ÂM THANH
CHUÔNG CHIỀU
CỦA NHÂN LOẠI
LÊ TRUNG TRANG
Giấc mộng ngàn năm
Được mang trên cánh Hào Quang muôn thuở
Xé nát màn che chỗ mập mờ
Băng qua thời gian
Dệt thành những chuyện triền miên trong kiếp sống….
The eternal Dream
Is borne on the wings of ageless Light
That rends the veil of the vague
And goes across Time
Weaving ceaseless patterns of Being….
(Santiniketan, 1929, những vần thơ đọc trong dịp lễ Khánh thành trường Cao đẳng Ấn độ học. Montpellier, Pháp quốc.)
Sự kiện đượm nhiều màu sắc nhân tính nhất của con người là mơ về cái vô hạn không đạt được – giấc mơ tô điểm cho cái gì đạt được qua khả năng. Con người sống trong một tương lai không bờ bến. Hiện tại chỉ là một phần của tương lai đó. Những ý tưởng chưa phát hiện, lòng hăng say quả cảm chưa thành hình thường chập chờn trong trí tưởng tượng một cách rõ rệt đến độ con người cảm thấy những ý tưởng và lòng hăng say quả cảm đó có vẻ Thật hơn là mọi vật trước mắt. Bầu không khí tương lai phải luôn luôn quyện quanh giây phút hiện tại để con người chịu đựng kiếp sống trong khi mơ màng cái Bất diệt bên trên thời gian.
“Cái Tương lai liên tục là tổ ấm ngàn năm của con người. Nó mật thiết gắn liền với đời sống, và sống động hơn bất cứ những gì chúng ta biết trong lịch sử rời rạc của hiện tại.”
“The continuous future is the domain of our millennium, which is with us more truly than that we see in our history in fragments of the Present.”
Rabindranath Tagore, The Religion of Man,
(London, George Allen and Uniwin LTD), trang 121.
Qua Thời gian con người ý thức về sự hủy diệt không thể tránh và tìm một chốn an toàn bên trên thời gian hoặc thi vị hóa tư tưởng bi quan phát xuất từ ý thức về sự hủy diệt đó để tìm lối giải thoát trong lòng thời gian, và lối thứ hai này là thái độ của nghệ sĩ.
Một giờ, một ngày, hai năm, mười năm, mười lăm năm, rồi hai mươi bốn năm trôi qua trong sự cấu kết với Ác quỉ để
Được điều mơ ước. Bác sĩ Faustus một mình một bóng, lặng nghe đồng hồ điểm mười một tiếng. Bác sĩ chỉ còn vỏn vẹn ba ngàn sáu trăm tích tắc trần gian để âu sầu, để luyến tiếc, để sợ hãi, để ước mong một cách tuyệt vọng nửa giọt máu của Chúa Ki tô từ giòng suối máu trong lòng vũ trụ rơi xuống cứu mình khỏi sa vào bàn tay ác quỉ. Ác quỉ sắp xuất hiện điệu linh hồn Bác sĩ xuống tắm với y trong hồ lửa địa ngục theo lời giao ước xưa kia. Mười một giờ ba mươi. Ba mươi phút trôi nhanh. Xin thời gian ngừng trôi. Xin đêm khuya đừng tới. Xin mặt trời đi lên, đi lên, cho ngày dài mãi mãi. Xin núi đồi che thân tôi cho khuất cơn thịnh nộ của Thượng đế. Xin thượng đế rũ lòng thương xót thân phận thằng Faustus này. Xin cho ngàn năm lưu đày trong địa ngục hay trăm ngàn năm thôi – thay vì mãi mãi. Trăm ngàn năm cũng đủ khổ rồi.
Đồng hồ chậm rãi buông mười hai tiếng. Tiếp theo là sấm chớp vang rền và đỏ rực cả không gian…
Thời gian trong tác phẩm “Thảm kịch Bác sĩ Faustus” của Christophes là bóng đêm nơi địa ngục, là ánh sáng của Thiên đàng đang le lói bên trên trần gian máu đọng và sắp tắt trong những ngày cuối cùng của Thế kỷ hai mươi.
Con người chìm đắm trong giòng sông lớn, giòng thời gian vô biên, giữa bao lớp sóng nhấp nhô, gềnh thác, bao nhiêu dâu cồn bể vực, bao nhiêu điên rồ ngu xuẩn, kinh nghiệm chua xót, bao nhiêu giấc mơ và thất vọng, bao nhiêu cố gắng ngông cuồng… Tất cả những gì trên giòng sông thời gian đang chảy qua tâm hồn nhân loại là một mớ âm thanh và cuồng loạn, là độc thoại rỉ rả của Quentin trong tác phẩm Âm Thanh và Cuồng Loạn của Faulkner khi anh chàng đập vỡ chiếc đồng hồ trước khi gieo mình xuống giòng sông Charles.
“Khi bóng những chấn song nổi bật trên màn che cửa sổ thì đã vào khoảng bảy, tám giờ sáng. Tôi nghe tiếng tích tắc chiếc đồng hồ của nội tôi. Khi trao cho tôi cha tôi dặn : “Quen-tin, ba cho con nấm mồ chôn bao nhiêu hy vọng và ước muốn. Đau buồn không kể xiết, chắc con sẽ dùng nó để cầu cho được cái phi lý của tất cả kinh nghiệm thế gian… Chiếc dồng hồ này ba cho con, không phải để con nhớ thời gian, nhưng để thỉnh thoảng con có thể lãng quên thời gian trong chốc lát, để con tránh khổ nhọc vì cố tình chinh phục thời gian… Chiến địa chỉ đem lại cho con người nhận thức về những điên rồ và thất vọng của nó mà thôi. Và thắng lợi bao giờ cũng chỉ là ảo tưởng của bọn triết gia và phường ngu xuẩn.” (William Faulkner, The Sould The Fury – The Modern Library, New York trang 93, tạm dịch .)
Câu chuyện “Âm thanh và cuồng loạn” gồm bốn phần, ba phần đầu là “độc thoại nội tâm”, và phần cuối là tường thuật của tác giả. Ý thức thời gian trong tác phẩm được nổi bật qua sự sắp đặt không theo thứ tự thời gian của nó :
Phần 1 : ngày 7 tháng 4 năm 1928 (tr.1),
Phần 2 : ngày 2 tháng 6 năm 1910 (tr. 93),
Phần 3 : ngày 6 tháng 4 năm 1928 (tr. 223),
Phần 4 : ngày 8 tháng 4 năm 1928 (tr. 330).
Và qua độc thoại nội tâm của Benjy, một tên ngu đần vừa câm vừa điếc, đầu óc đặc những “âm thanh và cuồng loạn”, độc giả mò mẫm những biến cố quyết định vận mạng đen tối của gia đình Compson như con người mò mẫm tìm những cái vô nghĩa trong những ngày hiện tại. Quá khứ, hiện tại, bóng tối, hoàng hôn, tiếng đồng hồ tích tắc, tiếng chuông, kèm theo những tan nát của lòng người, những đỗ vỡ của nhân loại.
“Tôi nghe đồng hồ, nghe Caddy đứng đằng sau, và nghe mái nhà. Trời còn mưa, Caddy bảo thế. Tôi không thích mưa. Tôi chẳng thích gì cả.” (tr. 69)
“Hai phút nữa chuông đổ” (tr. 69)
“Ba mươi phút trôi qua. Rồi tiếng chuông ngừng đổ và im bặt.” (tr. 101)
“Trong khi ăn tôi nghe đồng hồ điểm.” (tr. 102)
“Tiếng tích tắc nơi đây nghe như tiếng dế trong bãi cỏ tháng chín, và tôi nghe một chiếc đồng hồ lớn bên trên người thợ.” (tr. 102. 103)
“Tôi bước ra ngoài, để lại đằng sau vô số tiếng tích tắc… đồng hồ hủy diệt thời gian. Thời gian bi tiêu ma chừng nào còn tiếng tích tắc của những bánh răng cưa nhỏ ; chỉ chi nào đồng hồ mất hết thì thời gian mới thật sự trở về đời sống.” (tr. 102)
“Tôi lắng nghe từng tiếng chuông đồng hồ bước đi lặng lẽ dọc theo ánh nắng, giữa những chiếc lá mảnh ami.” (tr. 124)
“Thời gian là vận rủi của con người…” (tr. 129)
“… một đoàn tàu lửa, và một lát sau tiếng rầm rầm mất hẳn sau rặng cây đàng xa, và tôi nhận thấy tiếng đồng hồ tích tắc nối tiếp tiếng tàu chạy vừa im bặt.” (tr. 149)
“… lúc xe chạy ra khỏi hàng cây tôi thấy bóng hoàng hôn, một thứ ánh sáng đem lại cảm giác thời gian ngừng trôi trong phút chốc với mặt trời còn lơ lửng ngay dưới chân trời…” (tr. 208, 209)
“… nghe tiếng tich tắc và bắt đầu lắng nghe chuông đổ …” (tr. 212)
“Chuông điểm ba khắc. Tiếng chuông đầu ngân nga, nhịp nhàng và lặng lẽ, êm đềm, quả quyết tạo thành với tiếng chuông kế tiếp một khoảng im lặng trống trải…” (tr. 219)
“ Tiếng chuông cuối cùng vang lên. Rồi âm thanh không ngân nữa và bóng tối lại yên tĩnh.” (tr. 222)
“Chẳng thấy tiếng động nào trong nhà bếp trừ tiếng nước reo trong ấm và tiếng đồng hồ tích tắc.” (tr. 355)
“Rồi chúng nó lại nghe tiếng đồng hồ…” (tr. 356)
“Tiếng chuông trên không vọng lại, và như một hiệu lệnh nhiều chuông khác cùng buông ra những tiếng ngân nga liên tục.” (tr.358)
“Họ tiếp tục đi dọc theo đường phố. Dọc theo đường phố yên tĩnh những người da trắng bước chậm chạp về phía giáo đường, dưới những tiếng chuông ngân nga trong gió lộng, thỉnh thoảng bước vào ánh mặt trời nhợt nhạt và thưa thớt. Gió rít từng cơn từ đông nam đến, lạnh buốt thấu xương sau những ngày nắng ấm.” (tr. 362)
“Bên đường một ngôi nhà Thờ bao năm chịu đựng mưa gió và gác chuông uể oải vươn lên như một giáo đường trong bức họa, và tất cả cảnh tượng trông buồn tẻ và thiếu phối cảnh như một tấm bia sơn đặt trên mép tận cùng một giải đất bằng phẳng, giáp mặt với không gian gió lộng lung linh ánh nắng và trời tháng Tư và một buổi sáng gần trưa đầy tiếng chuông ngân nga.” (tr. 364)
Tiếng thời gian trong tác phẩm “Âm Thanh và Cuồng Loạn” là giọng nói trầm trầm của vị mục sư rao giảng trong ngôi giáo đường cố cựu, một mục sư rao giảng trong ngôi giáo đường cố cựu, một mục sư “gầy yếu như phiến đá nhỏ mòn mỏi trong thời gian chìm đắm trong âm thanh của lời giảng đạo.” Và đây là giọt lệ chảy dài xuống gò má chị Dilsey từ hai hố mắt xa xăm nhìn về một thời gian xa xăm.
Đã hơn hai ngàn năm. Trên hai ngàn năm nay câu thơ còn đọng giọng điệu vô cùng tha thiết của thi sĩ Ovid trong tập thơ Amore – vẫn trôi theo thời gian chảy qua lòng thế kỷ và vẫn mãi mãi giữ lại âm thanh chuông chiều của nhân loại.
“Chậm lại, xin hãy chậm, hởi gió ngựa Thời gian !”
