Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 957.

Chương 60: Phụ Tử Hợp Tập Kinh - Quyển 10 - Phẩm 20: Thọ Ký Đại Phạm Thiên Vương (Trang 806 - 821)

PHỤ TỬ HỢP TẬP KINH
 
QUYỂN 10
 
Phẩm 20: THỌ KÝ ĐẠI PHẠM THIÊN VƯƠNG
 
Khi ấy, trong hội có sáu mươi ức chúng Phạm Thiên tử, thấy các A-tu-la cho đến Tha hóa tự tại thiên cúng dường Thế Tôn, lại nghe Đức Như Lai thọ ký cho họ, hoan hỷ phấn khởi kinh ngạc chưa từng có. Ở đời chư Phật quá khứ, các Thiên tử này thân cận cúng dường tích tập căn lành, tu tập thiền định sâu xa, vượt pháp thế tục; đối với chánh pháp của Đức Phật đều được pháp lạc tối thượng thậm thâm, thông đạt lìa mọi lý luận, sinh lòng tin hiểu quyết định. Biết rõ các pháp không phải làm, không phải không làm; không phải sinh, không phải không sinh; không phải được, không phải không được; không phải tận, không phải không tận, không phải lìa, không phải không lìa, không phải dơ không phải không dơ; không phải ngu, không phải không ngu, không phải trí; không phải không trí, không phải thấy không phải không thấy; không phải thủ, không phải không thủ; không phải không, không phải không không, không phải tướng, không phải không tướng; không phải nguyện, không phải không nguyện. Các Thiên tử này biết như vậy cho nên tâm không đắm trước, xa lìa các tưởng, không có chỗ nương tựa mong cầu, không có các thứ cầu tưởng, không có tác giả tưởng, không có pháp tác giả tưởng, không có phàm phu tưởng, không có pháp phàm phu tưởng, không có Thanh văn tưởng, không có pháp Thanh văn tưởng, không có Duyên giác tưởng, không có pháp Duyên giác tưởng; không có Bồ-tát tưởng, không có pháp Bồ-tát tưởng; không có Như Lai tưởng, không có pháp Như Lai tưởng; không có Niết-bàn tưởng, không có pháp Niết-bàn tưởng; không có luân hồi tưởng, không có pháp luân hồi tưởng. Các Thiên tử này rõ được pháp tánh như hư không, không
có nhiễm trước, đối với pháp Phật lìa tưởng phân biệt.
Lúc đó, Phạm Thiên vương chắp tay hướng lên Đức Phật với ý vắng lặng nói kệ khen Phật:
Như Lai đầy đủ tuệ bình đẳng
Tu hạnh vắng lặng đến bờ giác
Thuyết pháp tịch tĩnh độ quần sinh
Quán các thế gian thường vắng lặng.
Bồ-đề tịch tĩnh vốn không nhiễm
Nương cảnh vắng lặng không động loạn
Thường ăn vị cam lồ tịch tĩnh
Đối với tất cả đều thông đạt.
Đạo tịch tĩnh tối thượng như vầy
Người khéo quán sát được diệu lạc
Nương tám Chánh đạo từng huân tu
Hay đoạn phiền não trói thế gian.
Tu pháp tịch tĩnh chứng Bồ-đề
Đó là lời Phật trước đã nói
Nhất định đến được thành Niết-bàn
Như Phật Thế Tôn không có khác.
Nếu người chánh giác giáo của Phật
Thọ trì đọc tụng siêng tu tập
Cầu hướng vắng lặng môn giải thoát
Tất cả thế gian không ai bằng.
Khéo tu bình đẳng đạo vắng lặng
Các căn hóa vui thường thanh tịnh
Đủ các phước tuệ trang nghiêm khắp
Như Na-la-diên có sức mạnh.
Nếu rõ pháp cam lồ tịch tĩnh
Thì mới dứt sạch các hữu tướng
Quán sát thế gian không chỗ nương
Là con tối thượng của Như Lai.
Người này đã từng gặp chư Phật
Gieo trồng vô biên thắng thiện căn
Đạt môn Đẳng trì vắng lặng này
Dứt trừ các hoặc không nhiễm trước.
Do đủ chánh niệm lực tinh tấn
Lìa mọi siểm khúc tưởng biếng nhác
Biết rõ sinh tử tức Niết-bàn
Hay lìa xa các tướng thế gian.
Chư Phật xuất hiện ở thế gian
Diễn nói pháp vắng lặng giải thoát
Người trí thông đạt không có nghi
vĩnh thoát biển sinh tử luân hồi.
Nếu người dối uẩn cầu giải thoát
Đối pháp tịch tĩnh không ham thích
Chỉ ngộ pháp uẩn không chắc chắn
Đối Phật Bồ-đề sinh sợ hãi.
Lìa dục tâm tịnh cầu giải thoát
Hay dùng minh tuệ khéo lựa chọn
Các người ngu trước dục chấp tướng
Nên Phật chưa khai thị cho họ.
Nếu chấp tịch diệt cũng là trói
Không thể thành tựu Nhất thiết trí
Không khởi tất cả tâm chấp trước
Đó là khéo trụ hạnh vô tướng.
Hay đến chỗ vô danh an ổn
Đạt được công đức Phật thanh tịnh
Dứt trừ tranh luận phục ma oán
Hay đoạn tất cả trói phiền não.
Con dùng ý tịch tĩnh bình đẳng
Tán thán công đức tụ Mâu-ni
Hồi hướng pháp giới các hữu tình
Đồng chứng quả Bồ-đề vô thượng.
Lúc đó, Đại phạm Thiên vương biết các Phạm chúng Thiên tử khát ngưỡng công đức của Phật, chắp tay hướng lên Đức Phật nói kệ rằng:
Mâu-ni rõ được pháp thế gian
Quyết định hư giả như hư không
Cũng như mây thu và điện chớp
Phật thường chỉ rõ dứt các vọng.
Như người trong mộng bị đói bứt
Gặp thức ăn ngon thật tối thượng
Nhưng thật không ăn cũng không người
Pháp Như Lai chứng cũng như vậy.
Lại như người trong mộng đói khát
Được uống nước cam lồ mát mẻ
Nên biết khát uống thảy đều không
Pháp Như Lai chứng cũng như vậy.
Như ở trong mộng nghe tiếng hay
Những lời nói ấy thật không được
Cũng không người nói và người nghe
Rõ pháp như vậy không nghi hoặc.
Lại như tiêu sáo phát tiếng hay
Tiếng ấy vốn không có tự tánh
Người trí quán uẩn lý như vậy
Biết uẩn tự tánh không thể được.
Không làm không thọ không chúng sinh
Không có tạo nghiệp và thọ báo
Cũng không người thọ quả báo kia
Đức Phật biết rõ được lý này.
Ví như ma-ni thể trong suốt
Để nó trên áo tùy sắc biến
Tự tánh các pháp vốn không trần
Tùy theo phân biệt nhiễm càng tăng.
Lại như thổi ốc phát tiếng lớn
Nhưng tìm tiếng vang không được gì
Tự tánh tiếng ấy xưa nay không
Phật rõ các pháp cũng như vậy.
Lại như thức ăn ngon thế gian
Bởi do các vị hợp lại thành
Quán tự tánh nó xưa nay không
Phật rõ các pháp cũng như vậy.
Như tràng Đế Thích cực kỳ cao
Vô tư mà hiện các sắc tượng
Tự tánh tràng ấy xưa nay không
Thế Tôn chứng pháp cũng như vậy.
Ví như thân mượn các duyên thành
Tìm thể tướng ấy không thể được
Nên biết các uẩn vốn như vậy
Pháp Như Lai chứng cũng như thế.
Như khi đánh trống phát ra tiếng
Làm cho người nghe sinh vui thích
Nhưng tiếng vang ấy xưa nay không
Pháp Như Lai chứng cũng như vậy.
Như người dùng đùi đánh vào trống
Hãy tìm xem tiếng hiện nơi đâu
Đến khi tiếng lặng hướng phương nào
Pháp Như Lai chứng cũng như vậy.
Lại như tiếng trống không yêu ghét
Lìa duyên ẩm ướt tiếng mới vang
Thân này hư giả cũng như vậy
Pháp Như Lai chứng cũng như thế.
Như người đánh trống phát tiếng vang
Tiếng ấy mặc tình không sở triệu
Rõ thân như thế tự tánh không
Pháp Như Lai chứng cũng như vậy.
Khi ấy, Đức Thế Tôn biết được tâm niệm của các Phạm chúng Đại Phạm vương với ý tịch tĩnh khen ngợi Như Lai, liền từ trong miệng phóng ra ánh sáng lớn, khiến chúng hội thấy ánh sáng này rồi, chánh kiến kiên cố, tuệ thanh tịnh tăng trưởng.
Lúc đó, Tôn giả Tỳ-kheo Mã Thắng dùng kệ thưa hỏi:
Hôm nay Như Lai hiện tướng lạ
Phóng quang thanh tịnh rất hiếm có
Các hàng trời, người, rồng, quỷ, thần
Thấy thần biến này đều nghi hoặc.
Mâu-ni tối thượng Điều Ngự Sĩ
Hiện điềm tốt này vì nhân gì
Xin Phật khai diễn nhân phóng quang
Khiến các chúng hội tâm vui thích.
Chúng con nhất tâm sinh khát ngưỡng
Chiêm ngưỡng từ dung không tạm rời
Nếu được nghe tiếng phạm âm Phật
Mỗi mỗi trừ nghi sinh tin hiểu.
Như Lai hiện việc thần thông này
Là vì tự niệm các chúng sinh
Duyên gì phóng quang thanh tịnh này
Nay đã đúng lúc xin khai thị.
Đại Thánh Mâu-ni phương tiện lực
Khiến thời có phát tâm tăng thượng
Các chúng chắp tay đứng trước Phật
Cúi xin Như Lai mau diễn nói.
Lúc đó, Đức Thế Tôn vì Tỳ-kheo Mã Thắng nói kệ rằng:
Mã Thắng ông thấy ánh sáng này
Vì muốn thành thục hết hữu tình
Chúng hội nếu nghe lời ta nói
Thì đối Bồ-đề không thoái chuyển.
Đại phạm Thiên vương các phạm chúng
Thông đạt pháp tánh trừ nghi hoặc
Ở trong vô lượng vô biên kiếp
Tu tập vô biên hạnh thanh tịnh.
Đối các cảnh giới không nhiễm trước
Tâm như hư không không trở ngại
Thường ưa lợi lạc các hữu tình
Nhưng lại không chứng quả Bồ-đề.
Như vậy họ ở đời vị lai
Quá hơn vô lượng hằng sa kiếp
Tu chứng đầy đủ môn giải thoát
Thành tựu vô biên nhẫn lực lớn.
Rồi sau mới thành đạo vô thượng
Hiệu là Đại Nhẫn Lực Như Lai
Điều phục nhiếp hóa các quần sinh
Quán các thế gian đều vắng lặng.
Phật ấy thọ mạng rất lâu dài
Xưa cùng tu hành các kiếp số
Đủ đại oai đức và danh xưng
Cứu khổ sinh tử của hữu tình.
Cõi Phật kia thật là nghiêm tịnh
Giàu có sung túc không ai bằng
Dù có trải qua vô lượng kiếp
Nói công đức ấy không thể hết.
Phật kia nói pháp chẳng nghĩ bàn
Tự tánh không tịnh không chỗ nương
Tất cả chúng sinh trong cõi ấy
Thành thục thiện căn không tổn giảm.
Dứt sạch tận nguồn khổ luân hồi
Không còn ai thọ thân sau nữa
Cũng không tên quỷ, súc, địa ngục
Chỉ có các hành khổ Thiên lưu.
Do ngộ các hành là vô thường
Đều phát thắng nguyện sinh nhàm chán
Thế nên hữu tình ở cõi kia
Vĩnh viễn xa lìa già, bệnh, chết.
Lại hữu tình kia khéo tu hành
Tai không nghe đến các tiếng khác
Chỉ nghe vô ngã và vô thường
Khổ, không, tịch tĩnh pháp vô tướng.
Phụng trì lời Phật không buông lung
Thường tu thuần định hạnh chân thật
Hướng cầu cam lồ môn giải thoát
Tối thượng tối thắng đạo Bồ-đề.
Tất cả chùa tháp ở cõi kia
Hoặc tường, hoặc vách và cây rừng
Đều phát tiếng Phạm âm thanh tịnh
Người nghe đều lên địa không thoái.
Là sức thần thông của Như Lai
Diễn tám thứ tiếng Phạm âm này
Nghe rồi xả bỏ dòng sinh tử
Cầu chứng tịch tĩnh vui chân thường.
Tất cả chúng sinh ở cõi ấy
Ở thời quá khứ hằng sa kiếp
Vì Bồ-đề nên từng tu hành
Nay theo thứ tự được thành Phật.
Đại Phạm Thiên vương các Phạm chúng
Do thường tu chứng lý tịch diệt
Lúc đó Phật kia và chúng sinh
Đồng ăn vị cam lồ tịch diệt.
Lại quán chúng sinh giới vốn không
Chưa từng tạm khởi tưởng mệt mỏi
Nên hay biến nhập các pháp tánh
Thường tu hạnh vô tướng vắng lặng.

 


Phẩm 21: THỌ KÝ QUANG ÂM THIÊN

Khi ấy, trong hội có tám mươi ức Quang âm thiên, thấy các A-tu-la vương cho đến Phạm Thiên vương ở chỗ Đức Thế Tôn đều hiện thần biến cúng dường các món; lại nghe Như Lai thọ ký cho họ thành Chánh đẳng Chánh giác, hoan hỷ phấn khởi thật chưa từng có.
Lúc đó, Thiên chủ từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai phải cúi đầu đảnh lễ, rồi đứng trước Đức Phật bạch rằng:
–Bạch Thế Tôn! Có Tam-ma-địa tên là Chiếu sáng các pháp. Nếu có Bồ-tát nào khéo tu tập Tam-ma-địa này thì có khả năng hiểu được tất cả các pháp, lại còn có thể đạt được vô lượng biện tài như: Vô trước biện tài, Gia trì biện tài, Thiện xảo biện tài, Mỹ diệu biện tài, Thích ý biện tài, Ly phược biện tài, An ổn biện tài, Thậm thâm biện tài, Vi diệu biện tài, Vô đẳng biện tài, cho đến đạt được Như Lai sở hữu tối thượng biện tài.
Thưa Thế Tôn! Sao gọi là Tam-ma-địa Chiếu sáng các pháp? Nếu Đại Bồ-tát nào được Tam-ma-địa này, đối với tất cả pháp không có tầm từ và tác ý. Nếu lìa những tâm sở ấy thì không có nghi hoặc. Như vậy đối với các pháp đoạn trừ nghi hoặc, đối với tất cả mọi nơi thông đạt không ngại. Vì sao? Vì các pháp lìa tự tánh. Nếu rõ được các pháp tự tánh không có thì Bồ-tát ấy có thể hiểu được nghĩa môn chữ A.
Chữ A là vô tác, A là biến khắp, A không phải là hữu vi, A không phải vô vi, A không phải không thành tựu, A không chỗ nương tựa, A là không động, A là không loạn, A không phải phân biệt, A không phải lìa phân biệt, A không phải rốt ráo, A không phải tan hoại, A không phải hình sắc, A không phải hiển sắc, A không phải trụ trì, A không phải định trụ, A không phải biết,A không phải thấy, A không phải ngôn thuyết, A không phải lìa ngôn thuyết, A không phải nghĩ bàn, A không phải lìa nghĩ bàn, A không phải đến đi, A không phải ra vào, A không phải hữu biểu, A không phải vô biểu, A không phải danh, A không phải tướng, A không phải đối trị, A không phải che lấp, A không phải tận, A không phải vô tận, A không phải hai, A không phải không hai, A không phải chân thật, A không phải hư vọng, A không phải cấu, A không phải tịnh, A không phải lìa tịnh, A không phải chấp, A không phải lìa chấp, A là không sinh, không thể không sinh, không có một pháp nhỏ nào có thể sinh, A là không diệt, không thể không diệt, không có một pháp nhỏ nào có thể diệt, A là bất không, không thể bất không, A là không tướng, không thể không tướng, A là không nguyện, không thể không nguyện. Khi hiểu
được như vậy rồi biết không phải là hý luận. Đó gọi là hiểu được nghĩa môn chữ A.
Thưa Thế Tôn! Lại các pháp từ ý mà sinh, do chữ A cho nên dẫn sinh chữ Đạt. Nếu có thể hiểu được chữ Đạt thì có thể hiểu được tất cả giáo pháp.
Điều mà gọi là hiểu rõ pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp hữu biểu, pháp vô biểu, pháp thế tục, pháp thắng nghĩa.
Thưa Thế Tôn! Pháp thắng nghĩa chỉ là một chân như. Dùng lời nói để diễn đạt cho rõ thì do đâu mà có thể hiểu.
Thưa Thế Tôn! Như người trong mộng làm tất cả mọi việc. Cảnh mộng không phải thật, chỉ có giả danh. Khi thức rồi biết rõ đều do tâm tạo.
Thưa Thế Tôn! Như tiếng vang trong hang trống, tự tánh không thật, do hòa hợp mà sinh.
Thưa Thế Tôn! Như người huyễn hóa làm việc huyễn, người ngu không rõ cho là có thật.
Thưa Thế Tôn! Như sóng nắng vọng sinh tưởng là nước, người trí biết rõ thể của nó vốn không.
Thưa Thế Tôn! Lại như các sắc tượng hiện trong gương, vọng sinh phân biệt thật không thể được. Các pháp tánh không cũng lại như vậy, chỉ làm cho người ngu vui thích, các pháp xưa nay rốt ráo vắng lặng.
Thưa Thế Tôn! Con xưa từng nghe Phật trước đã nói pháp thắng nghĩa đế, thấy được chân thật.
Các Thiên tử này nói vậy rồi, Đức Phật liền ấn khả, cúi đầu đảnh lễ dùng kệ khen Phật:
Thế Tôn thông đạt Đệ nhất nghĩa
Nên hay lần lượt nói các pháp
Những người chân Phật tử thông tuệ
Đối lời Phật dạy hay du hý.
Người đời ngu si lại ít trí
Do trước ngã nên không thể hiểu
Ngã và ngã sở xưa nay không
Tìm cầu mười phương không thể được.
Như thấy sóng nắng không phải nước
Người ngu vọng tưởng cho là nước
Điên đảo như vậy chấp là ngã
Đều do nhiễm tuệ mê chân trí.
Đối với năm dục sinh ham thích
Chịu mọi sinh tử các khổ độc
Tự tánh các uẩn xưa nay không
Người ngu đọa lạc vào các nẻo.
Do không chánh trí tâm cuồng loạn
Đối các cảnh khổ vọng là vui
Bị ba lửa độc luôn thiêu đốt
Chưa từng giác ngộ sinh sợ hãi.
Người ngu không chán các cấu hoặc
Như theo giặc oán làm bạn thân
Nghe Như Lai nói thắng nghĩa không
Hoặc sinh sợ hãi, hoặc khinh chê.
Cũng như người yếu đuối thế gian
Tuy cầm kiếm bén tâm lo sợ
Như Lai diễn nói pháp chân chánh
Đó là một chữ A vi mật.
Phát sinh tuệ tối thượng chân thật
Cũng như đất bằng sinh cây cao
Khéo hay điều phục các quân ma
Mau chứng đạo Vô thượng Bồ-đề.
Mâu-ni có các đệ tử giỏi
Thông đạt đệ nhất nghĩa như vậy
Đã tự tiêu phục cấu ba độc
Thấy người bị độc ban pháp dược.
Dùng tám Chánh đạo làm thuyền lớn
Chuyên chở quần sinh thoát biển khổ
Khiến biết các pháp xưa nay không
Dứt các dị luận vọng phân biệt.
Người sáng bỏ tà về chánh đạo
Do xưa đã tu căn lành ấy
Rõ thể tánh pháp xưa nay không
Tâm không đắm trước liền giải thoát.
Nếu đạt pháp tánh tức bằng Phật
Đây là đại trí Na-la-diên
Các pháp tánh không không thể không
Cũng không trói buộc và người trói.
Chân như vắng lặng lìa các tướng
Thể không cấu nhiễm cũng không tịnh
Do vì pháp ấy vốn như vậy
Không phiền não trói cũng không đoạn.
Biết rõ các pháp tánh như vậy
Người này không lâu được Bồ-đề
Tự mình được độ lại lợi tha
Bàn bạc chánh lý không mong đáp.
Hữu tình thường sinh tưởng hư vọng
Đối cảnh chấp trước tướng nam nữ
Tăng trưởng ngu si tâm nhiễm ô
Cũng như quá khát theo sóng nắng.
Do tạo mỗi nghiệp sinh các nẻo
Nghiệp này đều do vọng tưởng sinh
Rõ thể tánh nghiệp xưa nay không
Rốt ráo không thể có tác giả.
Chúng con đã hiểu nghĩa Phật dạy
Biểu thị pháp môn khó nghĩ bàn
Quy mạng Mâu-ni Đại Đạo Sư
Các căn vắng lặng không đắm trước.
Như Lai thanh tịnh không cấu uế
Thành tựu vô biên biển công đức
Làm đèn sáng soi cho ba cõi
Kham nhận cúng dường của chư Thiên.
Chúng con nay ở trong đại hội
Tán thán Năng Nhân đại phước tụ
Lành thay, Vô tỷ Đấng Lưỡng Túc
Rốt ráo các pháp nghĩa thật tướng.
Do vậy nên được sức thiện căn
Hồi hướng chúng sinh trong ba cõi
Nguyện đời vị lai ở cõi tịnh
Nhất định thành tựu quả Bồ-đề.
Biết được tâm niệm của Quang âm Thiên tử, thông đạt được pháp Phật, đầy đủ biện tài thù thắng to lớn, hy vọng được Như Lai thọ ký thành Phật, Đức Thế Tôn từ trong miệng phóng ra ánh sáng lớn. Tôn giả Tỳ-kheo Mã Thắng thấy việc này rồi, liền chắp tay hướng lên Đức Phật dùng kệ thưa hỏi:
Đại Bi cứu hộ khắp thế gian
Thành tựu công đức tụ tốt đẹp
Dùng sức phương tiện dứt các nghi
Phóng ánh sáng này rất hy hữu.
Chúng hội đều nghe lời Phật dạy
Tâm sinh tịnh tín nhất định hiểu
Siêng Tu-diệu hạnh hướng Bồ-đề
Vượt khỏi biển sinh tử luân hồi.
Tất cả Trời, Người, A-tu-la
Bị già bệnh chết nó bức bách
Như Lai thường dùng tâm đại Bi
Cứu giúp khiến tu tám Thánh đạo.
Do nhờ dũng mãnh siêng tinh tấn
Thâm tâm kiên cố không thoái lui
Ưa tu pháp môn hay như vậy
Thệ chứng Bồ-đề cầu trí Phật.
Khiến chúng hội này không nghĩ khác
Nhất tâm chiêm ngưỡng từ dung Phật
Nguyện nghe âm vi diệu Như Lai
Cắt đứt lưới nghi sinh vui thích.
Thấy Phật hiện việc thần biến này
Từ miệng phóng quang rất thanh tịnh
Thí như bệnh nặng gặp lương y
Cũng như con thơ nhìn cha mẹ.
Người nào thỉnh hỏi pháp tạng sâu
Đầy đủ rộng lớn sức Bi nguyện
Đạt được môn bí mật tối thượng
Cảm Phật hiện việc hy hữu này.
Chúng hội tâm đều rất hoan hỷ
Muốn nghe Phật nói nhân phóng quang
Đều được đầy đủ tâm thanh tịnh
Tu tập Tam-ma-địa như vậy.
Lúc đó, Đức Thế Tôn vì Tỳ-kheo Mã Thắng nói kệ rằng:
Mã Thắng đầy đủ diệu biện tài
Hay hợp quần tâm nên thưa hỏi
Nay chính là lúc nói nhân này
Đây là sức thần biến Như Lai.
Các chúng Quang Âm Thiên tử này
Thuở xưa từng cúng vô số Phật
Quán sát khổ chúng sinh thế gian
Thệ cầu Phật đạo mà cứu độ.
Đã tu hạnh chân thật rộng lớn
Quyết định sẽ được Nhất thiết trí
Vì họ đã bám chặt vào tà kiến
Chỉ bày đều khiến về chánh đạo.
Và cũng nhờ nghe chánh giáo Phật
Thâm nhập nghĩa vị sinh tôn trọng
Cũng như các người nữ thế gian
Muốn được sinh nam tâm đầy đủ.
Các Thiên tử này tâm thanh tịnh
Chí cầu vô thượng Phật Bồ-đề
Từng trong vô lượng vô biên kiếp
Tu tập lợi tha hạnh thù thắng.
Giáo hóa chúng sinh không hạn lượng
Đều hay phát khởi tâm Đại thừa
Đầy đủ phước trí tướng nghiêm thân
Đến kiếp Tinh tú đều thành Phật.
Các Thiên tử ấy khi thành Phật
Quốc độ vô lượng trăm ức kiếp
Rộng lớn thù diệu khó nghĩ bàn
Trang nghiêm mọi thứ không gì bằng.
Các cõi Phật kia chưa từng nghe
Đến ba đường ác và tám nạn
Cũng không người chứng quả Nhị thừa
Mỗi mỗi đều lên địa không thoái.
Lại ở trong các cõi Phật kia
Thọ lượng hữu tình đều bằng nhau
Đầy đủ mười ức hằng hà sa
Thường hay phụng thờ các Đức Phật.
Nếu khiến vô số các chúng sinh
Y pháp Nhị thừa thủ diệt độ
Không bằng giáo hóa nơi một người
Hoặc nam hoặc nữ tu đại hạnh.
Đem phước tụ kia so với đây
Trăm ngàn vạn phần không bằng một
Huống nữa là khuyên nơi nhiều người
An trụ Đại thừa đạo Bồ-tát.
Mã Thắng ông nay nên lắng nghe
Như Lai xuất thế rất hiếm có
Ví như hoa Ưu-đàm-bát-la
Trải vô biên kiếp khó gặp được.
Phương tiện khéo léo mà nói pháp
Khai thị đạo chân thật vô vi
Người chí cầu Bồ-tát tịch tĩnh
Phải nên cung kính luôn thân cận.
Vô biên vô số các Thiên tử
Tung y báu đẹp trên không xuống
Lại dùng kệ hay rất thanh tịnh
Khen ngợi công đức của Như Lai.
Phật nói pháp cam lồ tịch tĩnh
Trừ khử nhiệt phiền não chúng sinh
Nếu phụng hành theo lời Phật dạy
Lần lần được thành Vô thượng giác.
/71
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »