TỪ VỰNG PHẬT HỌC
CHƯƠNG VII : NHƯ LAI THẬP LỰC
(Như sách)
B. Như Lai thập lực, mười năng lực của một vị Phật.
(Như sách)
B. Xứ phi xứ trí lực, năng lực biết rõ đâu là đạo lý, đâu là phi đạo lý.
(Như sách)
B. Nghiệp dị thục trí lực, biết rõ sự quan hệ giữa nghiệp (karma) và kết quả của nghiệp (vipà ka).
(Như sách)
B. Chủng chủng thắng giải trí lực, biết rõ tất cả các dục lạc của chúng sinh.
(Như sách)
B. Chủng chủng giới trí lực, biết rõ các chủng tánh (dhàtu) sai biệt của chúng sinh.
(Như sách)
B. Căn thượng hạ trí lực, biết rõ các căn cơ hoặc cao (para) hoặc thấp (apara) của chúng sinh.
Như sách)
B. Biến thú hành trí lực, biết rõ những xu hướng hành nghiệp của chúng sinh
(Như sách)
B. Nhất thiết tĩnh lự giải thoát đẳng trí đẳng chí trí lực, biết rõ tất cả các môn thiền định (dhyàna) giải thoát (vimoksa), tam muội (samàdhi), chính thọ (samàpatti), sự rời bỏ (vyutthàna) những tạp nhiểm (samklesa), và thanh tịnh (vyavadàna).
(Như sách)
B. Túc trụ tùy niện, trí lực, nhớ rõ (anusmrti) những đời sống (nivasa) trong quá khứ (purva).
(Như sách)
B. Tử sinh trí lực, biết rõ xu hướng thiện ác, sống chết trong đời vị lai (cyuti).
(Như sách)
B. Lậu tận trí lực, dứt sạch món lậu, (asrava), nơi mình và nơi kẻ khác.
CHƯƠNG VIII : NHƯ LAI TỨ VÔ SỞ ÚY
(Như sách)
B. Tứ vô sở úy, Phật có bốn điều không sợ hãi khi thuyết pháp
(Như sách)
B. Chư pháp hiện đẳng giác vô sở úy / Nhất thiết trí vô sở úy, Phật tự tuyên bố : Ta là bậc Nhất thiết trí, và ngài không sợ hãi khi tuyên bố như vậy.
(Như sách)
B. Lậu tận vô sở úy / Nhất thiết lậu tận trí vô sở úy, Phật không sợ hãi khi tự tuyên bố : Ta là bậc đã đoạn tận hết thảy phiền não.
(Như sách)
B. Thuyết chướng đạo vô sở úy / Chướng pháp bất hư quyết định thọ ký vô úy, Phật không sợ hãi khi công bố những pháp chướng ngại
(Như sách)
B. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy / Vị chứng nhất thiết cụ túc xuất đạo như tính vô úy, Phật không sợ hãi khi công bố con đường chân chính diệt khổ.
CHƯƠNG IX : THẬP BÁT BẤT CỘNG PHÁP
(Như sách)
B. Thập bát bất cộng Phật pháp, mười tám pháp bật cộng (avenik a dharma), chỉ có riêng nơi một vị Phật toàn giác, không có nơi hàng Thanh văn, Độc giác (pratyekabuddha) hay Bồ tát (bodhis ttva)
(Như sách)
B. Thân vô thất, không có sự khiếm khuyết (skhalita) nơi thân của Như Lai, vì ngài thường tu giới, định, tuệ, từ bi, nên hết thảy phiền não nơi thân ngài đã dứt sạch.
(Như sách)
B. Khẩu vô thất, không có âm thanh chát chúa (rasita) ; Như lai có đầy đủ trí tuệ và biện tài khiến cho mọi người nghe mà được chứng ngộ.
(Như sách)
B. Ý vô thất, không lãng quên ; Phật tu các môn thiền định sâu xa nên tâm không bị buộc ràng vào các pháp.
(Như sách)
B. Vô bất định tâm, không có tâm bất định ; Phật luôn luôn thâm nhập thiền định.
(Như sách)
B. Vô dị tưởng, không thiên lệch, Phật cứu độ khắp tất cả chúng sinh với tâm bình đẳng, không phân biệt lựa chọn.
(Như sách)
Vô bất tri xả tâm, đối với hết thảy các pháp, Phật luôn luôn soi thấy rõ, không bỏ bất cứ một pháp nào.
(như sách)
B. Dục vô diệt, ý chí cứu độ chúng sinh không bao giờ tiêu tan nơi Phật
(Như sách)
B. Tinh tấn vô diệt, Phật không bao giờ nghỉ ngơi trong việc tinh tấn cứu độ chúng sinh.
(Như sách)
B. Niệm vô diệt, luôn luôn tương ứng trọn vẹn với pháp của chư Phật trong ba đời.
(Như sách)
B. Định vô diệt, Phật không bao giờ thoát hóa đối với các môn thiền định.
(Như sách)
B. Huệ vô diệt, Phật có đủ tất cả các môn trí tuệ.
(Như sách)
B. Giải thoát vô diệt, giải thoát khỏi các pháp hữu vi và vô vi, Phật cởi bỏ tất cả mọi chấp trước.
(Như sách)
B. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành, Phật hiện các thắng tướng để điều phục chúng sinh, diễn thuyết hết thảy các pháp, khiến cho tất cả được giải thoát chứng nhập, nghĩa là tất cả hành vi thân nghiệp của Phật vận chuyển theo trí tuệ của ngài.
(Như sách)
B. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành, Phật dùng đủ mọi âm thanh vi diệu để hóa đạo làm lợi ích cho chúng sinh, khẩu nghiệp của ngài vận chuyển tùy theo trí tuệ của ngài.
(Như sách)
B. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành, Phật dùng ý nghiệp thanh tịnh thuyết pháp để phá diệt những vô minh si hoặc.
(Như sách)
B. Trí quá khứ vô ngại – Nhược
Trí nhược kiến ư quá khứ thế vô trước vô ngại, Trí và kiến của Phật đối với tất cả các pháp quá khứ không bị ràng buộc, không bị trở ngại.
(Như sách)
B. Tri vị lai vô ngại, Phật biết khắp tất cả các pháp vị lai một cách thông suốt không bị trở ngại
(Như sách)
B. Tri hiện tại vô ngại, Phật biết khắp tất cả pháp hiện tại một cách thông suốt.
CHƯƠNG XIII : TỨ VÔ NGẠI GIẢI
(Như sách)
B. Tứ vô ngại
Tứ vô ngại giải
Tứ vô ngại trí
Tứ vô ngại biện, bốn khả năng biện luận vô ngại của Phật và Bồ tát khi các ngài thuyết pháp.
(Như sách)
B. Pháp vô ngại giải, biện tài thông suốt về giáo pháp được thuyết.
(Như sách)
B. Nghĩa vô ngại giải, thông suốt ý nghĩa của pháp được thuyết.
(Như sách)
B. Từ vô ngại giải, thông suốt những lời được dùng để thuyết pháp.
(Như sách)
B. Biện vô ngại giải/Nhạo thuyết vô ngại, thộng suo6t1` biện tài thích hợp với thính chúng.
CHƯƠNG XVII : TAM THẬP NHỊ TƯỚNG
(Như sách)
B. Tam thập nhị đại trượng phu tướng, 32 hai dấu hiệu đặc biệt nơi một bậc vĩ nhân (mahà-purusa)
(Như sách)
B. Đỉnh thượng nhục kế, ngay ngay đỉnh đầu nổi lên một gò cao. (I)
(Như sách)
B. Đầu kế hữu triền, tóc xoắn về phía hữu (2)
(Như sách)
B. Ngạch quảng bình, trán rộng (3)
(Như sách)
B. Mi gian bạch hào, lông mày trắng (một sợi nhỏ giữa lông mày) (4)
(như sách)
B. Nhãn sắc kiềm thanh nhi nhãn tiệp như ngưu vương, mắt trong xanh, tròng mắt như ngưu vương. (5)
(Như sách)
B. Tứ thập xỉ cụ túc, đủ 40 cái răng (6)
(Như sách)
B. Xỉ tề mật, răng khít và đều (7)
(Như sách)
B. Xỉ căn thâm, chân răng sâu, không có kẽ hở. (8)
(Như sách)
B. Xỉ bạch tịnh, răng trắng trẻo.(9)
(Như sách)
B. Yết trung tân dịch đắc thượng vị, dịch tuyến trong cổ biến mọi đồ ăn thành mùi vị tuyệt diệu. (10)
(Như sách)
B. Hàm như sư tử, càm sư tử. (11)
(Như sách)
B. Quảng trường thiệt, lưỡi rộng và dài (trùm lên quá chót mũi). (12)
(Như sách)
B. Phạm âm, tiếng nói như của trời Brahma (13)
(Như sách)
B. Tí đầu viên tướng, cánh tay tròn, đầy đặn (14)
(Như sách)
B. Thất xứ bình mãn, bảy chỗ đầy đặn (hai lòng chân, hai lòng tay, hai vai và cổ). (15)
(Như sách)
B. Lưỡng dịch mãn tướng, hai nách đầy. (16)
(Như sách)
B. Bì phu tế, da mịn màng. (17)
(Như sách)
B. Chánh lập bất khuất nhị thủ quá tất, đứng thẳng, hai tay dài qua khỏi đầu gối. (18)
(Như sách)
B. Thân thượng như sư tử, phần trên thân thể như sư tử. (19)
(Như sách)
B. Thân tung quảng đằng như nhiếp trác đáp thọ, thân thể tròn trịa như cây nyagrodha (cây đai banian, figuier). (20)
(Như sách)
B. Mao khổng sanh thanh sắc tướng, hết thảy các chân lông ngời sáng màu xanh. (21)
(Như sách)
B. Mao thượng mĩ, lông thẳng hướng lên.(22)
(Như sách)
B. Mã âm tầng, năm căn ẩn kín như của ngựa. (23)
(Như sách)
B. Thối mỹ viên, gót chân tròn đẹp. (24)
(Như sách)
B. Túc phu cao, mu bàn chân nổi cao. (25)
(Như sách)
B. Thủ túc nhu nhuyễn, tay chân mềm mại. (26)
(Như sách)
B. Thủ túc man võng, giữa các ngón tay và ngón chân kết lưới với nhau. (27)
(Như sách)
B. Chỉ tiêm trường, ngón tay dài. (28)
(Như sách)
B. Thủ túc cụ thiên luân phức, giữa lòng tay và lòng chân có hình căm xe (29)
(Như sách)
B. Túc hạ an bình, bàn chân bằng phẳng
(Như sách)
B. Túc ngấn quảng trường, gót chân rộng và dài. (31)
(Như sách)
B. Sủy như lộc vương, đùi thon như nai chúa. (32)
Nhà xuất bản LÁ BỐI
Lô O số 121 Chung cư Minh Mạng Saigon 10
Giám đốc sáng lập : Nhất Hạnh
Mời đọc những tác phẩm mới :
NẺO VÀO THIỀN HỌC
của Nhất Hạnh
10 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ HÔM NAY
Của Tạ Tỵ
VÔ MÔN QUAN
Của Thiền sư Vô Môn, Trần Tuấn Mẫn dịch
ĐỨC PHẬT GIỮA CHÚNG TA
Của Bác sĩ Trần Ngọc Ninh
NÓI VỚI TUỔI HAI MƯƠI
Của Nhất Hạnh (tái bản lần IV)
CHINH PHỤ NGÂM DIỄN ÂM TÂN KHÚC
Của Phan Huy Ích – Nguyễn Văn Xuân phát giác
Mua sách tại LÁ BỐI được trừ hoa hồng. Luôn luôn bán các sách của các nhà xuất bản uy tín. Nhận gửi sách cho bạn đọc qua bưu điện. Xin hỏi thư mục, nhớ kèm tem. Thư đề Ông Võ Thắng Tiết.
HỘP THƠ TÒA SOẠN
Trần phụ Trác – Cát Đông – Hồ Ngọc Ngữ - Trần thoại Nguyên – Nguyễn Minh Không – Nguyễn Thị Xinh – Mynh Thanh – Nguyễn Đức Nhân – Nguyễn Bạch Dương – Phạm Chu Sa – Đoàn Minh Hải – Tâm Quỳnh – Ưu Thức – Ngọc Thùy Khanh – Lương Trọng Minh – Vũ Phan Long.
-
Nguyễn Kim Phượng : Xin cho biết địa chỉ để gởi lại bài của H.G. Creel. Tư Tưởng không đăng các bài dịch.
-
Yên Phương Thành, Cần thơ : đã nhận được “Tình yêu và Súng đạn”. Xin đa tạ.
-
Từ lâu, Tư Tưởng được các bạn đọc cọng tác thường xuyên, nhưng Thầy Tổng Thư ký Tòa soạn bị một số ngoại duyên chi phối nên không liên lạc với bạn đọc được ; vậy mong các bạn hỷ xả về sự sơ xuất này. Xin cảm tạ.
Tòa soạn TƯ TƯỞNG
TƯ TƯỞNG
Năm thứ V Số 4 ngày 25 tháng 6 năm 1972.
MỤC LỤC
-
THIỀN HỌC TỔ TRÚC LÂM
AN TỬ Nguyễn Đăng Thục 3
-
DỊCH LẠI MẤY ĐOẠN VĂN
TRONG CƯƠNG MỤC VỀ TÌNH
TRẠNG PHẬT GIÁO THỜI HẬU LỆ Lê Mạnh Thát 17
-
THƠ Bùi Xuân Hạt
Bùi Bá Bỗng
Võ Chân Cửu
Võ Phan Long 29
-
TĂNG TRIỆU VÀ
TÁNH KHÔNG TRUNG HOA Tuệ Hạnh 35
-
NHỮNG VẤN ĐỀ NGỮ HỌC Lê Bá Thảo 47
-
ÂM THANH CHUÔNG CHIỀU
CỦA NHÂN LOẠI Lê Trung Trang 65
-
SINH HOẠT VĂN HÓA Trần Ngọc Ninh 78
-
TỪ VỰNG PHẬT HỌC Tư Tưởng 85
Giấy phép số 521 / BTT / NBC / HCBC cấp ngày 20 – 4 – 1970.
In tại Ấn quán Vạn Hạnh, 222 Trương Minh Giảng – Saigon.
TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
Đã phát hành
TRƯỜNG BỘ KINH
(DÌGHA – NIKÀY A)
Tập III
của THƯỢNG TỌA THÍCH MINH CHÂU
KIẾN TRÚC
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Của Kiến Trúc Sư NGUYỄN BÁ LĂNG
Đang in
TRƯỜNG BỘ KINH
(DÌGHA – NIKÀY A)
Tập IV
của THƯỢNG TỌA THÍCH MINH CHÂU