Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 4 (Năm 1972)

Tư Tưởng Số 4 (Năm 1972)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1972. Số trang: 96.

Chương 7: 7. Sinh Hoạt Văn Hóa (Trang 79 - 84)

SINH HOẠT    VĂN HÓA                                              
GIỚI THIỆU TRƯỜNG BỘ KINH III
TRẦN NGỌC NINH
 
LTS. Buổi lễ giời thiệu 2 tác phẩm :
1 - Trường Bộ Kinh III, Pali – Việt đối chiếu, do TT. Thích Minh Châu phiên dịch
2 – Kiến trúc Phật giáo Việt nam, do kiến trúc Sư
Nguyễn Bá Lăng biên soạn.
            Do Nha Tu thư và Sưu khảo Viện Đại học Vạn Hạnh ấn hành đã được tổ chức tại Câu lạc bộ Vạn Hạnh vào lúc 9 giờ sáng ngày 8-6-1972, dưới quyền
Chủ tọa của Cụ Mai Thọ Truyền, Quốc vụ Khanh đặc trách Văn hóa, cùng với sự tham dự của một số quí vị Thượng tọa, Đại đức Học giả, giáo sư và sinh viên.
Sau đây là bài giới thiệu cuốn TRƯỜNG BỘ KINH III do Bác sĩ Trần Ngọc Ninh phát biểu trong buổi lễ này.
Đức Phật không tự tay viết một câu nào để lại cho hậu thế cả. Trong 45 năm hành Đạo và giảng Đạo, Ngải đã, tùy theo những duyên khởi, nói cho các vị Tỳ kheo và Cư sĩ đi theo Ngài hiểu về “Giáo pháp thâm diệu, vinh quang, chưa từng bao giờ được nói tới trong loài người” mà Ngài đã “chứng ngô, lập định, khai phá, phân tích và làm cho minh bạch”
            Ngài không nói bằng tiếng Sanskrit, thánh  ngữ của người Bà la môn. Ngài dùng một thổ ngữ Ma kiệt đà để cho mọi người trong xứ đều hiểu. Và Ngài dạy rằng :
            “Hỡi các môn đồ, mỗi người các con phải học lời của Như Lai   

bằng chính ngôn ngữ của mình.”
(Cullavagga v.3,I)
            Trong kinh Đại bát Niết bản, có một đoạn theo đó chúng ta có thể hiểu rằng, ngay trong Giáo hội nguyên thủy, tất phải có những vị môn đồ của đức Phật đã ghi chép lại hằng ngày những lời giảng dạy của Ngài, và chính đức Phật cũng đã công nhận một bản văn với hai phần Kinh và Luật, để làm căn bản cho các Tỷ kheo học hỏi. Ngài khuyên nhủ các Tỷ kheo phải luôn luôn dựa vào Kinh và Luật để đối chiếu với các lời giảng của những đời sau.
            Các môn đồ của đức Phật đã hội lại ở Rajagriha ngay sau khi đức Phật nhập Niết bàn để kiểm điểm, bổ túc và sắp xếp lại tất cả những tài liệu nguyên thủy về đức Phật và Giáo Pháp mà Ngài đã đích thân truyền dạy. Đó là nguồn gốc của Tam tạng : Kinh, Luật, Luận, còn được giữ đúng theo như thế bởi Nam tông, nhưng đã được đổi thành Cửu pháp bởi Bắc tông. Các kinh sách Pàli được truyền bởi Nam tông ; các kinh sách Sans-krit được truyền bởi Bắc tông.
            Đạo Phật, từ Ấn độ, đã truyền bá trong một cõi đất lớn rộng, với nhiều dân tộc nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ở tất cả mọi nơi, theo đúng lời đức Phật đã dạy, Giáo pháp đã được nói lại không phải bằng tiếng Sanskrit hay tiếng Pàli mà bằng chính  ngôn ngữ của dân chúng trong những nước tiếp nhận Đạo Phật.
            Lịch sử của việc dịch kinh Phật sang chữ Hán chính là lịch sử của sự truyền bá đạo Phật ở Trung hoa và Việt nam. Bắt đầu dưới thời Hán Minh đế với hai vị Pháp sư gốc Ấn là Kasiape Ma-tanga và Dharmaranya, việc dịch này đã được tiếp tục bởi các vị sư Trung hoa, quan trọng nhất là Tao An, Fa hsien (Pháp Hiển) Hsuan tsang, (Huyền Trang) và Y tsing (Nghĩa Tịnh).
            Tất cả các vị này đều là những học giả uyên thâm và những triết gia lỗi lạc. Huyền Trang đã thảo luận về nội dung và ý nghĩa của từng chữ trong Kinh với các vị Đại sư Ấn đương thời ở Đại học Nalanda, để phân biệt những quan niệm của Phật giáo đối với những
Quan niệm tương cận của các triết gia Trung hoa, và nhất là đối với Đạo giáo của Lão Trang. Sau đó, Huyền Trang đặt ra những phép dịch Kinh sách, như sáu phép tìm nghĩa những phức tử, và năm loại tiếng không được dịch và phải phiên âm. Chính Ngài đã dịch và duyệt 1335 kinh sách từ Sanskrit ngữ sang Hoa ngữ. Nhìn trở lại cái công trình siêu việt ấy, chúng ta mới đo được cái công đức của Ngài Huyền Trang. Nhà học giả Hồ Thích nói rằng : “tính cách tương đối cụ tượng và thực tế của Hoa ngữ không thuận lợi cho sự phát triển những sự khúc mắc của siêu hình học và những sự biện biệt tinh vi của triết lý”; trong khi đó thì Sanskrit ngữ lại vô cùng phong phú về phương diện này, đến mức rằng “văn chương Ấn độ có nhiều danh từ triết học và tôn giáo hơn là cả ba ngôn ngữ Hi lạp, La tin và Đức cộng hợp lại.” Công nghiệp của Ngài Huyền Trang và các vị Đại sư đời Hán, Đường đã làm giàu cho Hoa ngữ cả mấy ngàn danh từ mới, và đã mở đường cho các triết gia Tống, Minh và các học giả đời Thanh trước tác và lập ngôn.
            Có một điều ít người biết rõ là trong công việc dịch Kinh này các nhà sư Giao chỉ đã góp một phần rất quan trọng. Ngay từ thế kỷ thứ III, một nhà sư gốc Sog-dian sinh ở Giao chỉ là Khang Thanh Hội đã theo các bản kinh tiếng Sanskrit mà dịch ra Hán ngữ trong khi ở Trung hoa chính quốc, vì thiếu những người biết cả hai thứ tiếng, Đạo Phật vẫn còn bị lẫn với Đạo Lão. Chính là vì lý do ấy mà sư Mâu Bác ở Giang nam đã đến Giao châu để học đạo. Vào thế kỷ thứ VII, Ngài Nghĩa Tịnh viết lại rằng nhiều nhà chiêm bái Trung hoa và chính Ngài nữa, đã ghé Giao châu trên đường thỉnh kinh ở Tây trúc, để tham luận về kinh nghĩa với các vị sư ở đây, là những người uyên bác, biết cả tiếng Phạm, tiếng Java và tiếng Côn luân.
            Chúng ta có thể tin rằng ngay từ thời ấy, đã có một số kinh Phật được dịch và giảng bằng cổ
việt ngữ. Nhưng cũng như ở Nam dương, các tài liệu cổ việt này đã tiêu tan hết. Ở Nam dương, khi ấy là Sri Vijaya, các bản kinh viết bằng cổ mã lai ngữ trên lá cỏ khô, đã bị đốt để nhúm bếp khi không còn ai biết đọc những chữ cổ nữa ; và nếu không có ba cái bia đá thuộc thế kỷ thứ VIII ở Palembang chứng nhận, thì cả một thời kỳ phát triển của Phật giáo chắc đã bị mất không còn dấu tích. Đó có lẽ đã là tình trạng của Việt nam sau thời Bắc thuộc.
            Hầu hết nếu không phải là tất cả các kinh đã được dịch sang tiếng Việt sau này đều là dịch sang tiếng Việt sau này đều là dịch theo các bản Hán văn. Tuy rằng các kinh chữ Hán đã được dịch từ Phạm ngữ một cách rất kỹ lưỡng và thận trọng, nhưng vẫn không tránh khỏi những sự sai lầm. Trong luận án Tiến sĩ Triết học của Thượng tọa Thích Minh Châu, Thượng tọa đã so sánh hai bản kinh Trung A hàm của Ấn độ Pàli và của Trung hoa, và nghiên cứu những điểm khác biệt giữa bản dịch và nguyên bản ; có những sự khác biệt thức là lớn. Các nhà học giả Tây phương cũng cho rằng nhiều bản kinh chữ Hán không trung thực bằng những bản kinh Tây tạng, khi so với những nguyên bản cổ nhất đã tìm thấy của Ấn độ và Tích lan. Những sự sai lầm tất nhiên đã phải chồng chất lên khi chúng ta chỉ được đọc lời của đức Phật qua những bản dịch của những bản dịch.
            Bởi vậy, khi Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất đề xướng việc phiên dịch Tam tạng pàli sang tiếng Việt nam và các học giả không phân biệt tôn giáo trong nước tất phải đón mừng và hưởng ứng. Đây là cái điều kiện chủ yếu để tiến đến sự thống nhất thực sự của Nam tông và Bắc tông dưới bóng của Đức Từ bi. Hơn nữa, những kinh điển này, đem lại những lời dạy của đức Phật lich sử, lại có những âm hượng vô cùng sâu sa về thân phận của con người Việt nam trong lúc này, và chắc chắn là sẽ góp một phần không nhỏ vào việc phá những chấp kiến đương thời đưa đến kỳ thi, chia rẽ, và bạo động, để đem lại một sự an lạc mới cho đại chúng.
Nhưng trong thực tế, thì đã gần như không có một sự hưởng ứng và nâng đỡ nào cả, đối với một công việc quan trọng và lớn lao như việc dịch kinh từ Pàli ngữ sang Việt ngữ này. Huyền Trang và Nghĩa Tịnh xưa đã làm được công việc phiên dịch kinh sách sang Hán tự vì đã có sự trợ giúp rất lớn của triều đình Đại Đường, đặt dưới quyền chỉ huy của hai vị Đại sư này cả một đội học giả người Hán và ngoại nhân, làm ngày đêm trong những tàng kinh các. Nhưng ở Việt nam thì việc dịch kinh Pàli chỉ có một người, làm việc đơn độc trong bóng tối của một căn phòng thuộc Đại học Vạn Hạnh, với những trách nhiệm đa đoan của một Viện trưởng ở giữa thế kỷ thứ 20. Thế mà nhờ sự kiên trì của người ấy, toàn bộ Digha Nikaya (Ttường Bộ kinh) đã được dịch ra, và từ đây, chúng ta đã có một khởi điểm vững chắc và lớn lao để xây dựng một nền Phật học tỉnh thành, và có lẽ cũng như ở Trung hoa đời Tống Minh, cả một nền triết lý đặc sắc của dân tộc Việt.
            Đây thực là một điều kỳ diệu. Trong Kinh Đại Bát Niết bàn (mà chúng ta có thể đọc được trong Trường Bộ Kinh III này, đặc biệt là những trang 130-134) có kể một nét về trạng thái trầm tĩnh của người xuất gia lúc thiền định, 500 cổ xe đi qua trước mặt mà không nghe tiếng, mưa gió sấm sét bên mình, với một quần chúng đông đảo tụ hội ở gần mà không thấy. Giữa khói lửa của chiến tranh, với tiếng bom nổ rung chuyển cả trái đất và lòng người ở ngay sát cạnh, mà Thượng tọa Viện trưởng, trong trạng thái thức tỉnh, tâm vẫn rung động với những sự đau khổ của đất nước nhưng thần trí vẫn lặng lẽ viết cho đến chữ cuối cùng của bộ Trường Kinh, mà không có một chữ nào là không trung thực với của đức Phật. Điều kỳ diệu này là chứng tích của một lòng tin vô bở bến và cái năng lực đảo hải di sơn của một người Việt nam con Phật chân thành.
  • Tập III của Trường Bộ Kinh gồm có 10 kinh mỗi kinh nói về một vấn  đề quan trọng hoặc về
giáo lý, hoặc về lịch sử xã hội hoặc về lịch sử tôn giáo. Nếu có môt chủ hướng biểu lộ ra được qua sự biệt tạp của các kinh, ta có thể nói rằng :
            Tập I, đặt đạo Phật đối diện với các tôn giáo và triết lý đương thời ;
            Tập II, cho biết thái độ của đức Phật trước các vấn đề xã hội ;
            Tập III, trình bày cái triết lý chủ yếu của đạo Phật như được giảng dạy bởi đức Thế Tôn.
            Những kinh Đại Duyên và Đại Niệm xứ đáng ở lập trường tư tưởng gần như thuần túy. Những kinh Đại Bổn, Đại thiện kiến, Đại điển tôn, Đại hội, hướng về một quần chúng khát khao sự giải thoát khỏi nhu cầu và đau khổ. Kinh Đại Bát Niết bàn, kể lại những ngày cuối cùng của đức Phật, không những là một tài liệu lịch sử quí báu, lại còn là một bản giáo lý yếu lược do chính đức Thế Tôn truyền lại cho môn đồ trước khi thị tịch, tất cả đều là những kinh căn bản cho những ai muốn hiểu về đạo Phật ở thời nguyên thủy.
            Thượng tọa Viện trưởng đã bảo tôi giới thiệu Trường Bộ kinh với các quý vị và với các bậc trí giả trong nước. Tôi hoan hỷ vâng lời, mà tự nghĩ rằng đối với các Phật tử thì không cần phải giới thiệu lời của đức Phật, mà đối với các học giả thì không cần phải giới thiệu một bản dịch của Thượng tọa Thích Minh Châu : Trường Bộ Kinh là một bộ sách không thể nào không có được , và có thì là để mà học mà niệm và suy tư từ đầu cho đến cuối.
TRẦN NGỌC NINH

 
/8
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »