Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 957.

Chương 22: Phật Thuyết Đại Thừa Bồ-Tát Tạng Chánh Pháp Kinh - Quyển 18 - Phẩm 6: Bố Thí Ba-La-Mật-Đa (Phần 2) (Trang 294 - 303)

PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA BỒ-TÁT TẠNG
CHÁNH PHÁP KINH


QUYỂN 18

Phẩm 6: BỐ THÍ BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 2)

 
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Có mười pháp khen ngợi, nếu Bồ-tát thanh tịnh đầy đủ thì mới có thể thực hành bố thí. Pháp khen ngợi này vì là hữu vi xuất ly, cho nên được quả hữu vi. Bồ-tát nên bố thí như vậy thì được mười pháp khen ngợi:
1. Bố thí thức ăn thì được sống lâu.
2. Bố thí thức uống thì dứt trừ tất cả phiền não khát ái.
3. Thí các loại xe cộ thì sẽ được các việc lợi lạc.
4. Thí y phục đẹp liền khởi lên tàm quý như được lọng vàng.
5. Thí các loại hương xoa, tràng hoa, liền được trang sức bằng hương giới, văn đẳng trì vi diệu.
6. Thí hương thơm bột hương thì thân được mềm mại thoảng hương thơm phức.
7. Thí các loại ngon thì được vị ngon trung thượng và đầy đủ tướng đẹp.
8. Thí chỗ ở liền được khả năng làm nhà, làm sông, làm nơi cứu giúp, làm chỗ thú hướng cho tất cả chúng sinh.
9. Thí thuốc thang cho người bệnh liền được không già không chết, đầy đủ cam lồ thơm ngọt.
10. Thí các đồ cần dùng liền được pháp phần Bồ-đề thù thắng vi diệu, vật dụng đầy đủ.
Đó là mười pháp khen ngợi bố thí, khi Bồ-tát cầu Bồ-đề sẽ được nhiếp thọ tất cả khen ngợi.

Lại có mười pháp khen ngợi, nếu Bồ-tát có khả năng thanh tịnh thì mới có thể hành bố thí:
1. Nếu bố thí đèn sáng thì được ngũ nhãn thanh tịnh của Như Lai.
2. Nếu thí tiếng ca hay thì được Thiên nhĩ thanh tịnh.
3. Nếu thí vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, ma-ni, trân châu và các thứ báu khác thì được ba mươi hai tướng đại trượng phu của Như Lai.
4. Nếu thí các món báu quý, các loại hoa đẹp thì được tám mươi vẻ đẹp của Như Lai.
5. Nếu thí voi, ngựa, xe cộ thì được đông người vây quanh.
6. Nếu thí vườn rừng đẹp thì được thiền định giải thoát đẳng trì đẳng chí viên mãn đầy đủ.
7. Nếu thí tiền tài, lúa thóc, kho chứa thì được viên mãn đầy đủ các pháp bảo tạng.
8. Nếu thí nô tỳ và các người phục dịch thì được tự tại đầy đủ trí tự nhiên viên mãn của Phật.
9. Nếu thí vợ con quyến thuộc thì được Chánh đẳng Chánh giác viên mãn tối thắng khả ái.
10. Nếu thí vương vị giàu có làm chủ bốn đại châu, thì được tất cả thiện pháp, thành tựu đầy đủ nhất thiết trí của Bồ-tát.
Nếu Bồ-tát thực hành đầy đủ viên mãn mười pháp khen ngợi này thì khi cầu Bồ-đề sẽ được nhiếp thọ tất cả khen ngợi.
Lại có mười pháp khen ngợi, nếu Bồ-tát có khả năng thanh tịnh thì mới có thể thực hành bố thí.
1. Nếu thí cái vui của năm dục thì được giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, các uẩn thanh tịnh, cho đến các việc vui chơi thích thú đều được như ý.
2. Nếu thí hai chân thì được đầy đủ pháp thiện, đến Bồ-đề tràng.
3. Nếu thí hai tay thì được pháp thủ, thường hay trao truyền cho người khác viên mãn trọn vẹn.
4. Nếu thí tai thì các căn được đầy đủ không có khiếm khuyết.
5. Nếu thí mũi cũng được các căn đầy đủ.
6. Nếu thí các chi phần trên thân thì thân không có các khiếm khuyết thanh tịnh như thân Phật.
7. Nếu thí mắt thì được Pháp nhãn thanh tịnh.
8. Nếu thí máu thịt thì được thân mạng chân thật của tất cả chúng sinh, nuôi dưỡng mạng sống bằng sự bố thí chân thật.
9. Nếu thí tủy thì được thân kim cang kiên cố bất hoại.
10. Nếu Đại Bồ-tát thí đảnh đầu thì được an trú ba cõi tối thắng vô thượng, hiện chứng viên mãn Nhất thiết trí.
Này Xá-lợi Tử! Nếu Đại Bồ-tát cầu Bồ-đề thì nên bố thí như vậy, các tướng như thế mới có khả năng viên mãn tất cả pháp Phật, nhiếp thọ khen ngợi.
Này Xá-lợi Tử! Bồ-tát trí tuệ dùng tuệ thù thắng thậm thâm, không vui với cái vui vật chất tầm thường thế gian, mà chỉ cần cầu Chánh đẳng Chánh giác, cầu pháp cam lồ, cầu trí đại giác, cầu Niết-bàn vắng lặng, Bồ-tát luôn xả mọi thú vui và các thứ âm nhạc hay ở thế gian, tất cả đều hướng về nương tựa Chánh đẳng Chánh giác.
Này Xá-lợi Tử! Ví như người nông phu cày cấy trồng trọt ở thế gian, mỗi khi muốn cày ruộng, trước hết phải chọn cày cho chắc, thứ đến là lắp ráp các dụng cụ, móc trâu vào đầu cày rồi mới cày ruộng, có lao nhọc mới có vật dụng nuôi dưỡng mạng sống. Người cày cấy trồng trọt kia vì muốn tồn tại mạng sống cũng có thể làm ra vàng, bạc các loại châu báu, cho đến lúa thóc, y phục, các vật. Vì sao? Vì tiền tài không bằng lúa thóc, lúa thóc là chính. Đại Bồ-tát cũng như vậy, nếu y thời y xứ, dùng cái vui vật chất tiền tài ở thế gian mà bố thí, thì có thể nương vào Chánh đẳng Chánh giác.
Này Xá-lợi Tử! Ví như bầy trâu trước ăn cỏ xanh rồi uống nước trong mát. Nước và thức ăn quân bình thì mới có sữa, rồi mới thành tô, sau thành sinh tô, kế nữa thành thục tô, như vậy lần lượt đều được đầy đủ. Đại Bồ-tát cũng như vậy, trước đem cái vui vật chất tiền tài ở thế gian ra bố thí thì phải nương vào Chánh đẳng Chánh giác, tùy theo sự vui thích mong muốn đều được thành tựu; hoặc làm Chuyển luân thánh vương, hoặc thành tựu ba tướng thù thắng là Thập địa Bồ-tát, mười Lực, bốn Vô sở úy của Như Lai.
Lại nữa, sẽ được thành tựu ngàn sự nghiệp, đạt được mười tám pháp Bất cộng Phật. Lại nữa, được thành tựu ngàn sự nghiệp, đạt được sáu mươi âm thanh vi diệu thanh tịnh của Phật. Lại nữa, được thành tựu trăm sự nghiệp thì được một đại nhân tướng của Như Lai. Lại nữa, nếu thành tựu hai trăm sự nghiệp thì được đảnh tướng Ô-sắc-nị-sa thanh tịnh tối thượng của Như Lai. Lại nữa, nếu thành tựu trăm thứ công đức diệu tướng thì có khả năng viên mãn âm thanh đại pháp loa của Như Lai. Lại nữa, nếu thành tựu trăm thứ câu-chi diệu tướng công đức thì được răng bằng khít, trắng tinh vi diệu tối thượng.
Này Xá-lợi Tử! Vì thế nên biết, nghiệp quả báo thù thắng của Như Lai, Bồ-tát đều có thể thành tựu. Nếu có thể phát khởi một niệm Từ tâm, bố thí những gì mong muốn cho những người hành khất, thì đồng với những ai phát tâm hằng hà sa số không khác, như vậy mới có thể thành tựu Tam-ma-địa phất. Nên biết, chư Phật khi xả Tam-ma-địa, trong mỗi sợi lông của Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác đều có thể hóa hiện hàng trăm Tam-ma-địa hóa hiện tự tại.
Này Xá-lợi Tử! Như Lai đã có tất cả pháp Phật sự nghiệp thần thông tướng thù thắng như vậy, đều là đại hạnh mà Bồ-tát đã tu từ trước. Đem cái vui vật chất tiền tài ở thế gian phụng cúng Như Lai, là vì nhiếp thọ, cần pháp cam lồ, cầu Niết-bàn vắng lặng. Này Xá-lợi Tử! Vì lý do đó cho nên Đại Bồ-tát đem cái vui vật chất ở thế gian mà hành bố thí thì nên nương tựa quả Chánh đẳng Chánh giác.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Ta nhớ đời quá khứ trước vào kiếp a-tăng-kỳ, lại quá vô lượng vô biên kiếp chẳng thể nghĩ bàn, lúc đó có Đức Phật ra đời tên là Phước Sinh Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật ấy sống đến ngàn năm, trong hội Phật có trăm ngàn đại chúng Bí-sô, đều là đại A-la-hán, đã hết các lậu, không còn phiền não, tâm được tự tại, đến bờ giác ngộ. Lúc đó có một người đánh sợi, sắc tướng đoan nghiêm, ai nấy đều thích ngắm nhìn. Chỗ người ấy ở cách chỗ du hóa của Đức Thế Tôn không xa. Người ấy khi làm xong công việc của mình rồi, liền đến chỗ của Đức Thế Tôn Phước Sinh Như Lai,
đến rồi, phát tâm thanh tịnh dâng cúng Thế Tôn một sợi chỉ, thưa rằng: “Nay con dâng cúng Thế Tôn một sợi chỉ này, cúi xin Đức Thế Tôn thương xót con mà thọ nhận, con nguyện đem thiện căn này đến đời vị lai được các nhiếp pháp.”
Lúc đó Đức Thế Tôn liền tiếp nhận. Người đánh sợi này từ đó về sau cho đến khi thành Phật, như vậy lần lượt đã cúng dường năm trăm sợi chỉ cho Thế Tôn, nhờ đó mà trong mười làm kiếp không đọa đường ác. Lại nữa, nhờ thiện căn này mà trong ngàn câu-chi kiếp được làm Chuyển luân thánh vương. Lại nhờ thiện căn này mà trong ngàn câu-chi kiếp, người ấy được làm Thiên chủ Đế Thích. Lại nhờ thiện căn này mà thân được mềm mại, tướng rất thương yêu. Người này sớm tu hành sự nghiệp tối thắng, thân cận cúng dường ngàn câu-chi Đức Phật, tôn trọng cung kính, cúng dường hương hoa, đèn, đuốc, đồ ăn thức uống, y phục, tràng phan, bảo cái, thuốc thang và các vật dụng khác. Cúng dường rồi, về sau lại quá a-tăng-kỳ kiếp sẽ chứng quả Chánh đẳng Chánh giác hiệu là Thiện Nhiếp Thọ Như Lai, Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật ấy sống đến hai mươi câu-chi tuổi, trong hội Phật có hai mươi câu-chi na-do-tha chúng đại Bí-sô, đều là đại A-la-hán, đã hết các lậu, không còn phiền não, tâm được tự tại, đến bờ giác ngộ; có năm câu-chi chúng Đại Bồ-tát đều an trụ Chánh đẳng Chánh giác tuyên nói chánh pháp, hóa độ vô lượng chúng sinh, làm lợi lạc rồi nhập đại Niết-bàn. Sau khi Đức Thế Tôn ấy nhập Niết-bàn, chánh pháp trụ thế trọn một ngàn năm, rộng làm Phật sự, như ta hiện nay sẽ nhập Niết-bàn không khác.
Này Xá-lợi Tử! Ngươi thấy người dệt sợi phát tâm thanh tịnh như vậy, dùng một sợi chỉ dâng cúng Như Lai, như vậy lần lượt thành tựu pháp Phật, đều là do tâm thanh tịnh rộng lớn.
Này Xá-lợi Tử! Vì thế nên biết, nếu tâm không rộng lớn, lại không siêng năng thì không được quả báo thù thắng. Nếu tâm thanh tịnh đem cái vui vật chất ở thế gian, tùy theo khả năng dù cúng ít, nhưng lại được tất cả quả vui đáng quý.
Lại nữa, Bồ-tát trí tuệ đem trí lực tăng thượng làm nhiều việc
lợi ích thù thắng. Vì sao? Vì lực rộng lớn sức hồi hướng vô lượng.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ nghĩa trên, liền lập lại bằng kệ rằng:
Bố thí không cầu nơi sắc tướng
Không cầu thọ dụng hay giàu có
Chỉ cầu Vô thượng Phật Bồ-đề
Dù là thí ít được lợi lớn
Không cầu danh tiếng và tiếng khen
Cái vui thế gian cũng không cầu
Dứt luôn hy vọng về sinh diệt
Cầu Phật đại quả không gì khác
Ăn uống y phục và vật dụng
Đối nhất thiết xứ không mong cầu
Phát tâm thí như đầu sợi lông
Cầu cửa cam lồ luôn mở rộng
Phát tâm bố thí không cao thấp
Cũng không quanh co hay xan lận
Trừ khử tất cả mọi biếng nhác
Mạnh mẽ làm lợi khắp thế gian
Hoặc tiền hoặc thóc nuôi thân mạng
Và mọi thứ khác đều bố thí
Thí rồi sinh niềm vui phấn khởi.
Bồ-đề giải thoát rất dễ được
Cha, mẹ, con, cùng người yêu nhất
Nhưng ai đến xin đều ban cho
Ai thí cũng không tâm ganh ghét
Nhờ tu hạnh Bồ-đề tối thượng
Những gì thấy được không giận dữ
Bạn ác, bạn thiện xem như nhau
An ủi những ai hay sợ hãi
Không chấp trước vào các sự pháp
Không cầu vương vị sinh pháp dục
Tuyên nói chánh pháp môn xuất ly
Pháp thí phổ cập các chúng sinh
Lợi ích thế gian thường không xả
Không cầu vui thích ở chư Thiên
Chỉ cầu Vô thượng Phật Bồ-đề
Bố thí không mong danh tiếng lớn
Xả bỏ thân mạng và các pháp
Nhưng mà không xả Phật Bồ-đề
Không phải cầu nhãn thức sắc tướng
Cũng lại không cầu sinh chư Thiên
Chỉ cầu Niết-bàn vui tối thượng
Không chấp vào những gì mình thí.
Hoặc thành hoặc hoại đều không cầu
Người trí thường sinh tâm chánh trí
Hiểu rõ tất cả pháp chánh đạo.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Vì thế nên biết, các Đại Bồ-tát siêng năng thực hành tu tập Bố thí ba-la-mật-đa như vậy chính là tu hạnh thù thắng của Bồ-tát.

Phẩm 7: TRÌ GIỚI BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 1)

 
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Sao gọi là các Đại Bồ-tát tu tập Trì giới ba-la-mật-đa, tức là rộng tu hạnh thù thắng của Bồ-tát?
Này Xá-lợi Tử! Bồ-tát có ba pháp hành thiện là thân, miệng, ý đều hành thiện.
Sao gọi là thân hành thiện? nghĩa là, Bồ-tát xa lìa sát sinh, trộm cắp, tà nhiễm. Đây gọi là thân nghiệp hành thiện.
Lại nữa, Bồ-tát xa lìa nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác. Đây là ngữ nghiệp hành thiện.
Lại nữa, Bồ-tát không tham, không sân, chánh kiến. Đây là ý nghiệp hành thiện.
Bồ-tát suy nghĩ như vầy: Làm sao thân, miệng, ý thường làm

thiện? Nếu thân không tạo nghiệp thì không có sát sinh, trộm cắp, tà nhiễm. Đây là thân hành thiện. Nếu miệng không tạo nghiệp thì không nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác. Đây là miệng hành thiện. Nếu ý không tạo nghiệp thì không có tham, sân si, tà kiến. Đây là ý hành thiện.
Lại nữa, Bồ-tát quán sát như thật. Nếu thân, miệng, ý không tạo nghiệp thì đối với các pháp làm gì có biểu hiện; đối với thân, miệng, ý làm gì có tạo tội. Nếu các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía, biếc, lục sẽ biểu hiện thế nào, thì không có nhãn thức biểu hiện, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức biểu hiện. Vì sao? Vì không có năng sinh hay sở sinh, năng khởi và sở khởi. Nếu nó đã không thì làm gì có tạo nghiệp. Bồ-tát nghĩ như vậy rồi, biết rõ giới tướng hiện tiền không có sở tác. Nếu không sở tác thì làm gì có biểu hiện. Nếu không biểu hiện thì làm gì có chấp trước. Như vậy mới gọi là Bồ-tát hành thiện đối với giới tướng cũng không có sở quán. Nếu đối với giới tướng không có thú hướng thì không có sở quán. Nếu quán như vậy thì không khởi hữu thân kiến. Nếu không khởi hữu thân kiến thì đối với trì giới, phá giới như lý suy xét đều không thấy. Nếu quán như vậy đối với cảnh giới giới pháp, phép tắc không có liễu tri. Như vậy, trì giới đối với mình, đối với người đều không sở đắc, cũng không sở hành. Nếu đối với mình và người không sở hành thì đối với giới không hủy phạm khiếm khuyết, cũng không chấp thủ, hoặc mình hoặc người đều không sở đắc, giới không sở đắc. Nếu giới không sở đắc thì giới học không hủy phạm. Nếu giới học không hủy phạm thì giới cũng không hủy phạm. Như vậy tức là giới không sở thủ. Cớ gì không thủ? Vì tất cả pháp đều không sở thủ. Thế nên tất cả pháp không tự cũng không tha, đối với vô ngã nên thủ thế nào?
Khi ấy Đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ nghĩa trên, liền lập lại bằng kệ rằng:
Thân nghiệp thanh tịnh miệng cũng vậy
Ý thường thanh tịnh tu tịnh hạnh
Cấm giới thanh tịnh lại thường hành
Đây là Bồ-tát trì tịnh giới
Mười thiện nghiệp đạo rất thù thắng
Bồ-tát trí tuệ khéo quán sát
Đối thân, miệng, ý đều không tu
Đây là người trí trì tịnh giới
Không tu không thắng cũng không thọ
Hình sắc hiển sắc cũng lại không
Nếu quán không hình hiển sắc tướng
Làm sao thấy rõ được các cảnh
Nếu giới vô vi không tu tập
Mắt đối sắc cảnh không thể quán
Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy
Các cảnh không thể làm biểu thị
Căn thức nếu không tướng có ra
Bi tâm nên quán sát như vậy
Đối với thanh tịnh giới cũng không
Giới không sở đắc lại không trụ
Hiểu rõ như vậy không ngã tưởng
Giới không sở hộ khéo hộ giới
Không tưởng giới lại không tu giới
Trọng hạnh Bồ-đề lìa các kiến
Nếu đối các kiến không sở quán
Không thấy, cũng lại không hiểu biết
Đây là không thấy, xứ cũng không
Trong đó trì phạm không lãnh thọ
Nếu rõ không hộ lý chánh pháp
Pháp tắc của giới chẳng nghĩ bàn
Khéo hay biết rõ môn chơn hộ
Không giới, cũng lại không sở đắc
Vì không ngã tưởng giới không đắc
Không ngã, cũng lại không có giới
Đã nói thường sinh tâm lìa sợ
Tịnh giới chính là lời vô ngã
Giới không lãnh thọ là vô ngã
Giới lại cũng không có y chỉ
Không giới, không cầu, không ngã ngôn
Không trì không phạm không sở thủ
Vì giới không ngã nên không khởi
Không ngã tức là không giới tưởng
Hạnh Bồ-đề là tuệ sâu xa
Như vậy giới tướng được vô úy
Những ai khuyết phạm cũng không được
Người trì đều nhờ sức thánh hộ
Các pháp không được cũng như vậy
Vì kẻ ngu si nói trì phạm
Lành thay, người khéo hộ tịnh giới
Đối giới thắng quả không trói mở
Vì đoạn các kiến tội không sinh
Cho nên không đọa ba đường ác
Giới không sở trì, không sở thọ
Ngã kiến không sinh tức không đọa
Như vậy đã biết rõ về giới
Đó là không trì cũng không phạm
Nếu đối ngã pháp không thể thấy
Đối với ba cõi cũng không quán
Huống lại trì phạm có sở hành
Như vậy người thấy khéo trì giới.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Mười thiện pháp của Bồ-tát có ra đều là từ tâm ý thanh tịnh, từ hạnh tinh tấn thù thắng, từ tin hiểu nghiệp báo dục rộng lớn thiện tối thắng. Đối với bậc Thánh luôn thân cận thừa sự, đối với Tôn sư không khởi phân biệt; hoặc Thánh hoặc sư đều lãnh thọ chánh pháp, cần cầu không đắm trước, chí cầu Bồ-đề không tiếc thân mạng.
Này Xá-lợi Tử! Bồ-tát trì giới, mười pháp thù thắng như vậy đều từ trong tâm Bồ-tát mà có. Nếu ai có khả năng an trụ mười pháp này thì có thể tích tập các thiện pháp.
/71
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »