Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 4 (Năm 1972)

Tư Tưởng Số 4 (Năm 1972)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1972. Số trang: 96.

Chương 2: 2. Dịch Lại Mấy Đoạn Văn Trong Cương Mục Về Tình Trạng Phật Giáo Thời Hậu Lệ (Trang 17 - 28)

DỊCH LẠI MẤY ĐOẠN
VĂN TRONG CƯƠNG
MỤC VỀ TÌNH TRẠNG
PHẬT GIÁO THỜI HẬU LÊ
 
LÊ MẠNH THÁT
(Viết để tưởng niệm ngày giỗ ông Quí Thiện)
 
 
Trong bản phụ lục cho bài nghiên cứu Le Bouddhisme en Annam dès origins au XIIIè siècle, Trần Văn Giáp đã cho trích và tóm tắt những đoạn văn trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thiên Chính biên, liên quan đến những sự việc Phật giáo từ thời nhà Đinh cho đến cuối đời Lê Trung Hưng. Tuy đây là một cố gắng đáng được noi theo, ông đã không làm nó một cách nghiêm chỉnh và chính xác, nhất là trong những đoạn văn về tình trạng Phật giáo nước ta vào thời Hậu Lê (1428-1527). Chẳng hạn, về cái chết của nhà điêu khắc Cao Sư Đãng, ông đã tóm tắt thành, “Đãng bị kết án tử hình vì đã chỉ trích Phật
giáo”  trong khi đó, như người đọc sẽ có dịp thấy dưới đây, cái chuyện “đã chỉ trích” này là hoàn toàn một sự hiểu sai của ông. Không những thế, ông lại dịch chữ Hán một cách sai lầm và cẩu thả. Thí dụ, cái câu, “Sắc thiên hạ bốc thệ đạo thích chi nhân, vô đắc dự cung nhân quan thông”, được ông phỏng dịch thành, “I’emperrreur interdit aux devins, sorciers et religi eux d’entretenir des ralations avec les habitans du palais. Điều đáng chú ý là, ngay cả cái quyển Hán việt từ điển của Đào Duy Anh cũng cho biết là, cung nhân và cung nữ, là file-d’honner chứ khoan nói chi đến những bộ từ điển Trung quốc to tát khác, mà nếu tìm đến thì cũng cung hiến những mẫu tin tương tự. Lấy cuốn Từ hải, dần bộ, tờ 52d8-10. Về chữ cung nhân, nó cho ta hai nghĩa, mà nghĩa thứ nhất, tức nghĩa chính vẫn là cung nữ, như Đào Duy Anh đã viết (2). Những cách và đọc tầm bậy và cẩu thả này của Trần Văn Giáp, dĩ nhiên chúng tôi không phải là người đàu tiên trong việc vạch ra chúng. Gần bốn mươi năm trước đây, Ga xít pác don đã có dịp nêu chúng lên trong liên hệ với cái câu khá ổn của bản Thuyền uyển tập anh, “thời đường Bảo lịch nhị niên bính ngọ chính nguyệt thập nhị nhật nhị thập bát niên, hựu chí Khai hựu đinh sửu nhị thập tứ niên”… (3) Việc chúng tôi vạch ra ở đây do đó không phải chỉ nhằm đến những sai lầm tự thân kiểu vừa thấy, ngược lại, chúng tôi nhằm đến những ảnh hưởng, mà những sai lầm ấy đã tạo nên và dung dưỡng.
            Hậu quả đầu tiên của những ảnh hưởng ấy dĩ nhiên là những mô tả của thầy Mật Thể về tình trạng Phật giáo thời Hậu Lê. Trong cuốn Việt nam Phật giáo sử lược, về cái câu, “Sắc
Thiên hạ bốc thệ đạo thích chi  nhân, vô đắc dự cung nhân quan thông, Thầy viết : “Năm Quang Thuận nguyên niên (1460 – Lê Thánh Tôn) sắc cấm các Tăng đạo không được qua lại với nhân dân trong thành”, rồi vài dòng sau đó Thầy bàn thêm : “Sùng tín mà đến nỗi Tăng đồ bị cấm không được giao thiệp với dân”…(4) Mặc dù cuối sách Thầy có liệt Khâm định Việt sử thông giám cương mục như một trong những sách tham khảo, Thầy chắc đã không đọc cuốn sách được liệt đây, bởi vì nếu đã đọc nói thì Thầy làm sao mà có thể dịch hai chữ cung nhân thành, ra “nhân dân trong thành” được ? Cung nhân và dân trong thành là hai thứ khá khác nhau, nếu không là khác nhau một trời một vực. Nếu thế, thì cái chữ “nhân dân trong thành” đã từ đâu đến ? May mắn là chúng ta đã không cần phải đi tìm đâu cho xa, bởi vì cái chữ ấy ngó từa tựa với cái chữ les habi-tants du palais của Trần Văn Giáp, mà chắc một anh không rành Pháp văn nào đó đã dịch cho Thầy thành “phân dân trong thành.”Quả thật sai một ly đi một dặm là vậy. Từ cung nhân, ta có les habitants du palais của Trần Văn Giáp, rồi từ  les habitants du palais của Trần Văn Giáp, rồi  từ les habitans du phalais ta có “nhân dân trong thành” của thầy Mât Thể :
Điểm đáng nói hơn nữa là, với  một sắc dụ quan trọng như sắc dụ cấm Tăng đạo không được giao thiệp với “dân trong thành” như thầy Mật Thể hiểu, Thầy đã không màng kiểm soát lại xem những văn cú do Thầy đọc hay do Trần Văn Giáp dịch có đúng hay không           Trái lại, Thầy lại phóng đại cái sai lầm ấy bằng cách bình giải là : “Tăng dồ bị cấm khônđược giao tiếp với dân|” Đây thật là điều khốn nạn.
            Chúng tôi do đó đề nghị địch lại những đoạn văn trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục liên quan đế tình trạng
Phật giáo nước ta dưới thời Hậu Lê và thử so sánh một vài sự việc Phật giáo thường coi như thời “toàn thịnh” của Phật giáo Việt nam, trước nhằm đặt lại địa vị của nền Phật giáo thời Hậu Lê và sau nhằm cho thấy một phần nào quá trình phát triển của nền Phật giáo ấy như thế nào qua lịch sử. Về nguyên bản chúng tôi dùng bản ảnh ấn Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Hoàng Lý Lục xuất bản ở Đài bắc vào năm 1969.  Về dịch bản chúng tôi được bảo là Viện sử học ở Hà nội đã cho dịch và xuất bản Cương mục thành 20 tập vào những năm 1957 và 1960, nhưng cho đến nay chúng tôi vẫn chưa bao giờ thấy được bản dịch này. Cũng cần nói thêm là, ở đây chúng tôi chỉ nói đến chuyện dịch lại, bởi vì không một nỗ lực đã được thực hiện nhằm kiểm chứng những ngày tháng cũng như sự việc do Cương mục báo cáo với những tài liệu lịch sử trước nó như Đại việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, Đại việt sử ký bản kỷ tục biên của Lê Hy và Phạm Công Trứ, Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ và Đại việt thông sử của Lê Quí Đôn v.v…, một sự kiểm chứng rất cần thiết, nếu chúng ta muốn đạt đến một sự chính xác lịch sử. Việc này chúng tôi sẽ làm ở một dịp khác, khi tài liệu và cơ hội cho phép, nhất là khi ngày tháng và sự việc của Cương mục đôi lúc khá sai chạy với những tư liệu vừa kể.
           
I
            Cương mục, chính biên, quyển 13 tờ 3b6-4a6 :
            “Bình định vương nhị niên, Minh Vĩnh lạc thập thất niên.
            Xuân nhị nguyệt, Minh ban thư tịch vu phủ châu huyện học hựu mạng tăng truyền Phật kinh.
Tiên thị Minh đế, ngự định Ngũ kinh Tứ thơ cập Tính lý đại toàn thơ thành, chiếu ban cấp trung ngoại, dụ Lễ bộ viết. Thánh hiền tinh nghĩa tất cụ u thử, thành học giả chí căn bổn giả, kỳ dĩ Trẩm ý,  hiểu thị học giả, linh tận tâm giảng cứu phi đồ, thị vi cụ văn giả. Chỉ thị, mạng Giám sinh Đường Nghĩa nam hành, ban cấp ư phủ châu huyện nho học. Hưu mạng tăng truyền Phật kinh ư tạng đạo ty. Phàm ngã quốc tùng Trần dĩ tích thư tiên sự chí, thư tống Kim lăn”.
            “Bình Định Vương năm thứ hai, tức Minh Vĩnh lạc năm thứ 17. (1419).
            Tháng hai mùa xuân, nhà Minh ban sách vở cho những học viện ở phủ, châu và huyện ; lại sai các thầy tu truyền kinh Phật. Trước đó, vua nhà Minh đã định thành Năm kinh, Bốn sách và Tinh lý đại toàn, nên ra chiếu ban cấp ở Trung quốc cũng như ngoại vức, bảo với Lễ bộ rằng. “Nghĩa lý cốt yếu của Thánh hiền đầy đủ trong những sách đó, chúng là cỗi rễ của những người học thực sự vậy. Hãy vì ý Trẩm mà hiều bày cho học giả, khiến họ hết lòng giảng cứu chớ khinh, coi như là đầy đủ văn sách vậy.” Rồi, sai giám sinh Đường Nghĩa đi về nam, ban cấp chúng cho những nhà học nho giáo ở phủ, châu và huyện. Lại sai các tăng truyền kinh Phật ở ty Tăng đạo. Đại khái thì những sự tích sách vở nước ta từ đời Trần về trước đều bị thu và gởi về Kim lăng hết”.
            Cương mục, chính biên., quyển 15 tờ 24a2-4 :
            (Thuận thiên nhị niên) lục nguyệt khảo thí Tăng đạo. Sắc chư tăng đạo, hữu thông kinh điễn, cần giới hạnh, tựu tỉnh
Đường khảo thí. Trúng giả cấp thiếp vi tăng, dư hoàn tục”.
            “Thuận thiên năm thứ hai (1429), tháng sáu, khảo thí tăng đạo. Ra lịnh các tăng đạo, những ai hiểu biết kinh điển, không sơ suất giới hạnh, thì đến tỉnh đường để thi.. Người trúng thì sẽ được cấp giấy làm tăng, ngoài ra thì phải hoàn tục”.
            Cương mục, cc., quyển 16 tờ 6b7-7b1 :
            (Thiện bình nguyên niên). Hạ tứ nguyệt hạn, nghênh Pháp vân tự Phật nghệ Đông kinh đảo.
            Thần thiên cửu bất vũ, mạng nghênh Pháp vân tự Phật nghệ Đông kinh kỷ đảo, ngôn quan Nguyễn Thiên Hựu tấu viết, Bệ hạ tu đức lục oan tù, xuất cung nữ, nhị thiên bất vũ, thỉnh trảm thần dĩ tạ thiên ; hạ sớ nhập. Lê Sát ố kỳ ngôn. Trực hội hữu tiểu vũ. Nãi hô Thiên Hựu vân chi viết, sạ mộ phi tiểu vụ gia ? Hựu hữu Thanh hóa, Tuyên quan đẳng lộ tấu báo đắc vũ thích chí, tính dĩ thị Thiên Hựu. Thiên Hựu vô dĩ đối”.
            “Thiệu bình năm thứ nhất (1443). Tháng tư mùa hạ có hạn nghênh Phật chùa Pháp vân về Đông kinh để cầu đảo. Lúc bấy giờ, trời lâu không mưa, sai nghênh Phật chùa Pháp vân về Đông kinh để kỳ đảo. Vua nghe nói quan Nguyễn Thiên Hựu tâu là, “Bệ hạ đã tu đức, biết đến những kẻ bị tù oan ức, cho về những cung nữ, mà trời cũng không mưa, xin hãy giết thần, để tạ tội với trời”, thì ra lệnh gọi vào. Lê Sát ghét lời tâu ấy. Ngay sau đó thì có mưa nhỏ. Bèn gọi Thiên Hựu, hỏi rằng, “chiều hôm qua không có mưa nhỏ chăng ?”. Lại các lộ Thanh hóa, Tuyên quang v.v… tâu về là có mưa, bèn đi đến và đưa cho Thiên Hựu coi. Thiên Hựu không có gì đạp lại.
            Cương mục, cc., quyển 16 tờ 11b4-12a5 :
            (Thiện bình nguyên niên, ngũ tuyệt). Tu báo thiên tự sát
tượng nhân Cao Sư Đãng.
            Thần điêu tất tác tượng khỉ Báo thiên tự, Sư Đãng lao ư dịch, tư ngữ viết, Thiên tử bất đức dĩ trí hạn, đại thần thọ lộ, cử dụng vô công, hữu hà thiện nhi nịnh Phật hồ ? Nhân dĩ cáo Lê Sát nộ hạ Sư Đãng, lại thẩm hình Nguyễn Đình Lịch nghỉ, Sư Đãng yêu vọng đáng trảm. Nguyễn Thiên Hựu, Bùi Cẩm Hồ tấu khất giảm tử. Đế tương tùng chi. Sát viết, sơ Nguyễn Đức Minh, tạo nặc danh thơ, đáng lục, dĩ tuần thính Thiên Hựu ngôn, mạt giảm. Kim phục xá thử dư, hà sở trừng hồ ? Toại trảm chi.
            (Thiêu bình năm thứ nhất, tháng năm) sửa lại chùa Báo thiên, giết nhà điêu khắc Cao Sư Đãng.
            Lúc bấy giờ, người ta đực khoét làm gỗ, để dựng chùa Báo thiên. Sư Đãng đã nhọc công ở việc, ấy, bèn nói, “Nhà vua bất đức nên chị mới có hạn, các đại thần ăn hối lộ, được cất cử vào việc mà không ích gì, thế thì có chi tốt lành mà đem nịnh với Phật ?”. Có kẻ đem lời này nói với Lê Sát. Sát nỗi giận, hạ ngục Sư Đãng, sai quan thẩm hình Nguyễn Đình Lịch nghị án là, “Sư Đãng nói điều quái gở bậy bạ, đáng chém”. Nguyễn Thiên Hựu và Bùi Cẩm Hồ tâu xin giảm án chết. Vua sắp nghe theo. Sát nói, “Trước đây Nguyễn Đức Minh đã tạo ra những nạc danh, đáng giết, thế  mà vua nghi theo lời của Thiên Hựu, đề cuối cùng giảm án. Bây giờ, lại tha tội này nữa, thì  làm sao mà răn được ư ? bèn chém nó.”
            Cương mục, cc., quyển 16 tờ 15a3-bl :
            (Thiệu bình nguyên niên, thất nguyệt) thiết Vu lan hội xá. Xá khinh tội tù  ngũ thập nhân, tứ tăng tiền nhị bách nhị thậm mân.
(Thiệu bình năm thứ nhất, tháng 7) thiết hội Vu lan, tha tù. Tha 50 người tù thuộc tội nhẹ. Cho các tăng 220 quan tiền.
Cương mục, cc., quyển 16 tờ 30b5-31a2 :
(Thiệu ibn2h nhị niên thất nguyệt) tứ tăng Huệ Hồng phục phi.
            Chú : Huệ Hồng, Báo thiên tự tăng. (…)
            “(Thiệu bình năm thứ hai, tháng bảy) cho thầy Huệ Hồng mặc áo lụa tím.
            Chú : Huệ Hồng là thầy tu chùa Báo Thiên.
            Thu bát nguyệt hoàng.
            Đào Thái tổ quốc thái mẫu kim tượng. Đào thành, mạng tăng hành điểm nhãn pháp, nhiên hậu thăng miếu phụng chi.
            “Tháng tám, có nạn sâu hoàng/
            Đúc tượng mẹ nội vua Thái Tổ bằng vàng. Đúc thành sai thầy tu làm phép điểm mắt. Sau đó, mới đặt lên miếu để thờ.
            Cương mục, cc., quyển 17 tờ 22a5-b4 :
            (Đại bảo tam niên) thu thất nguyệt, đế đông tuần, hạnh Lê Trải sở cư Côn sơn tự.
            Đông tuân duyệt võ ư Chí linh. Lê Trải biên giá, toại hạnh sở cư Côn sơn tự. Sơ Trần từ đồ Nguyên Đán thối hưu cư vu Côn sơn. Sơn hữu tự viết Tư quốc, tối u thắng. Trải kỳ ngoại tôn giả niên lục thập tạ sự cư yên.
            Chú : (…) Côn sơn thuộc Chí linh huyện Chi ngại xã. Tư quốc tự danh tại Côn sơn chi dương, tương truyền tăng Pháp Loa sở kiến.
            “(Đại bảo năm thứ ba, 1442) tháng bảy mùa thu, vua đông tuần, đến chơi chỗ của Lê Trải ở chùa Côn sơn. Vua đồng tuần duyệt võ ở Chí linh. Lê Trải bên xe, bèn đến chơi chỗ ở
tại chùa Côn sơn. Ban đầu đời Trần, tư đồ Nguyên Đán về hưu ở Côn sơn. Núi có có chùa tên Tư quốc rất u thắng. Trải là người cháu ngoại ông ngoài 60 tuổi để việc xuống và về ở đó.
            Chú : Côn sơn thuộc huyện Chí linh xã Chi ngại, chùa Tư quốc ở tại miền nam Côn sơn, tương truyền là do thầy Pháp Loa dựng”.
            Cương  mục, cc., quyển 18 tờ 5a4-6al :
            (Thái Hòa lục niên tứ nguyệt) hạn đế thần đảo thích nghi tù.
            Tiên thị, đài quan Hà Lật), Đồng Hanh Phát đẳng, dĩ trệ ngục hoặc thẩm hình đại phu Trình Mân, Nguyễn Văn Kiệt, Lê Bá Viển đẳng. Đế mạng Lật đẵng tựu Ngũ hình viện, kiểm đắc tịch án vị thanh lý giả nhất bách nhị thập ngũ bản. Ư thị, đại thần thỉnh khiển Ngũ đạo đài quan cập Tường hình ty hội duyệt, vô trí trên ngục bệnh dần. Mân, Văn Kiệt đẵng các biếm nhất tư. Chí thị, hạn để xuất bách quan nghệ Cảnh linh cung Báo thiên tự kỳ vũ, tâm ngênh Pháp vân Phật tượng nghệ Báo thiên tự, linh tăng tụng đảo. Đế phụng Hoàng thái hậu tháo yên. Thi nhật, thích nghi tù nhị thập tứ nhân.
            (Thái hòa năm thứ sáu (1448) tháng tư) có hạn, vua chính mình đi đảo thả nghi tù. Trước đó quan thượng thư Hà Lật, Đồng Hanh Phát v.v… đã đàn hặc những thẩm hình đại phu Trình Mẫn, Nguyễn Văn Kiệt, Lê Bá Viễn v.v… vì đã bỏ sót việc tù ngục, Vua sai Lật v.v… đến viện Ngũ hình, xét lại được 125 bản án chưa thanh minh. Đến đây, các đại thần xin sai các đài quan ở năm đạo và ty Tường hình hãy cùng xét lại, không được bắt bỏ ngục những người dân có bệnh. Mân, Văn Kiệt v.v… bị cắt đi một chức. Tới lúc đó, có hạn, vua sai trăm quan đến cung Cảnh linh chùa Báo thiên, để cầu mưa, tìm nghênh tượng
Phật chùa Pháp vân về chùa Báo thiên, khiến tăng tụng kinh cầu đảo. Vua thừa lệnh Hoàng thái hậu cũng đến. Ngày đó vua thả 24 người nghi tù.
            Cương mục, cc., quyển 19 tờ 7b7-8a3 :
            (Quang thuận nguyên niên) thu thất nguyệt, sắc tự kim nội sự vô đắc tuyên tiết.
            Đế trùng Diên ninh chi loạn, sắc nội mật quan cập nội cung nhân đẳng, phàm hữu chiếu chỉ cấp cung nội chư sự, bất đắc tiến dự thân thích ngoại nhân tuyên tiết. Sắc thiên hạ bốc thệ đạo thích chi nhân, vô đắc dự cung nhân quan thông.
            (Quang thuận năm thứ nhất, 1460) tháng 7 mùa thu, sắc từ nay những việc bên trong không được bày tỏ tiết lộ. Vua, khi đã trừng trị loạn Diên ninh, ra lệnh các quan nội mật và các người nội cung v.v… phàm có chiếu chỉ và những việc trong cung không được trước cùng với bà con người ngoài bày tỏ tiết lộ ; ra lệnh những người bói toán, đạo tăng trong thiên hạ không được thông quan với cung nhân”.
            Cương mục, cc., quyển 19 tờ 16b2-4 :
            (Quang thuận nhị niên) thu thất nguyệt, cấm tân tạo tự quan. Dân gian sùng Phật đao tạo tự quan, võng cầu công đức, sắc chư tự quan vô nguyên ngạch giả, bất đất đàn tạo.
            (Quang thuận năm thứ hai, 1461) tháng 7 mùa thu, cấm làm những chùa đền mới. Vì dân gian quá trọng Phật làm ra nhiều chùa đền, để võng cầu công đức, nên vua ra lệnh các chùa đền không có trong ngạch cũ thì không được lạc quyên làm ra.”
            Cương mục, cc., quyển 19 tờ 33a2-7 :
            (Quang thuận lục niên hạ từ nguyệt) mạng lễ quan đôn sức dân tục.
Dân phong kiêu bạc, hữu tang chi gia cảm ư Phật thị, mỗi chí Trung nguyên, thiết tiếu, đa cụ tửu hào, chiếu trí tân khách, gia dĩ ca xướng hí bào tạp kỹ, thác vi ai báo, thật tắc hí trường. Sắc tự kim dân gian hữu tang chi gia, các tuần lễ pháp, vô đắc nhưng đạp tệ tục, dĩ đôn phong hóa, vi giả trọng trị.
            “Quang thuận năm thứ sáu, 1465, tháng tư mùa hạ, sai quan bộ Lễ đôn sức phong tục của dân. Phong tục của dân trở thành mỏng mảnh. Nhà có tang có cảm tình với đức Phật mỗi một khi tới Trung nguyên, thì thiết tiệc, có đủ nhiều rượu thịt mời đến khách khứa, lại thêm những thứ ca xướng múa men, coi đấy là báo ơn người chết, thật là một hí trường. Vua ra lệnh từ nay những nhà có tang trong dân đều phải tuân theo lễ pháp, không được cứ đi theo tệ tục, để đôn sức phong tục của dân ; Những kẻ vi phạm sẽ bị phạt nặng.”
            Cương mục, quyển 24 tờ 40b3-41a6 :
            (Cảnh thống nhị biên bát nguyệt) tu Thiên phúc tự.
            Sơ hoàng thái hậu Nguyễn Thị Quang thuận, lục niên tuyển nhập, thị bái sùng nghi, cư Vĩnh ninh cung. Thần thánh tồn vị hữu tự, Quang thực hoàng thái hậu thường vi kỳ đảo, mạng kỳ phụ Nguyễn Đức Trung đảo vu Phật tích sơn Từ công am, toại sinh đế. Chỉ thị, mang trùng tu Thiên phúc tự, tứ từ công am hiệu viết Hiển thụy lập bia dĩ ký chi.
            Chú : Thiên phúc tự, Phan Huy Chú, Lịch Triều hiến chương Địa dư chí. Phật tích sơn tại Yên sơn huyện Thụy khuê xã. Nhất danh Sài sơn. Cổ truyền, sơn thượng hu động, vi Lý thần Từ Đạo Hạnh thi giải chí sở. Sơn thượng Bổ Đà viện Hương hải am giai Đạo Hạnh sở kiến. Thiên Phúc tự tại Phật tích sơn kim tồn.
(Cảnh thống năm thứ hai, 1498, tháng tám) sửa lại chùa Thiên phúc.
            Ban đầu hoàng thái hậu họ Nguyễn vào năm Quang thuận thứ sáu được tuyển vào hầu bái Sung Nghi và ở tại cung Vĩnh ninh. Lúc bấy giờ, vua Thánh Tôn chưa có con nối dõi, nên hoàng thái hậu Quang Thực thường làm cầu đảo, sai cha mình là Nguyễn Đức Trung xin đảo tại am Từ công núi Phật tích bèn sinh ra vua. Đến đấy, sai sửa lại chùa Thiên phúc, cho am Từ công cái hiệu Hiển thụy, dựng bia để ghi lại.
            Chú : Chùa Thiên phúc, Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương địa dư chí. Núi Phật tích tại huyện Yên sơn xã Thụy khê, cũng gọi là Sài sơn. Xưa truyền là, trên núi có động là chỗ giải thi của từ Đạo Hạnh thời Lý Viện Bổ đà và am Hương hải trên núi ấy đều do Đạo Hạnh dựng. Chùa Thiên phúc ở tại núi Phật tích, nay còn”
 
LÊ MẠNH THÁT
 
 
(Còn tiếp)
 
BEETHOVEN
“một phiên tài tình thiên cổ lụy”
Cuộc đời của một thiên tài âm nhạc.
Hoài Khanh dịch,
Cao dao xuất bản
/8
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »