Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 957.

Chương 35: Phật Thuyết Đại Thừa Bồ-Tát Tạng Chánh Pháp Kinh - Quyển 31- Phẩm 9: Tinh Tấn Ba-La-Mật-Đa (phần 7) (Trang 450 - 457)

PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA BỒ-TÁT TẠNG CHÁNH PHÁP KINH
 
QUYỂN 31
 
Phẩm 9: TINH TẤN BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 7)
 
Này Xá-lợi Tử! Vì muốn thành thục thiện căn cho nên suốt hai mươi năm, đồng tử phát lòng tin thanh tịnh đối với chánh pháp hạnh, bỏ nhà xuất gia thành tướng Bí-sô, thọ giới Cụ túc, hoặc ở A-lan-nhã, hoặc ngồi thiền dưới gốc cây. Lúc đó, trong hư không có các Hiền thánh đến chỉ dạy nghĩa lợi, bảo Bí-sô rằng:
–Thầy đối với chánh pháp tạng của Bồ-tát được hạnh tinh tấn không thoái chuyển, có danh tiếng lớn, sẽ được thành Phật.
Bí-sô nghe tiếng của Hiền thánh rồi sinh đại hoan hỷ thật chưa từng có. Cho đến tất cả nhân dân trong thành, ấp, xóm, làng, quốc độ, vương cung, khắp tất cả mọi nơi đều tìm cầu chánh pháp Bồ-tát tạng.
Lại nữa, Bí-sô đến Tăng-già-lam cung kính đảnh lễ thăm hỏi chúng Bí-sô và Bí-sô-ni rồi thưa:
–Sao gọi là chánh pháp Bồ-tát tạng? Bồ-tát đối với A-xà-lê và pháp Phật làm sao thừa sự thân cận tu học? Tôi nay muốn ở chỗ Tôn giả mà tìm cầu chánh pháp Bồ-tát tạng, hoặc danh hoặc tự đều đến lắng nghe.
Nghe Bí-sô hỏi thế, chúng Bí-sô trả lời:
–Này Bí-sô! Điều đó chúng tôi không biết.
Bí-sô lại thiết nghĩ: “Như vậy lời nói của Hiền thánh không có hư vọng, tôi chưa từng nghe chánh pháp Bồ-tát tạng, đối với tinh tấn không thoái chuyển làm sao mà thực hành?”
nghĩ thế rồi, Bí-sô chuyển sang hỏi:
–Thưa Tôn giả Cụ thọ! Đức Liên Hoa Siêu Thắng Như Lai hiện ở phương nào? Cúi xin chỉ giúp cho!
Các Bí-sô kia trả lời:
–Này Bí-sô! Đức Liên Hoa Siêu Thắng Như Lai hiện ở phương này.
Nghe thế, Bí-sô liền đến chỗ Đức Phật theo sự hướng dẫn đó. Đến rồi nhiễu quanh bên phải ba vòng, đảnh lễ sát chân rồi đứng dậy thưa:
–Thưa Thế Tôn! Nay con ngồi kiết già nơi đây, nếu không nghe được chánh pháp Bồ-tát tạng từ nơi Đức Liên Hoa Siêu Thắng Như Lai thì thề không ngồi dậy.
Này Xá-lợi Tử! Trong bảy ngày bảy đêm Bí-sô này tinh tấn không thoái chuyển. Kiên cố như vậy quá bảy ngày bảy đêm, nhờ thần lực của Phật nên thấy thế giới phương Đông Bảo Tạng Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác nghe Đức Thế Tôn ấy khai diễn tám thứ pháp môn. Tám pháp môn này có khả năng tùy thuận tu học chánh pháp Bồ-tát tạng. Lúc đó, Bí-sô nghe đầy đủ tám pháp chẳng thể nghĩ bàn này không có gì hơn được, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đối với chánh pháp Bồ-tát tạng, Bí-sô có thể khai diễn hạnh tinh tấn không thoái chuyển. Lại ở trong thành, ấp, xóm, làng, quốc độ, vương cung trọn sáu mươi năm giáo hóa vô lượng vô biên trời, người trụ trong ba thừa. Lúc Bí-sô sắp lâm chung lại phát nguyện:
–Sau khi tôi viên tịch sẽ sinh vào các cõi Phật, ở cõi Phật diẹât rồi, sinh vào Diêm-phù-đề trong dòng họ trưởng giả, sinh rồi phát lời nguyện tu hành chánh pháp hạnh.
Vì lý do đó cho nên đồng với tên thuở xưa là Chánh pháp hạnh, phát lòng tin thanh tịnh, bỏ nhà xuất gia, thành tướng Bí-sô, thọ giới Cụ túc. Xuất gia chưa bao lâu hiện tiền an trụ chánh pháp Bồ-tát tạng, trong sáu vạn năm khai diễn chánh pháp hạnh Bồ-tát tạng khắp cả thành ấp, xóm, làng, quốc độ, vương cung; giáo hóa vô lượng vô biên trời, người; thành thục ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Vô thượng Đại thừa. Khi sắp lâm chung lại phát thệ:
–Nhờ nguyện lực này được làm người trong châu Diêm-phù-đề, sinh trong dòng vua chúa. Sinh ra trong sát-na, trong hư không có
tiếng Hiền thánh bảo rằng: Cõi hữu tình của ngươi vượt hơn các pháp, vì lý do đó cho nên đặt tên là “Siêu vượt hơn các pháp”. Thành thục hữu tình, đến năm hai mươi tuổi phát sinh lòng tin chân chánh, rời nhà xuất gia, thành tướng Bí-sô, thọ giới Cụ túc, vượt hơn các pháp chánh niệm duyên lực, hiện tiền an trụ chánh pháp Bồ-tát tạng.
Này Xá-lợi Tử! Bí-sô vượt hơn các pháp này đối với chánh pháp Bồ-tát tạng, đoạn các nghi hoặc, đi khắp thành ấp, xóm làng, quốc độ, vương cung, khai diễn chánh pháp, hơn sáu vạn năm, khiến vô lượng vô biên trời, người, A-tu-la phát tâm Chánh đẳng Chánh giác. Khi Bí-sô sắp lâm chung lại phát thệ rằng:
–Được làm thân người, sinh vào dòng họ trưởng giả đại Bà-la-môn trong châu Diêm-phù-đề. Sinh ra trong khoảng sát-na, giữa hư không có tiếng Thánh hiền bảo: Hữu tình giới của ngươi được chánh niệm, cho nên đặt tên là “Được chánh niệm”, thành thục hữu tình.
Đến năm hai mươi tuổi phát sinh lòng tin chân chánh, rời nhà xuất gia, thành tướng Bí-sô, thọ giới Cụ túc. Do thuở xưa suy nghĩ như thật cho nên thành tựu đa văn tối thượng tối thắng. Trong sáu mươi năm thuyết pháp giáo hóa, đến các thành, ấp, xóm, làng, quốc độ, vương cung khiến các hữu tình đối với chánh pháp Bồ-tát tạng có khả năng khai diễn đoạn các nghi hoặc. Lại giáo hóa quá hơn số đó nữa, giáo hóa đến bốn câu-chi trời, người, A-tu-la… thành thục ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Vô thượng trí Phật thừa.
Này Xá-lợi Tử! Bí-sô Chánh pháp hạnh này phát nguyện ấy rồi liền mạng chung, sinh vào trong cõi Phật Bảo Tạng Như Lai thuở xưa.
Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát này khiến sáu mươi câu-chi trời, người, A-tu-la… đều được viên mãn thành thục ba thừa.
Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy ở trong cõi Phật Bảo Tạng Như Lai không có gián cách, đạt được đa văn, đầy đủ tối thượng tối thắng chẳng thể nghĩ bàn. Sau khi mạng chung được sinh vào dòng họ vua chúa trong thế giới Liên Hoa Siêu Thắng Như Lai. Thuở xưa giáo hóa sáu mươi câu-chi trời, người A-tu-la… đồng sinh ra đều làm quyến thuộc. Lúc đó có Đức Phật ra đời hiệu là Tối Thượng Hạnh
Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, tuổi thọ của Đức Phật ấy đủ tám mươi câu-chi năm tuổi thọ của nhân dân nước đó cũng lại như vậy. Đức Phật ấy có tám mươi câu-chi đại chúng Thanh văn cùng đến tập hội, đều là A-la-hán. Mỗi một Thanh văn đều có tám mươi câu-chi đại chúng Thanh văn, đồng là đại A-la-hán thanh tịnh. Lúc đó có đồng tử Dũng Mãnh Thọ Vương đa văn, thành tựu trí tuệ, thông đạt sáng suốt đồng tử cùng với quyến thuộc tám mươi câu-chi người, đồng thời đến chỗ Tối Thượng Hạnh Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác; đến rồi đảnh lễ sát chân, nhiễu quanh Đức Thế Tôn rồi đứng qua một bên. Lúc đó, Tối Thượng Hạnh Như Lai biết được tâm niệm nhân duyên thuở xưa của đồng tử nên liền nói pháp.
Khi ấy Đức Thế Tôn bảo:
–Này Xá-lợi Tử! Đồng tử Dũng Mãnh Thọ Vương nghe được hạnh tu hành thuở xưa như vậy rất sinh hoan hỷ, cùng với tám mươi câu-chi quyến thuộc đồng phát lòng tin thanh tịnh, bỏ nhà xuất gia, thành tướng Bí-sô, thọ giới Cụ túc, trọn đời tu hành phạm hạnh cầu đạo Bồ-đề.
Lúc đó, Đức Tối Thượng Như Lai bảo đại chúng:
–Này đại chúng! Sau khi ta diệt độ Đại Bồ-tát Dũng Mãnh Thọ Vương này sẽ thành Phật xuất hiện thế gian hiệu là Đại Tinh Tấn Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác. Sau khi đức Tối Thượng Như Lai Niết-bàn, Dũng Mãnh Thọ Vương cúng dường Xá-lợi rồi thọ trì Chánh pháp, sau đó chứng quả Chánh đẳng Chánh giác.
Này Xá-lợi Tử! Tuổi thọ của Đại Tinh Tấn Như Lai là nửa kiếp; có vô lượng đại chúng Thanh văn, mỗi một Thanh văn đều có hai mươi na-do-đa đại Thanh văn chúng đều là đại A-la-hán thanh tịnh cùng đến tập hội.
Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát tinh tấn không thoái chuyển này thực hành Tinh tấn ba-la-mật-đa; đối với chánh pháp Bồ-tát tạng, nghe rồi lần lượt thọ trì đọc tụng, rồi đem diễn giảng cho mọi người, cho đến sinh vào thế giới Tinh Tấn Như Lai.
Này Xá-lợi Tử! Nếu thiện nam, thiện nữ nào an trụ Đại thừa
thì mau chóng chứng quả Chánh đẳng Chánh giác, tinh tấn không lui sụt đối với chánh pháp Bồ-tát tạng quyết định lắng nghe thọ trì đọc tụng, cho đến diễn nói cho mọi người. Vì sao? Này Xá-lợi Tử! Vì các Đại Bồ-tát có khả năng đối với chánh pháp Bồ-tát tạng, tinh tấn cần cầu hạnh tinh tấn không thoái chuyển như vậy.
Này Xá-lợi Tử! Đây là Đại Bồ-tát Tinh tấn ba-la-mật-đa.



Phẩm 10: THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 1)

 
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu hành hạnh tinh tấn hướng đến thiền định Bồ-tát Ba-la-mật-đa? Đại Bồ-tát trước hết là xa lìa lỗi lầm nhiễm dục các pháp bất thiện, đối với tầm từ phát sinh hỷ lạc. Đây gọi là nhập giải Sơ thiền định hạnh.
Này Xá-lợi Tử! Kế đến là Đại Bồ-tát xa lìa tầm từ, tức là đối với một cảnh tánh bên trong phát sinh tâm trong sạch thanh tịnh, đối với Đẳng trì phát sinh hỷ lạc. Đây gọi là nhập giải Nhị thiền định hạnh.
Này Xá-lợi Tử! Kế đến nữa là Đại Bồ-tát xa lìa tham ái, hành niệm chánh tri, chỉ thọ diệu lạc, thân luôn chánh tri. Như Thánh nhân quán sát xả niệm ly hỷ diệu lạc hạnh. Đây gọi là nhập giải Tam thiền định hạnh.
Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát trước hết là đoạn trừ khổ, vui, thích thú, phiền não, không khổ, không vui, xả niệm thanh tịnh. Đây gọi là nhập giải Tứ thiền định hạnh. Đại Bồ-tát như thật được viên mãn thanh tịnh thuần nhất không xen tạp, tâm chánh đẳng dẫn không còn các chi phần khác và tùy phiền não, không lìa Đẳng trì, nhưng có khả năng thực hành sự nghiệp thiền định ấy, lại còn viên mãn năm thần thông và trí nghiệp ấy. Năm thần thông là gì? Một là Thiên nhãn; hai là Thiên nhĩ; ba là Tha tâm; bốn là Túc trụ; năm là Thần cảnh. Đó là năm thần thông.
Lại nữa, sao gọi là Bồ-tát đối với Thiên nhãn… Thần cảnh có khả năng viên mãn chánh hạnh thần thông trí nghiệp tối thượng?
Này Xá-lợi Tử! Bồ-tát này an trụ như thật tâm chánh đẳng dẫn, viên mãn thanh tịnh thuần nhất không xen tạp và tùy phiền não, tâm không ham muốn các hữu tình mà lại có khả năng khởi thần cảnh đẳng thông. Đây gọi là thần thông trí nghiệp. Lại được Thiên nhãn thanh tịnh hơn cả mắt người thường, có khả năng quán sát các hữu tình. Như vừa mới sinh ra liền chết, các tướng tốt, xấu, đường ác, đường thiện, thù thắng vi diệu, hạ liệt thấp kém, cho đến biết được nghiệp hạnh sai khác của các hữu tình, trong thân, miệng, ý đầy đủ các ác hạnh, khởi lên tà kiến phỉ báng Thánh hiền, tích tập nghiệp nhân tà kiến, đến khi mạng chung đọa vào đường ác Na-lạc-ca. Lại còn có thể biết được thân, miệng, ý của hữu tình đầy đủ thiện hạnh, khởi lên chánh kiến, tán thán Thánh hiền, tích tập nghiệp nhân chánh kiến, đến khi mạng chung sinh vào đường thiện, hoặc sinh lên cõi trời.
Này Xá-lợi Tử! Do Thiên nhãn thanh tịnh hơn người thường nên có thể biết rõ hữu tình tích tập nghiệp ác.
Này Xá-lợi Tử! Đây là Thiên nhãn thanh tịnh của Đại Bồ-tát tối thắng hơn các hữu tình, biết rõ sắc tướng không bị chướng ngại. Không những thế còn hơn cả các hàng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Hữu học, Vô học, đại A-la-hán và Bích-chi-phật, thật là tối thượng tối thắng biết rõ tất cả không có ai hơn. Lại Thiên nhãn này đối với tất cả đạo xuất ly, xuất ly tối thắng, các Bồ-tát có thiên nhãn này đối với vô lượng hữu tình trong mười phương thế giới, hoặc thô, hoặc tế, hoặc hơn, hoặc kém, hoặc xa, hoặc gần, đều biết rõ các tướng có sắc không có đối ngại.
Lại nữa, Thiên nhãn này thấy sắc rốt ráo, trừ vô sắc giới. Vô lượng hữu tình trong mười phương thế giới, hoặc sinh, hoặc diệt và nghiệp nhân tất cả căn nhân ấy, hoặc tăng, hoặc giảm, hoặc thắng, hoặc liệt, đều biết rõ, công đức trang nghiêm các cõi Phật trong mười phương thế giới tất cả đều thấy; giới uẩn thanh tịnh, an trụ thành tựu quả báo thù thắng vi diệu cũng đều biết rõ.
Lại nữa, Thiên nhãn này vượt hơn người thường, chư Phật Thế Tôn và chúng Bồ-tát tất cả đều thấy. Cho đến Chánh sĩ, Chánh niệm, Chánh tri, thông đạt cảnh giới oai nghi, đạo hạnh và pháp giải
thoát được môn Tổng trì, an trụ trí tuệ phương tiện khéo léo, có khả năng hiểu rõ viên mãn tất cả. Mắt ấy vô ngại, không thấy các sắc. Mắt ấy không đắm trước, không nhiễm các sắc. Mắt ấy giải thoát xa lìa các kiến. Mắt ấy thanh tịnh tự thể xán lạn. Mắt không nương tựa, lìa các cảnh giới. Mắt không chấp thủ, lìa các phiền não. Mắt không ngăn che, lìa các nghi hoặc. Mắt không khởi niệm, lìa pháp đối ngại. Mắt được ánh sáng chiếu soi các pháp. Mắt theo trí tuẹâ lìa cảnh giới thức. Mắt không dính mắc, lìa những gì khó điều phục và ngu si tối tăm tất cả phiền não. Mắt ấy có thể lựa chọn, biết các căn huyễn hóa. Lại mắt ấy không có gì hơn được, luôn luôn nhìn hữu tình với con mắt bình đẳng. Mắt ấy thanh tịnh, lìa sự suy nghĩ tạp nhiễm. Mắt ấy không nhơ, thể tánh trong sáng. Mắt ấy tùy theo tâm ý mà có thể hiện tiền thành thục Phật nhãn. Mắt ấy không tham sân, lìa mọi nghịch thuận. Lại thiên nhãn ấy đối với cảnh giới nghĩa, tu hành pháp thức tương ưng như thật, lại đối với hữu tình an trụ đại Bi.
Lại nữa, Thiên nhãn ấy nếu có người đến xin đều ban cho cả, thấy người phá giới cũng không sân giận, đối với người đọa lạc thường hay thủ hộ, đối với người biếng nhác thường hay khuyên răn sách tấn; vì người tán loạn thể hiện thiền định; vì người ác tuệ chỉ bày Tuệ nhãn chân chánh; vì người tà đạo khai ngộ chánh đạo; vì người hiểu biết thấp kém hay vượt trội hướng dẫn họ đến với tri kiến tối thượng của Phật.
Lại nữa, Thiên nhãn ấy đối với Nhất thiết trí trí thần thông tối thượng, đối với đạo Bồ-đề chuyên chú một cảnh quyết định hiện tiền.
Này Xá-lợi Tử! Đây là Đại Bồ-tát có thể viên mãn Thiên nhãn thông và sự nghiệp trí tuệ.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Sao gọi là Đại Bồ-tát được Thiên nhĩ thông và viên mãn chánh hạnh thần thông trí nghiệp tối thượng?
Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát này Thiên nhĩ thanh tịnh vượt hơn người. Thiên nhĩ ấy có thể nghe tiếng nhân, phi nhân trong mười phương thế giới; có thể nghe tiếng Trời, tiếng Rồng, tiếng Dạ-xoa, tiếng Càn-thát-bà, tiếng A-tu-la, tiếng Nuy-lỗ-noa, tiếng Khẩn-na-la, tiếng Ma-hầu-la, tiếng nhân, tiếng phi nhân, tiếng Thánh nhân, tiếng
Thanh văn, tiếng Duyên giác, tiếng Bồ-tát, tiếng Phật. Đây gọi là Đại Bồ-tát nhiên nhĩ thanh tịnh. Thiên nhĩ ấy còn nghe được các tiếng tội nghiệp, tiếng địa ngục, tiếng bàng sinh, tiếng Diệm-ma-la giới, cho đến biên tế vi tế như tiếng bươm bướm, tiếng ong, tiếng bọ cạp, tiếng muỗi, tiếng ve và các ngữ nghiệp của hữu tình nói ra, hoặc tâm phan duyên thiện bất thiện, tất cả đều biết rõ, ngữ nghiệp nói ra căn thiện bất thiện, nhân và quả đều biết rõ. Nếu ngữ nghiệp tham thì liền biểu hiện ra nhiễm ái. Nếu ngữ nghiệp sân thì biểu hiện ra lời mắng chửi ác độc. Nếu ngữ nghiệp si thì biểu hiện tham sân. Các bản tánh ấy Bồ-tát dều biết rõ. Ngữ nghiệp si cũng biểu hiện lời mắng chửi ác độc; nếu ngữ nghiệp si thì biểu hiện sự ngu si đen tối, tất cả những trạng thái đó Bồ-tát đều biết rõ.
Lại nữa, trí Thiên nhĩ thông ấy biết rõ như thật phát sinh khéo léo, phá ngữ nghiệp ấy tùy thuận thanh tịnh, do đó nó có thể đối phá. Nếu ngữ nghiệp thanh tịnh thì nó có thể đối phá tất cả tham, sân, si… đều khiến thanh tịnh.
Lại nữa, Thiên nhĩ ấy nghe rõ được tiếng Thánh nhân, hoặc không phải Thánh nhân. Nghe như vậy rồi không sinh đắm trước tiếng Thánh nhân, còn đối với tiếng không phải Thánh nhân thì không đắm trước đối phá đối với tiếng Thánh nhân lại đạt được đại Từ, đối với tiếng không phải Thánh nhân thì phát khởi đại Bi, đối với tất cả tiếng không có tiền hậu tế, dùng trí quyết định biết rõ như thật.
Lại nữa, Thiên nhĩ ấy nghe chư Phật Thế Tôn nói pháp vi diệu trong mười phương tất cả thế giới, nghe rồi nhớ nghĩ thay đổi căn tánh, không sinh ngu si, nhiếp thọ tất cả, cũng không thất niệm. Như hữu tình ấy hiểu rõ căn tánh, biết rõ các pháp bình đẳng một vị.
Lại nữa, sau khi nghe một Đức Phật, hai Đức Phật nói pháp không sinh các sự tướng sai khác chướng ngại lẫn nhau.
/71
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »