệu “thấy” và “xúc chạm” được qua tất cả mọi đối tượng mà Triệu phải đối đãi hàng ngày, trái với mục đích giải thoát của Long Thọ là hướng dẫn đến cuộc sống vượt ngoài sanh tử. Đây là kinh nghiệm thăng hoa mà Triệu đã chứng ngộ được để minh hiểu đức tin mà Triệu đã từng ôm ấp khi đặt chân vào ngưỡng cửa tự viện : “Niết Bàn có thể đạt được ở ngay trong cuộc sống này chớ không cần phải tìm ở đâu và lúc nào khác”.
Cuộc sống, thật ra không phải là một luận đề để phân tách. Nó không có “vị trí”, bởi vì nếu có vị trí tất phải có cái không phải vị trí để có thể tạo nó thành vị trí. Tất cả chỉ là một đối đãi tương phản.
                        “Xuân đã sang thì đông phải đi
                        Như đêm tan cho ánh sáng về
                        Như trăng phải khuất sa vầng nhật
                        Đông lạnh lùng cho xuân phát huy”
            Như thế đó đó, cuộc sống “không” có cái mà ta giả thiết là tồn tại (sat), hoặc ngã (ātman), hoặc pháp (dharma); cuộc sống là Không, và cũng vì Không nên nó có đó, như thế (tathā). Pháp vừa tồn tại vừa không tồn tại (asat); bởi vì chúng được đặt vào trong tình trạng là và không phải là. Tuy nhiên, cái gì mà không được đặt vào tình trạng là hay không phải là, cái gì vừa không phải là vừa không không phải là, thì bất khả hoại diệt (anirudham), không bị lệ thuộc vào sanh tử (anutpannam) ; cho nên Không cũng là Như Thị (tathatā). Triệu nói, hiện hữu chỉ là Giả, chỉ có bất hữu mới thật là Chân.
            Phân tách giết chết cuộc sống, cho nên chúng ta không mổ xẻ xác chết khi đặt vấn đề vào vị trí ; chúng ta đi tìm giải thoát cho nên khi đạt đến tận cùng phân tách, chúng ta phải quay trở lại. Khi nào ta còn muốn tiêu diệt Nghiệp, còn nghĩ đến, còn cho là, đây là Nghiệp, bấy giờ là Niết Bàn. Không có sự ngừng nghỉ trong Nghiệp, bấy giờ là Niết Bàn. Không có sự ngừng nghỉ trong biến chuyển, không có gì ngoài cái khứ lai không ngừng của nhân quả. Biến chuyển đó là chân thật, vì “biến chuyển” không bao giờ biến chuyển. Không có bản chất nào tồn tại trong liên quan biến chuyển đó, cho nên đấy là tương
đối tinh, và tương đối đó, là tuyệt đối (10). Để minh chứng điều này, bồ tát Long Thọ đã phải tạo nên một vị trí, mà ta tạm gọi là một sát na, tức là một khoảng thời gian trong đó có 3 giai đoạn diễn tiến, sanh trụ diệt, tạo thành một pháp (11). Pháp a trụ nơi “chỗ” của nó, lấp kín sát na, không cho pháp nào, ngay cả pháp trung gian c, có thể chiếm chỗ của nó để tạo nên liên lạc giữa nó vào pháp b. Như vậy, mỗi một pháp toàn vẹn là một pháp, không một pháp nào có thể dính mắc vào pháp khác, ngay cả vào pháp hiện hữu hay không hiện hữu. Na san nāsat.
            Tăng Triệu tán đồng :
            Tích vật tự tại tích, bất tùng kim di chi tích,
            Kim vật tự tại kim, bất tùng tích di chi kim.
Vân bất thiên luận
            Mỗi một vật đều ở tại nơi chỗ của nó ; vật đã không cùng nhau vãng lai, thì làm sao có thể gọi là có động biến, có thiên chuyển được ? Thế nên vạn vật yên nhiên, tịch tĩnh, không dao động, không nhiễm ô, không dính mắc, Không. Từ đó, thái độ của ta là, như một vật thay biểu tượng trên, yên nhiên, tự túc, không dính mắc bởi vì vạn vật là Không, ngay cả cá thể của ta, nên do đó, vạn vật không bao giờ ảnh hưởng được ta. Tây phương đã không dám phóng thể kinh nghiệm này vào kích thước vũ trụ, hay từ đó, rút ra một hệ luận về vũ trụ. Chỉ có Long Thọ, cũng đồng ý về sự bất khả thể của ngôn từ của biểu tượng, trong khi con người lại thích sử dụng danh từ, cụ thể hóa cuộc đời (kriyā).
                        Chân đế độc tịnh u danh giáo chi ngoại.
Bất Chân Không luận.
Danh ngôn được dùng để diễn tả mọi vật, cả đến vũ trụ vốn không phải là một “vật”, một chứng minh sự hạn cuộc của con người, vì thật ra, ngoài danh ngôn thì chúng ta không còn phương tiện gì khác để truyền thông tư tưởng. Nhưng cũng vì danh ngôn chỉ là phương tiện cho nên vừa sử dụng chúng, ta cũng vừa phải phủ nhận chúng để tránh khỏi nhầm lẫn “vũ trụ” vô biên là một “vật”. Cho mãi đến mười mấy thế kỷ sau, Kant mới vô tình lập lại vấn đề mà Triệu đã tiên thuyết : có phải toàn thể vũ trụ là một vật ? Quyết định không phải là một vật ? Quyết định không đúng, vì vũ trụ ôm trọn vạn vật (13), Gần mười lăm thế kỷ cách biệt, người nay đã gặp người xưa, để cùng nói về một thực tại “đối tượng” bằng hai thuật ngữ khác nhau, để thêm một lần minh chứng sự bất lực của ngôn từ. Ngay cả đến Sunyata mà dịch là Không cũng là một hạn cuộc gượng ép, nhưng mà ngoài Không ra, thì còn có danh từ nào khác khả dĩ diễn đạt được ý nghĩa của Sunyata ? (14).
            Chỉ có thật quán, thật tri, siêu việt cả hai mặt hữu vô mới thấy được cái chân trong cái giả. Và khi đã quán, đã tri và đã sống thật trong Chân Lý tối thắng, cuộc đời ba mươi năm của Triệu quả là đã sống quá viên mãn rồi vậy.
 
TUỆ HẠNH
  1. Cao Tăng Truyện, ch. 6, 13 ; Phật Tổ lịch đại thông tãi, ch. 7, 16, Cuộc đời lịch sử của Tăng Triệu được ghi lại nơi đây, trong khi Truyền Đăng Lục thêm thắt nhiều chi tiết huyền thoại, như cái chết gia đình của Triệu…
  2. Còn gọi là Duy Ma Cật Kinh. Chí Khiêm dịch lần đầu năm kh. 222 TL La Thập dịch lần nữa năm kh . 406 TL.
  3. (5) Cao Tăng Truyện ; PTLĐTT.
  4. Đạo Sanh, Huệ Quán, Tăng Duệ, Tăng Triệu.
  5. Bình Thúc, tự Hà án, nhà đạo sĩ lừng danh trong việc chiết giải Đạo Đức Kinh. Viết Đạo Đức Luận. Mất năm 249 TL.
  6. Diệu Hưng, tự Tử Lược, xưng hiệu Thiên Vương, trị vì Hậu Tân tứ 394 đến 416 TL. Không những bảo trợ công cuộc truyền bá Phật giáo – phong La Thập làm Quốc sư trong khi Thập bị đưa đến Trường an như là tù binh – mà còn tham dự vào công cuộc viết và dịch các tác phẩm Phật học nữa.
  7. Điều đáng chú ý ở đây là Triệu chỉ trích dẫn Trung Luận cảu Long Thọ ; vết tích của Thập Nhị Môn và Bách Luận không tìm thấy trong tác phẩm của Triệu.
  8. Stcherbatsky, Th. The conception of Buddhist Nirvana. Leningrad, 1927. tr. 92.
(10) Theo ý nghĩa của Triệu : vạn vật không ngừng biến chuyển, do vì không ngừng biến chuyển nên vạn vật không di động.
“Vật bất thiên luận”.
 (11)Liebanthal, Walter. – Chao Lun, the treatise of Seng Chao,
Hongkong Uni. P., 1968. tr. 36.
(12) –dl –tr.32.
(13) Kant, Immanuel, - Critique of Pure Reason. Ch. II : Phản đề,
Phần I : Nguyên tắc tương phản : “Tương phản là một dữ kiện, không phải là một thuyên giải về hiện hữu, không sai khác trong chính tự nó với bất cứ mọi dữ kiện khoa học nào khác, và có thể được tìm thấy ở bất cứ mọi nơi”.
(14) Liebanthal, W. Chao Lun, tr.34.
Nhà xuất bản KINH THI
           
 
ĐÃ XUẤT BẢN :
 
CON NGƯỜI VÀ KỸ THUẬT                                      Oswald Spengler
ÁC QUỈ TRÊN THIÊN ĐÀNG                                      Henry Miller
SIÊU HÌNH TÌNH YÊU                                                
SIÊU HÌNH SỰ CHẾT                                                    Schopenhaner
CHÀNG TUỔI TRẺ GAN DẠ                                       William Saroyan
TRÊN CHIẾC ĐU BAY                                                
THẾ GIỚI THI CA NGUYỄN DU                                Nguyễn Đăng Thục
NHẬT KÝ CỦA CHÉGUEVARA                                 Ché Guevara
 
 
ĐANG IN :
NGƯỜI LỮ HÀNH CÔ ĐƠN                                        C.V Gheorghiu
THIỀN ĐẠO TU TẬP                                                     Chang Chen-Chi
CON ĐƯỜNG MÂY TRẮNG                                        Lama Anagarika
                                                                                                      Govinda
/8
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »