NHỮNG VẤN ĐỀ
NGỮ HỌC
LÊ BÁ THẢO
Tại Tây phương sự tìm hiểu ngôn ngữ khởi nguyên từ trước Tây lịch tại Hy lạp và La mã. Tri thức này được gắn liền vào lãnh vực luận lý và siêu hình. Những cuộc tranh luận kéo dài hàng thế kỷ về sự qui xứng và bất qui xứng trong ngôn ngữ. Ngữ pháp cổ truyền là một phần tri thức về bản chất của ngoại giới cùng các thể chế xã hội.
Ngữ pháp dần dần được đào sâu trong việc tìm kiếm những loại tự trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở đây là Hu lạp và La tinh. Ngữ pháp được xem như có tính cách qui Phạm. Các học giả lấy những bản văn cổ làm mẫu mực hành văn.
Vào thế kỷ thứ mười chín, một số học giả Tây phương khảo cứu tiếng Phạn và tìm thấy một sự tương đồng kỳ lạ giữa ngôn ngữ này và La Hy. Từ đó những qui luật về ngữ học được đưa ra nhằm giải thích những biến trạng của các ngôn ngữ liên hệ này.
Ferdinand de Saussure, ngữ học gia Thụy sĩ được xem là ông tổ của nghành ngữ học hiện đại. Ngữ học không còn có tính cách qui phạm mà chỉ được xem là một khoa học nhằm giải thích và mô tả ngôn ngữ. Tiếng nói được xem là đối tượng của khoa này. Các ngôn ngữ đều có những cơ cấu riêng của nó và nhiệm vụ chính của các ngữ học gia là mô tả các cơ cấu đó một cách trung thực dựa trên những phương pháp khoa học. Saussure đã đưa ngữ học vào con đường mới. Ngữ học được chia làm hai ngành : ngữ học lịch sử và ngữ học mô tả, đúng theo cái tên của nó, mô tả ngôn ngữ ở giai đoạn tĩnh tức là ngôn ngữ ở một thời điểm nào đó.
Sự phát triển của ngành mô tả đã lôi kéo các nhà nhân chủng học vào con đường hoạt động tích cực. Các nhà ngữ học học kiêm nhân chủng học đổ xô đi khảo cứu ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Họ ghi lại tiếng nói của các dân tộc thiểu số một phần vì số tiếng nói đó sẽ mất đi theo thời gian. Kế đến là sự khảo cứu ngôn ngữ của các nhà truyền giáo. Một số hội ngữ học được lập thành. Đáng kể nhất là Viện Ngữ học Mùa Hè (Summer Instititute of Linguistics). Hai mục đích chính của viện này là dạy ngữ học cho các giáo sĩ, lúc đầu tại đại học Okalahoma vào dịp hè, và truyền bá về kinh thánh. Các giáo sĩ đi đến vùng có dân tộc thiểu số để tạo cho họ một thứ chữ viết và dịch kinh thánh qua chữ viết mới được thành lập này. Viện này hoạt động khắp thế giới, từ các vùng da đỏ ở Mỹ châu đến các vùng hẻo lánh ở Phi châu. Viện có hàng ngàn nhân viên và đã khảo cứu hằng trăm ngôn ngữ. Viện này hoạt động rất mạnh ở Việt nam. Hiện nay ở nước ta có khoảng gần năm mươi
tiếng nói của các dân tộc thiểu số. Viện ngữ học Mùa hè đã khai thác một ít. Tôi đã may mắn thấy được một số tài liệu do viện này biên khảo. Đây là một công trình rất công phu đòi hỏi một ngân quỹ lớn lao với khả năng và sự tận tụy của các nhà ngữ học của viện. Chúng tôi không biết Bộ Giáo dục có liên lạc với viện này để xin những tài liệu quí báu đó không ?
Ngữ học ở thời kỳ vừa được đề cập có thể xem là thế hệ Bloomfield. Ngữ học gia Bloomfield được xem là người sáng tạo ngữ học cấu thức (structural linguistics). Bloomfield trong cuốn sách nổi tiếng của ông Language, công nhận sự mô tả giải thích về ngữ học có thể xây trên tâm cử thuyết, theo đó các hoạt động tâm sinh lý đều có thể giải thích bởi mô thức “kích thích phản ứng”. Bloomfield xem ngữ ý học (semantics) là thứ yếu vì sự thiếu chính xác và thiếu khoa học trong việc định nghĩa từ ngữ. Do đó ngữ ý học cấu thức phân hạn rõ rệt các cấp (level) trong hệ thống ngữ học.
Ngữ học cấu thức được phát triển với lối áp dụng phương pháp cấu tử tương nhập (Immediate Constituent, gọi tắt là I.C.) vào ngữ pháp học. Trong phần cú pháp cách phân tự loại (parts of speech) không còn xây trên những định nghĩa như “danh từ là tiếng chỉ định đồ vật…” mà trên thứ tự vị trí của các ngữ vị trong một ngữ tuyến. Ngữ vị được sắp xếp theo từng loại nếu cùng một đặc tính là có thể thay thế nhau trong một ngữ tuyến. Đấy là phương pháp mà Giáo sư Tiến sĩ Lê Văn Lý đã áp dụng trong cuốn Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam (Tủ sách Đại học, Bộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu).
Ngữ học cấu thức đã ngự trị một thời gian khá lâu. Mãi đến đầu năm 1950 ngữ học bắt đầu chuyển mình. Những nghi
vấn về giá trị của các lý thuyết khảo cứu ngữ học được nêu lên. Ngữ học ở giai đoạn này được đánh thức bởi một ngôi sao chói. Đó là Avram Noam Chomsky.
Sau một thời gian đi tìm các dữ kiện, ngữ học dừng bước để khai thác các dữ kiện đã có. Ngữ học gia đòi hỏi một lý thuyết về ngữ pháp phản ảnh được khả năng ngôn ngữ của loài người. Họ đề nghị ngữ pháp đặt căn bản trên lý thuyết này phải được hệ thống hóa (formalized) bằng một số luật hữu hạn để hình thành (generate vô số các câu. Chomsky ví ngữ pháp như một cái máy sản xuất vô số các câu và nó có thể hiện khả năng ngôn ngữ của người nói (competence of native spea-ker). Sự biện luận một khả năng ngôn ngữ đã đưa Chomsky vào lãnh vực duy lý. Theo Chomsky, khả năng ngôn ngữ không là sản phẩm đắc thủ mà là một khả năng bẩm sinh. Chomsky cho rằng một số ít câu nói có thể lệch ngữ pháp ; đó là lý do sai lệch trong lãnh vực thể hiện (performance) qua sự lệch lạc của các hoạt động chú ý, ký ức…v.v của cơ quan tâm lý về phương diện ngôn ngữ.
Như đã trình bày, một ngữ pháp dựa trên một lý thuyết được xem là đầy đủ khi có thể tạo lập tất cả và chỉ tất cả những câu nói của một ngôn ngữ. Chomsky đã lần lượt trình bày ba mô thức ngữ pháp để tìm một lý thuyết ngữ học đầy đủ : mô thức Markov, mô thức cấu thức (phrase-structure model) và mô thức chuyển hóa (transformational model).
Trong syntactic Structures, Chomsky trước hết trình bày một mô thức ngữ pháp đơn giản nhất, đó là mô thức Markov. Một ngữ pháp như mô thức Markov có thể tạo ra vô hạn các câu nói bằng cách áp dụng một số hữu hạn các định luật hồi chuyển. Mô thức ngữ pháp này được ví như một cái máy di
chuyển qua từng giai đoạn. Giai đoạn đầu là điều kiện hạn chế của giai đoạn sau, cứ kế tiếp như vậy cho đến giai đoạn chót. Mô thức này còn cho phép ghép thêm một phần tử khác ở một giai đoạn đang qua hay giai đoạn trước. Chomsky trình bày như sau (1957, tr. 19) :
(Như sách )
Khuyết điểm của mô thức Markov là không thể giải thích được mối tương quan giữa các ngữ vị không đứng cạnh nhau. Thí dụ : “Những điều mà anh phê phán về tôi đều sai lạc”.
Mô thức thứ hai được đan cử là ngữ pháp cấu thức xây trên lý thuyết phân tích các cấu tử tương nhập (L.C.). Ngữ học cấu thức không đưa ra một giải thích đầy đủ và đơn giản về sự liên quan giữa thu động cách và hành động cách, hay những trường hợp đổi vị trí của ngữ vị như :
-
Nó đanh tan giặc.
-
Nó đánh giặc tan.
-
Nó ăn hết bánh.
-
Nó ăn bánh hết.
Hơn nữa ngữ pháp cấu thức không giải thích đầy đủ về các trường hợp mơ hồ như :
Câu này có thể được hiểu theo hai cách : (a) Tuệ thích được người ta chỉ trích mình, hay (b) Tuệ thích được chỉ trích người khác. Ngữ pháp cấu thức chỉ giải quyết vấn đề này như :
Tuệ thích được chỉ trích
Cùng với những cuốn sách xuất bản sau này, Chomsky đã đưa ra những trường hợp mà theo ông không có một ngữ pháp nào giải thích rõ ràng.
Thí dụ :
John is easy to please
John is eager to please
Theo Chomsky lối mô tả này không cho ta một giải thích đầy đủ và sự tương quan sâu xa của các ngữ vị. Trong cuốn Current Issues In Linguistics Chomsky viết (tr. 29) : “Một lý thuyết ngữ pháp không mô tả được cơ cấu loại này sẽ không thể đạt được mức độ chính xác đầy đủ trong việc mô tả (A theory of grammar that does not allow structural descriptions of this sort cannot achieve the level of descriptive adequacy.)
Trong đường hướng đi tìm một lý thuyết ngữ pháp đạt được mức độ mô tả đầy đủ, Chomsky đưa ngữ học vào con đường mới lạ. Lối phân tích của ngữ pháp chuyển hóa được coi như đầy đủ trong việc mô tả ngôn ngữ. Ông viết tiếp : “Mô thức chuyển hóa làm cho ngữ pháp thích hợp trong sự mô tả cơ cấu loại này, vì vậy, ít nhất trong trường hợp này nó cũng đạt được mức độ mô tả đầy đủ.” (The transformational model does make grammars available that can supply structural information of this sort, and therefore can, in this case at least, achieve the level of descriptive adequacy).
Ngữ pháp cấu thức được áp dụng một phần trong lý thuyết chuyển hóa. Như chúng ta đã thấy, ngữ pháp cấu thức không phải là một phát minh ngữ học của Chomsky. Công trình chính của Chomsky là hệ thống hóa (formalize) các định luật của ngữ pháp cấu thức. Trong giai đoạn đầu của sự phát triển ngữ pháp chuyển hóa ta thấy Chomsky và Harris không mấy khác nhau. Chomsky quan niệm ngôn ngữ gồm một số những nguyên cú (kernel sentences) từ đó vô số những câu mới được thành lập theo phương pháp chuyển hóa. Thí dụ :
Và : - Duyệt phạt Tri.
Luật chuyển hóa có thể được lập như sau trong Việt ngữ : Luật chuyển hóa thụ động :
X1 + X2 + X3 X3 + bị + X1 + X2
Ngữ pháp chuyển hóa ở giai đoạn đầu được mô tả theo đồ biều sau :
THÀNH PHẦN THÀNH PHẦN THÀNH PHẦN
CẤU THỨC CHUYỂN HÓA ÂM VỊ
Mô thức này được các nhà ngữ học gọi là “Syntactic Model” vì nó được giới thiệu đầu tiên trong cuốn Syntactic Structures. Sau này vào năm 1965 Chomsky cho xuất bản cuốn Aspects of the Theory of Syntax. Cuốn sách này được coi là tiếng nói tiêu biểu cho thế hệ Chomsky. Trong cuốn sách này Chomsky đã đưa ra một lý thuyết về ngữ pháp chuyển hóa được sửa đổi lại và thêm phần ngữ ý học (semantics). Chomsky đặt vấn đề tại sao ta không chấp nhận những câu nói được xem là trái tai (deviant sentences) như :
Cục đá yêu mến gia đình tôi.
Tôi cam trái hái.
Căn nhà học bài.
Trái lại mọi người Việt đều chấp nhận các câu như :
Như đã trình bày trong Syntactic Structures, Chomsky cho rằng các câu thuộc thể thụ động là những câu mới được tạo thành qua sự chuyển hóa từ những nguyên cú. Trong giai đoạn này, Chomsky không còn đặt vấn đề nghuyên cú và tạo cú (deri-vative sentences). Chomsky cho rằng câu ở thụ động cách và câu ở hành động cách đều do sự chọn lựa ở kết cấu bề sâu. Do đó luật chuyển hóa đóng vai trò quan trọng trong việc mang một pháp chuyển hóa ở giai đoạn sau này thường được ám chỉ là “Aspects Model.”
Chúng ta có thể mô tả Aspects Model theo đồ biểu sau :
PHẦN KẾT
CĂN CẤU THÀNH PHẦN
BẢN BỀ NGỮ Ý
SÂU
THÀNH PHẦN
CÚ PHÁP PHẦN KẾT
CHUYỂN CẤU THÀNH PHẦN
HÓA BỀ ÂM VỊ
MẶT
Phần căn bản trong Aspects Model có phần khác với thành phần cấu thức trong Syntactic Model. Trong phần này ta thấy có những luật như luật phân hạng mục (subca tegorization ru-le) và luật tự nguyện (lexical rule). Luật phân hạng mục còn được chia làm : phân hạng mục hạn chế (strict subcategorizati-on rule) và luật chọn lựa (selectional rule.)
Phần chuyển hóa gồm những luật chuyển hóa qua những giai đoạn như đảo vị (permutation), trừ khử (deletion). v.v…
Thành phần ngữ ý nhằm giải thích ý nghĩa của câu. Thành phần âm vị qui định hình thức âm vị của câu ở kết cấu bề mặt khi câu này được chuyển hóa lên từ kết cấu bề sâu.
Theo Chomsky sự áp dụng hữu ích nhất của ngữ pháp chuyển hóa là giải quyết những trường hợp mơ hồ của một câu và giúp hiểu được sự khác biệt của những câu đồng dạng.
Sau khi xuất bản hai cuốn Syntactic Structure và Aspects of the Theory of Syntax, Chomsky được xem là mục tiêu của những chỉ trích kịch liệt nhất và cũng là đối tượng được tôn sung nhất. Sự chỉ trích về lý thuyết ngữ học của Chomsky có thể được chia ra làm hai khuynh hướng : tích cực và tiêu cực.
Khuynh hướng tích cực kịch liệt đả kích lối giải thích bằng ngữ pháp chuyển hóa và cho rằng khái niệm về kết cấu bề sâu về kết cấu bề mặt là sản phẩm khôi hài của các ngữ học gia thuộc phái chuyển hóa. Sự giải thích có tính cách duy lý của Chomsky về khả năng ngôn ngữ và các định luật chuyển hóa chỉ là một giả tưởng.
Trong Aspects of the Theory of Syntax (tr. 22-24) Chomsky đưa ra hai câu thí dụ : (1) I persuaded John to leave ( tôi thuyết phục John đi) và (2) I expected John to leave. (Tôi mong John đi). Ông cho rằng : “Ngay cả sự cân nhắc tỉ mỉ nhất cũng không thể chứng tỏ cho ông biết sự khác biệt về cơ cấu ngữ pháp giữa hai câu này.” Chomsky tiếp : “Thật ra cho đến nay tôi chưa thấy một ngữ pháp Anh nào có thể chỉ rõ sự dị biệt căn bản về hai câu này. (In fact, so far as I have been able to discover, no English grammar has pointed out the fundamental distinction between these two construction).
Giáo sư Hammarstrom trong các bài diễn thuyết tại Úc đại lợi đã chỉ trích Chomsky rất khe khắt. Ông đã dẫn lượt những giải thích của Chomsky và Halle trong cuốn The Sound Patter of English và cho rằng “đó là những cái phi lý của ngữ học” the nonsence of linguistics). Phê bình sự thách đố trên của Chomsky, giáo sư Hammarstrom trong một cuộc diễn thuyết tại Đại học Monash đã viết : “Chúng ta hãy trở lại với luận cứ của Chomsky cho rằng không một ngữ pháp nào có thể giải thích được sự dị biệt giữa câu (1) và (2) và ghi rằng ngay cả trong các cuốn sách do Chomsky xuất bản vào năm 1955 và 1962 cũng không thể giải thích được. Thật là một điều lạ lung khi lời nói đó lại là của một ngữ học gia. (Đây là thí dụ điển hình về kiến thức nông cạn của Chomsky về ngữ học của giai đoạn trước).
Tôi nghĩ rằng hầu hết các ngữ pháp Anh đều có thể giải thích rành mạch sự dị biệt này.” (Let us now return to Chomsky’s statement that no grammar has pointed out the defference bet-ween sentences (1) anh (2) anh that in publications of 1955 and 1962 he had himself failed to note it. This is an amazing statement to come from a linguist (it ia actually just another example of Chomsky poor knowledge of earlier linguistics). I would have thought most English grammars were good enough to give a clear understanding about the differenc under consideration).
Giáo sư John Lyons thuộc viện đại học Edinburgh, Anh quốc, trong cuốn sách Chomsky do ông viết tuy không đồng ý với lý thuyết ngữ học của Chomsky nhưng ông không gay gắt : “Dù đúng hay sai, lý thuyết ngữ pháp của Chomsky được xem là tích cực nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất” (Right or wrong, Chomsky’s theory of grammar is undoubtedly the most dynamic and influential).
Thật vậy Chomsky đã gây ảnh hưởng rất nhiều trong các lý thuyết ngữ học hiện đại. Về âm vị học, chúng ta thấy không có sự khác biệt mấy về lý thuyết các ngữ học gia thuộc nhóm ngữ học chuyển hóa. Các cấu thức của âm thanh trong các ngôn ngữ được giải thích bằng những luật âm vị và những luật này được hệ thống hóa. Nói một cách khác các luật này phải được áp dụng theo một thứ tự đã được qui định. Sau đây là một thí dụ lấy ở ngôn ngữ Phần lan trong cuốn sách Introduc-tion to Phonological Theory của Robert T. Harms tr. 48-49) :
-
e i trong vị trí --#
-
t s trong vị trí --i
-
t d trong vị trí --V (i) C C #
-
à zero trong vị trí --i(khi <i> là số nhiều
Những âm luật này được đọc như sau :
-
Âm e đổi thành âm i khi ở vị trí cuối cùng.
-
Âm t đổi thành âm s khi đứng trước âm i.
-
Âm t đổi thành âm d khi đứng trước một chuổi âm
V (i) c - C bắt đầu bằng một nguyên âm, có hay không có âm i theo sau,
Áp dụng các luật âm vị này vào các tiềm cơ cấu (under-lying forms) ta có : (Sự hòa hợp nguyên âm không được đề cập ở đây).
Katessa katissa mataissa mataina Katina
Kate in the in the in rotte as rotten as
Hand hand hands (ones) (ones) hands
RULE
-
Kati -- -- -- -- --
-
Kasi -- kasissa -- -- kasina
-
-- kadessa -- madaissa -- --
-
-- -- -- madissa matina --
Lý thuyết chuyển hóa về phương diện tổng quát đã được đào sâu và từ đó những lý thuyết khác dựa vào đó phát triển. Như đã trình bày, Chomsky cùng một số ngữ học gia khác cho rằng thành phần cú pháp (syntactic compoment) là thành phần qui định cơ cấu của một câu còn thành phần ngữ ý chỉ đóng vai trò giải thích. Do đó trong Aspects of the Theory of Syntax ngoài sự thay đổi luật cấu thức (phrase structure rules) thành luật hạng mục (categorical rules) còn có thêm luật tự nguyên. Luật tự nguyên (lexicon) gồm những biểu hiệu mang tính chất cú pháp và ngữ ý. Thí dụ (tr. 65) :
-
NP --- (Det) N (S)
-
N --- ( + N, +_ Common)
-
(+ Common) (+_ Count)
-
(- Common) (+_ Animate)
-
(+ Animate) (+_ Human)
-
(- Count) (+_ Abstract)
Do đó ở kết cấu bề sâu danh từ “mèo” có dạng như sau :
NP
N
Mèo
< + N >
< + Animate >
< - Human >
Nếu áp dụng đúng luật như đã thiết lập, chúng ta sẽ thấy không còn có những câu trái tai như : Cuốn sách học giỏi. hay : Tri ba thương.
Một số ngữ học gia khác đã tranh luận rằng thành phần ngữ ý là thành phần cốt yếu qui định cơ cấu của một câu và do đó nó không đóng vai trò thứ yếu là giải thích như Choms-ky đả trình bày. Các ngữ học gia thuộc nhóm “ly khai” này đưa ra một lý thuyết lấy ngữ ý làm căn bản và nổ lực đào sâu phần khảo cứu về ngữ ý hầu chứng tỏ có một sự phổ quát (universals) trong các ngôn ngữ. Hầu hết những bài khảo cứu đều dùng Anh ngữ làm đối tượng. Các nhà ngữ học đề cập ở đây là : Charles J. Fillmore, John M. Anderson, J. D. Mc Cawley, G. Lakoff M. Halliday…
Fillmore đã đưa ra một lý thuyết ngữ pháp xây trên ngữ ý mà ta có thể gọi là “ ngữ pháp thể cách” (case grammar). Theo lý thuyết này những ý niệm về chủ từ và túc từ không còn là vấn đề. Yếu tố chính qui định cơ cấu của một câu nói là thể cách của một động từ. Ta thử lấy thí dụ sau đây :
-
Tri mở cái cửa bằng cái chìa khóa.
-
Cái cửa mở.
(9) Cái chìa khóa mở cửa.
Ta thấy động từ mở trong ba câu trên bao hàm những thành phần sau đây : Một tác nhân X (Tri) mở vật bị tác động Y (Cửa) với một dụng cụ K (chìa khóa). Do đó ở kết cấu bề sâu (deep structure) động từ mở gồm có các thể cách : tác nhân (agentive), thụ vật (objective) và phương cách (instrumental).
Các thể cách này được viết tắt là : A, O, I.
Ta có thể trình bày bày động từ mở như sau :
Mở ( + -- O (I) (A) )
Các dấu hiệu trong ngoặc có nghĩa là ở kết cấu bề mặt, có thể không có danh từ thể hiện. Thí dụ ở bề mặt ta có hình thức sau đây với những câu có động từ mở :
-
Tôi mở cái cửa bằng cái chìa khóa,
( -- O, I, A)
-
Tôi mở cái cửa.
( -- O, A)
-
Cái cửa mở.
( -- O )
Kết cấu bề sâu : (1)
(Như sách)
Kết cấu bề mặt của câu (1) : qua giai đoạn chuyển hóa ta có
Theo chiều hướng khảo cứu này Fillmore đã đưa ra sáu thể cách. Chúng tôi mong rằng trong một bài khác chúng tôi có thể trình bày chi tiết hơn các thể cách này. Sự trình bày rất sơ lược trên chỉ cốt giới thiệu một khía cạnh mới trong các lý thuyết ngữ học đương thời.
Sự tiến triển của ngữ học đã vượt hẳn giới hạn thuần túy của nó và ngày này ngữ học đã đóng một vai trò quan trọng trong các khoa học khác. Ở một vài đại học trên thế giới ngành ngữ học được xếp vào phân khoa khoa học như ở Đại học Alberta ở Gia nã đại. Nhờ sự tiến bộ nhanh chóng và vững vàng của ngữ học một số các ngành học mới ra đời như ngữ học xã hội (sociolinguistics), ngữ tâm học (psycholinguistics), ngữ toán học (mathematical linguistics), ngữ học computer (computational linguistics) và địa dư ngữ học (linguistic geography).
Để kết luận, tuy các ngữ học gia với những lý thuyết khác nhau không đồng ý về một số vấn đề ngữ học nhưng nhờ đó ngữ học càng ngày càng được đào sâu và chiếm một địa vị quan trọng. Như giáo sư John Lyons đã nói về ngữ pháp chuyển hóa của Chomsky : “Dù rằng nổ lực của Chomsky nhằm luận lý hóa (formalized) các quan niệm được áp dụng trong việc phân tích ngôn ngữ bị thất bại, nhưng chính nổ lực ấy sẽ giúp chúng ta thấm nhuần được các quan niệm này, và theo chiều hướng đó “cuộc cách mạng Chomsky” có thể nói là thành công. (even if the attempt he has made to formalize the concepts em-ployed in the analysis of languages our understanding of these concepts and that in this respect the “Chomsky an revolution” cannot but be successful).
SÁCH THAM KHẢO
1- Bach, Emmon, and Robert T. Harms (eds), 1968. Universals in Linguistics Theory. New York : Holt, Rinehart and Winston.
2- Chomsky, Noam, 1957. Syntactic Structures. The Hague : Mouton and Company.
-nt- 1964. Current Issues in Linguistic Theory. The Hague : Mouton and Company.
-nt- 1965. Aspects of the Theory of Syntax. Cambridge, Massachusetts : M. I. T. Press.
-nt- 1966 Cartesian Linguistics. New York : Harper and Row.
-nt- and Morris Halle, 1968. The Sound Pattern of English. New York : Haper and Row.
3 – Fodor, J. A., J.J. Katz, (eds), 1964. The Structure of Language : Readings in the Philosophy of Language. Englewood Cliffs, New Jersey : Prentice Hall.
4 – Jacobs, Roderick A., and Peter S. Rosenbaum, 1968. English Transformational Grammar. Waltham, Mass. Ginn.
5 – Harm, Robert T., 1968. Introduction To Phonological Theory. Englewood Cliffs, New Jersey : Prentice Hall.
6 – Harris, Zellig, 1951. Methods in Structural Linguistics. Chicago : University of Chicago Press.
7 – Lê Văn Lý, 1968. Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam. Saigon : Bộ Giáo dục.
8 – Gleason, H.A., 1961. An Introduction to Descriptive Lin-guistics. 2nd revised ed., New York : Holt, Rinehart & Winston.
9 – Lyons, John. 1968. Introduction to Theoretical Linguis-tics. London and New York : Cambridge University Press.
-nt- 1970. Chomsky. Britain : Fontana Collins ;
LÊ BÁ THẢO