(O Lente, lente currite, noctis equi !). Và một khoảnh khắc nào đó trong thời gian không phải là hình ảnh đơn độc, vì nó được gắn liền với mùa thu.
“Ngô đồng nhất diệp lạc,
“Thiên hạ công tri thù.
Một sát na cũng đầy đủ như ngàn năm, như trăm năm vạn năm, như vô lượng kiếp người, như vô tận.
“Vẻ rực rở của ban mai trong một giờ, Tự bản chất không khác cây tùng to lớn sống ngàn năm.
(Dịch thơ Thiền trong Zen Buddhism của A. W. Watts tr. 142)
“Một giây phút là kết quả của bốn mươi ngàn năm…và mỗi khoảnh khắc là một cửa sổ nhìn ra giòng thời gian bất tận.”. Each moment is the fruit of forty thousand years… and every moment is a window on all time.
(Thomas Wolfe, Look Homeward Angel, Charles Scribner’s Son, New York, tr 1.)
Thomas Wolfe đã lồng nhiều hình ảnh thời gian trong các tác phẩm của ông.
“… Số giờ, ngày, tháng, năm tôi đã sống trong cô đơn thật bao la và kỳ diệu.”
… the number of hours, days, months, and years that I have spent alone has immense and extraordinary.
(God’s Lonely Man)
“Một đêm rõ đẹp, lạnh buốt, đường phố vắng tanh. Và xa xa, như thời gian, như tiếng thì thầm không dứt đoạn và cần thiết của cái bất diệt, tiếng vo vo của Đại dạ hội nghe văng vẳng, mơ màng và cuồn cuộn như lớp sóng.”
It was a glorious night, the air Sharp, frosty, and the street deserted. And far away, like time, like the ceaseless and essen-tial murmur of eternity, the distant, drowsy, wavelike hum of the great Fair (The Web and The Rock tr. 551)
Tiếng thời gian từ cái bất diệt vọng về trong tâm thức Wolfe là tiếng mưa rơi liên miên trên cành lá ướt át, tiếng tích tắc não nuột uể oải của chiếc đồng đồ.
“Một chiếc đồng hồ gỏ nhịp thời gian dài đăng đẳng.”
A clock struck out its measurement of mortal time (The Web The Rock tr.558)
Trong tác phẩm vĩ đại Look Homeward Angel, Eugene chào đời và lớn lên qua nhiều biến cố. Nó bước vào sân khấu của loài người ba tháng trước những ngày đầu của thế kỷ hai mươi, sau khi Anh quốc gởi tối hậu thơ cho những người dân Nam Phi vào năm 1899 vừa lúc Cộng hòa Transvall sáp nhập vào bản đồ Anh cát lợi tháng chín năm 1900, và như thế cũng sáp nhập với năm tháng chào đời của nó. Nó sinh ra chín năm sau phiên họp đầu tiên của Quốc hội Nhật, năm sáu năm sau cuộc xung đột Nhật Hoa và Đài Loan biến thành thuộc địa Nhật, v.v… Và 30 hay 40 triệu năm trước đó tổ tiên loài người đã cố ngoi ra khỏi vũng lầy và chắc chắn đã trở lại chỗ bùn lầy vì nhận thấy sự đổi thay chỉ đem lại nhiều phiền muộn và chán nản. Eugene lớn lên theo nhịp bước của bốn mùa, của
năm tháng mà thời gian kéo dài trên 650 trang giấy đến lúc nó đủ khôn ngoan “chấp nhận bất cứ chế độ nào đem lại cho nó an vui, tiền bạc vừa đủ dùng, và tự do suy nghĩ, ăn uống, thương yêu, đọc và viết điều nó chọn”, lúc nó đủ khôn ngoan để “không muốn cãi tạo thế giới trong đó nó đang sống hay thiên đàng hóa cái thế giới ấy và chỉ mãn nguyện với một thế giới đầy nơi chốn vui đẹp và không ai ngăn cản mình đi tìm những nơi chốn đó” (Look Homeward Angel, tr.624) Thời gian trong cuộc đời nó ngừng lại nơi Quãng trường dưới ánh trăng sau khi đồng hồ nhà ngân hàng ngân nga báo hiệu 3 giờ 15 phút sáng, và lúc nó đứng trơ trơ, cô đơn trong bóng đêm… nghe trong lòng nội địa bao nhiêu tiếng thì thầm của biển khơi mất mát, điệu nhạc xa xăm bên trong của những chiếc tù và. Và thời gian gào lên một tiếng vô cùng dữ dội trong lòng nó khi nó trông như kẻ đang đứng nơi đỉnh đồi bên trên đô thị vừa bỏ lại đàng sau…đưa mắt nhìn dãy núi xanh vươn lên cao vút.
Nhưng tôi nghĩ rằng nỗi buồn cô đơn thấm thía nhất của con người trong thời gian biến chuyển cô đọng như chén thuốc đắng trong câu chuyện “Cái xa và cái gần” (The Far and The Near) của tác giả.
Thời gian trong The Far and The Near được liên kết với không gian và có hai khía cạnh – Vô hạn và Hữu hạn – và nổi bật nhất là khía cạnh thứ hai, nguồn gốc của sự mất mát trong kiếp sống hiện tại. Thời gian rơi trong lòng người thợ máy sau khi vĩnh viễn giã từ những hình bóng cũ vừa xa lạ vừa quen thuộc là
“Các vì sao rơi trên thân nó, và nó không được ra ngoài một thời gian khác : Số mệnh đến tìm nó và nó không tài nào thoát khỏi.”
(Bài nói về Thời gian nhân cách hóa của Zaehner trong Bul-letin of the School of Oriental and African Studies – London 1955 – tr. 240, 241).
Every day for more than twenty years,…
Ngày nào cũng như ngày nào trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm, mỗi lần đoàn tàu rời ga nhỏ từ từ ra khỏi tỉnh lị chạy ngang gần ngôi nhà xinh xắn có màn che cửa màu lá mạ, có vường rau, có giàn nho chin muộn về tháng tám, có dãy hoa màu xám, có ba cây sồi rợp bông trong những ngày hanh nắng, người thợ máy kéo còi, và mỗi lần nghe còi vang lên người thiếu phụ xuất hiện phía hành lang sau nhà đưa tay vẫy người thợ. Lúc đầu một cô bé túm vạt áo mẹ bước theo, rồi dần dần cô bé trưởng thành theo nhịp bước của thời gian và không vắng một ngày theo mẹ ra hành lang sau nhà đưa tay vẫy.
Trong cuộc đời làm thợ máy trên tàu anh chàng đã chứng kiến, đã gần gủi không biết bao gian nguy bi kịch trên đường sắt. Nhưng chẳng chút sờn lòng, vì ngôi nhà, mảnh vườn xinh xắn và hai hình bóng dịu dàng đưa tay vẩy anh hằng ngày đã in một nét vô cùng sâu đậm trong tâm hồn anh như một cái gì mỹ miều và bền chặt, một cái gì vượt lên trên tất cả đổi thay và tàn lụi. Hình bóng ngôi nhà và hai người kia đã mang lại cho lòng anh một niềm vui tưởng chừng như bất tận.
Hơn hai mươi năm trôi qua. Người tài xế nghỉ việc và không quên tìm đến ngôi nhà nọ. Xuống xe lửa. Rời ga nhỏ. Lần theo đường ra khỏi tỉnh lị trong một buổi chiều đẹp nắng và nắng đẹp như tâm hồn anh đang mơ một câu chuyện đậm đà giữa anh và những người tuy chưa bao giờ gần gũi nhưng đã thấy hằng ngày qua khoảng cách bằng chiều rộng một thửa ruộng nhỏ từ khi anh còn là một
người thợ máy trẻ hăng hái. Ngôi nhà anh tìm hiện rõ trước mắt. Đúng là ngôi nhà anh đang tìm đến. Băng qua đường xe lửa, đến ngõ, rồi chậm rãi bước vào sân. Gặp hai người thiếu phụ đã thường ngày vẩy anh gần phần tư thế kỷ, anh tự giới thiệu và trình bày duyên cớ về sự hiện diện của mình trong chiều hôm đó : tìm đến nơi đến chốn để gặp những hình bóng vừa xa vời vừa gần gũi đã đem lại cho anh bao niềm vui trong kiếp sống vất vả… Hai thiếu phụ lãnh đạm tiếp khách lạ một cách miễn cưỡng. Những vì sao bắt đầu rơi nặng trong lòng người thợ cũ. Anh đứng dậy, ấp úng lời vĩnh biệt và ra đi.
Lủi thủi rời khỏi sân nhà và theo đường bộ về tỉnh. Bỗng chốc anh nhận ra mình là một tấm thân già. Lòng anh từ lâu hớn hở khi nương theo mảnh vườn và ngôi nhà quen thuộc, bây giờ tràn ngập nỗi đớn đau, ngờ vực và khủng khiếp, sau khi va chạm với bộ mặt lạ kỷ của trái đất của quê hương tuy luôn luôn gần gũi không đầy gang tấc nhưng không bao giờ được thấy tường tận. Và từ nay anh hiểu tất cả cái ma lực của con đường rực rỡ mất mát kia, cái mảnh đất tưởng tượng của một vũ trụ nhỏ hẹp hiền hòa trong nguồn hy vọng bao la, tất cả đều cuốn gói ra đi, đi thẳng và không bao giờ trở lại.
Thomas Wolfe tìm về giải thoát trong mùi vị chua cay của thời gian cũng như tâm thức của Yukio Mishima, một văn hào Nhật bản, trong tác phẩm Kinkakuji (chùa Kim Các) của ông. Thời gian của Wolfe qua nhân vật Eugene trong tác phẩm Look Homeward Angel cũng như thời gian của Mishima trong Kinkakuji được cô đọng trong tâm hồn nhân vật Mizoguchi. Thời gian này được gắn liền với không gian với thiên nhiên, mất hút trong những đồi núi bền vững bên trên sự sinh thành, bên trên mọi nỗ lực tranh đấu và sự chết, và những ngọn núi trường
tồn này là cái tuyệt đối duy nhất giữa lòng sự vật luôn luôn biến đổi.
Mishima dồn cái tính chất bất diệt cho những gì mỹ miều trên trần gian, trời trăng sao, những đám mây đêm, núi đồi, hàng cây bách hương nhọn hoắc, vầng trăng lơ lững , ngôi chùa chìm trong bóng tối dày đặc và từ bên trong le lói một ánh sáng yếu ớt, ngôi chùa mãi mãi tồn tại qua bao đổi thay của thế giới như con tàu xinh xắn vượt Biển thời gian, những giọt mưa cố tình đâm thủng mặt biển hùng hổ gầm gừ dưới bầu trời u ám, cơn gió thổi mưa tạt vào những tảng đá cô đơn. Sóng biển, mưa, những tảng đá xạm đen ướt át. Mưa đập vào quan tài đựng xác thân phụ của chú tiểu Mizoguchi. Ngọn lửa hỏa táng bập bùng duyên dáng giữa trời mưa. Tiếng ve trên đồi văng vẳng như trăm ngàn vạn ức nhà Sư vô hình đang tụng kinh cầu cho Ngọn lửa trần gian dập tắt…
“Cái gì được gọi là biến cố tiêu tan trong ký ức, chỉ còn lại hình bóng cô nàng Uiko bước lên một trăm linh năm bậc thềm rêu phủ, và hình như nàng vẫn mãi mãi bước lên những bậc thểm này trong thời gian Vô tận.”
(tạm dịch trong Kinkakuji của Yuio của Ivan Morris).
Giòng sông Hozu màu xanh đậm như Sulfat đồng dùng trong phòng hóa học lặng lờ trôi dưới bầu trời mây phủ nhìn cửa sổ toa xe, và giòng sông này cũng là giòng sông lởm chởm đá bên ngoài cửa sổ chuyến xe chiều trong tác phẩm Look Homeward Angel, chuyến xe đầu tiên trong đời Eugene, giòng sông uốn khúc và chảy tuột vào tâm hồn ngây thơ của bé Eugene và lưu lại đấy mãi mãi, để rồi nhiều năm sau hiện lên rõ rệt trong những giấc mơ với một vẻ đẹp huyền bí. Và vẻ đẹp huyền bí này cũng là vẻ đẹp của con chim huyền bí – con
Phượng hoàng bằng đồng vàng học trên mái chùa chịu đựng thời tiết cam go qua bao thế hệ.
“Con chim này không cất tiếng kêu khi bình minh trở lại, không bao giờ vỗ cánh. Nó đã quên mình là loại chim” – cũng như nghệ sĩ quên mình trong thời gian của kiếp sống. “Trong khi những chim khác bay lượn trong không gian chan hòa ánh nắng thì con phượng hoàng trên mái chùa vẫn mãi mãi tung cánh bay xuyên qua thời gian, và thời gian không ngừng vỗ vào đôi cánh vàng hoe của nó. Thời gian đập vào đôi cánh của nó và bị giật lùi, trôi ngược trở lại.” Và “quá khứ không những chỉ đưa ta về quá khứ mà thôi, vì có những hoài niệm của quá khứ vô cùng mãnh liệt có khả năng làm cho con người sống trong hiện tại một khi va chạm vào lập tức bị căng thẳng và văng ra xa trong tương lai.”
Và bây giờ Quảng trường được in lên bao nhiêu hình bóng rực rỡ mất mát, và tất cả giờ phút của thời gian mất mát lũ lượt trở về và dừng lại một cách yên tĩnh, để rồi bị ngăn cách, bị tung ra với tốc độ vô cùng mãnh liệt, và Quãng trường cùng tan biến với mọi thứ đã thành hình, với những hình bóng bị lãng quên của chính thân phận nhân vật Eugene hay Thomas Wolfe.
Tất cả, tất cả bị vùi sâu trong lớp bùn trôi giạt trong thời gian chảy trên trái đất – Thebes, toàn bộ đền đài trên những vùng đất Daulian và Phocian, những ngôi mộ vùi lấp hài cốt các vua Memphian và Phocian, những ngôi mộ vùi lấp hài cốt các vua Memphian, hàng triệu sinh linh trong trần thế, hàng triệu người qua đời, biển cạn, núi lở, sa mạc ngập lụt, và “loài ma quỉ từ miền Nam hiện về, thống trị trên ngọn lửa chập chờn qua nhiều thế kỷ,… rồi chìm xuống – đến vùng có những tia lửa chết choc nơi miền Bắc…” (Look Homeward Angel tr. 660).
Nhưng cái nhịp điêu hùng vĩ của trần gian vẫn ngàn đời không lay chuyển. “Bốn mùa đều đặn trôi qua, và Trời xuân gieo mầm muôn đời trên mặt đất – mùa gặt mới, con người mới, thần thánh mới.” (tr. 660)
“… Và ngoài xa đời sống trổi dậy, tiếng xe lăn dịu dàng, tiếng vó ngựa chậm chạp, tiếng còi êm êm dọc giòng sông.” (tr. 660)
Quãng trường trong trang cuối của tác phẩm bỗng nhiên xa xăm và mất dạng. Ngôi chùa Kim Các tiêu tan trong lửa khói, và chú tiểu Mizoguchi lặng lẽ lấy thuốc hút và mong mỏi trường tồn với thời gian trên đời như rặng núi ngoài xa của Eugene – của Thomas Wolfe nhìn từ đỉnh đồi bên trên đô thị vừa thoát khỏi.
LÊ TRUNG TRANG
NHA TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
ĐANG IN
TRƯỜNG BỘ KINH
tập IV
do T.T THÍCH MINH CHÂU phiên dịch