Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Đại Tập 45 - Bộ Bảo Tích IV - Số 313 - 320

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 957.

Chương 54: Phụ Tử Hợp Tập Kinh - Quyển 4 - Phẩm 5: Bản Hạnh Của Như Lai (Trang 722 - 733)

PHỤ TỬ HỢP TẬP KINH

QUYỂN 4

Phẩm 5: BẢN HẠNH CỦA NHƯ LAI

 
Khi ấy, Tôn giả đại Ca-diếp-ba thấy các A-tu-la vương ở trong hội Phật, dùng sức thần thông hóa các món cúng dường rộng lớn rồi khen ngợi chưa từng có. Lại suy nghĩ: “Thuở xưa, khi Như Lai hành đạo Bồ-tát trồng những căn lành gì mà nay được quả báo thù thắng tối thượng như vậy.”
Suy nghĩ vậy rồi liền nhập Tam-ma-địa nhất tâm quán sát. Nhờ sự gia trì của Phật nên liền nhớ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, Đức Thế Tôn dù ở nơi nào cũng siêng năng tu tập vô lượng vô biên phước nghiệp rộng lớn, nhất nhất hiển hiện rõ ràng chắc chắn, không còn nghi ngờ. Giả sử mười phương hằng hà sa số thế giới có tất cả chúng sinh đều được thân người. Lại ở trong hằng hà sa kiếp ấy, mỗi mỗi hữu tình đều phát khởi cúng dường như Vĩ-ma-tức-đát-la A-tu-la vương, nhưng phước đó không bằng công đức của Như Lai chỉ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác, không thể so sánh.
Lúc đó, Tôn giả Ca-diếp-ba xả định, hoan hỷ chắp tay dùng kệ khen Phật:
Thuở xưa Mâu-ni Đại Thánh Vương
Thệ cầu Vô thượng đại Bồ-đề
Tu la cúng dường tuy rộng lớn
Nhưng không bằng phước phát đại tâm.
Như Lai Thánh đức vượt ba cõi
Ở trong trời người không ai bằng
Chứa hương chiên-đàn như Tu-di
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Hương xoa thượng diệu rất thanh tịnh
Lượng ấy to lớn như biển cả
Nhân Trung Sư Tử hiện thế gian
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Hoặc rải các hoa thơm tuyệt đẹp
Chứa nhóm cao như đảnh luân vi
Thánh đức Như Lai khó nghĩ bàn
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Đem nước biển cả làm dầu thắp
Lượng nước Tô-di để làm tim
Đốt lên phụng cúng Đại Đạo Sư
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Hoặc đem vô số vòng hoa đẹp
Dâng cúng Như Lai và tháp miếu
Oai đức Thế Tôn thật to lớn
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Giá như vô lượng vạn ức kiếp
Đem vạn ức bảo cái tuyệt đẹp
Như Lai khéo giáo hóa phụ vương
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Trong vạn ức kiếp chẳng nghĩ bàn
Dùng tràng báu khắp mười phương giới
Như Lai thành tựu đại Từ môn
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Lại trong vô lượng vạn ức kiếp
Dùng hà sa số phan lụa đẹp
Mâu-ni lợi lạc các chúng sinh
Kham nhận cúng dường lớn như thế.
Như Lai khéo nói các pháp yếu
Tất cả chúng sinh đều lắng nghe
Pháp Trung Vương biện tài vô ngại
Ngôn từ khéo léo không trùng lập.
Giả sử hằng hà sa thế giới
Chúng sinh ở trong thế giới ấy
Đều vì mười lực Thiên Nhân Sư
Đồng hiện thế gian thành Phật đạo.
Vô số hà sa Phật như vậy
Mỗi mỗi hóa ra vô lượng đầu
Mỗi mỗi đầu hiện trăm ngàn miệng
Miệng ấy lại có trăm ngàn lưỡi.
Ở trong hằng hà sa kiếp ấy
Khen biển công đức của Như Lai
Thọ lượng trí tuệ và phát tâm
Không thể hiểu biết một phần nhỏ.
Lúc đó, Đức Thế Tôn khen Tôn giả Ma-ha Ca-diếp-ba:
–Hay thay, hay thay! Này Ca-diếp-ba! Nay ông ở trong chúng Thanh văn tu hành phạm hạnh, thông đạt các pháp, hiện chứng thật tế, tâm được tịch tĩnh, đối với công đức uẩn sở chứng của ta khéo hiểu rõ, suy nghĩ quán sát. Ta đã thành tựu vô lượng vô biên phước đức chẳng thể nghĩ bàn, đã đến bờ giác ngộ tối thượng đệ nhất.
Này Ca-diếp! Như Lai chỉ phát một đại tâm mà được phước báo như thế, dù có sắc tướng trong mười phương hằng hà sa thế giới cũng không dung thọ nổi. Giả sử mười phương hằng hà sa số chư Phật Thế Tôn đồng ra đời, trải qua hằng hà sa số kiếp để nói công đức có được của Như Lai phát một đại tâm cũng không thể hết được. Vì sao? Vì thuở xưa, khi Như Lai tu hạnh Bồ-tát, không một phát tâm nào mà không vì nhiếp thọ, lợi ích an lạc tất cả hữu tình. Nhưng hữu tình giới thì không có hạn lượng, Như Lai phát tâm cũng không có hạn lượng. Vì hữu tình giới rốt ráo vô tận, nên Như Lai phát tâm cũng vô tận. Thế nên, ta nay được các hàng Trời, Người, A-tu-la, cúng dường như vậy. Giả sử tất cả chúng sinh trong mười phương hằng hà sa thế giới đều phát tâm cúng dường như A-tu-la vương kia, nhưng cũng không bằng công đức phát một đại tâm. Vì sao? Vì các hữu tình kia tâm không thanh tịnh, đắm trước quả báo. Ca-diếp nên biết! Quá khứ chư Phật xuất thế, mới phát đại tâm đều vì thương xót tất cả hữu tình khiến thoát luân hồi được vui Niết-bàn. Nay việc ta làm cũng lại như vậy.
Lại nữa, này Ca-diếp-ba! Ta nhớ quá khứ vô lượng vô biên

không thể kể hết, a-tăng-kỳ kiếp chẳng thể nghĩ bàn. Khi ấy có Đức Phật ra đời hiệu là Đế Tràng Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Chúng sinh trong cõi Phật ấy không tạo tội ác, tâm không tán loạn, không khởi suy nghĩ tà vạy, không có tri kiến điên đảo và kiêu mạn, ba nghiệp thân, ngữ, ý hoàn toàn thanh tịnh phục trừ phiền não, lìa nhân ác thú, siêng năng tu tập, sách tấn lẫn nhau, hay ở trong nhiều kiếp sinh tử phát tâm dũng mãnh, hâm mộ Đại thừa, lắng nghe chánh pháp, như thuyết tu hành. Trong cõi Phật ấy có năm thứ vui:
1. Muốn vui.
2. Xuất ly vui.
3. Định vui.
4. Đẳng trì vui.
5. Bồ-đề vui.
Các chúng sinh ấy thường thọ vui như vậy. Tuy có thọ vui, nhưng không đắm trước. Như ong hút mật hoa chỉ để kéo dài mạng sống; như chim bay trên hư không không bị chứơng ngại. Các chúng sinh này cũng lại như vậy. Lại nữa, các hữu tình này không có tham lam sân nhuế, ngu si và các nghiệp phiền não lỗi lầm, tùy theo thiện nghiệp đời trước mà thọ vui. Vì sao? Vì Đức Phật ấy khi tu hạnh Bồ-tát, giáo hóa chúng sinh chỉ thuần với thiện hạnh. Giá như đời trước có nghiệp bất thiện, thì sức thiện căn hiện tại tiêu diệt không cho khởi lại. Thế nên, tất cả hữu tình ở cõi ấy chỉ có thọ vui, tương ưng hiện hành.
Lại nữa, cõi Phật ấy không có các nạn bạo ác, mưa, gió, lạnh rét, nóng bức, tùy thời mong muốn liền mưa nước ngọt. Lại các chúng sinh ấy thường thích nghe pháp, đều có khả năng thông đạt các pháp, tôn trọng cung kính, hoặc kinh hành, hoặc ngồi, hoặc đứng, suy nghĩ nghĩa thú pháp vị thậm thâm, không biết mệt mỏi, chưa từng ngủ nghỉ, trong bốn oai nghi siêng năng tu tập. Do pháp lạc này, nên không sinh lao khổ, chỉ tu chánh đoạn không có tri kiến điên đảo, nếu như có sai lầm thì liền cải đổi ngay, cho nên không có khổ thọ. Thuở xưa, Đức Như Lai kia tu hành thân, ngữ, ý nghiệp
chưa từng sai lầm, hễ có làm việc gì đều có người trí hướng dẫn, nói pháp Bồ-tát giáo hóa chúng sinh. Người nghe pháp rồi tùy theo trí tuệ mà thực hành, làm các việc nghĩa lợi, không phải vì si ái cho nên không có khổ, không có thọ vui. Chúng sinh trong cõi ấy tâm đều bình đẳng, dù bất cứ nơi nào cũng như lý an trụ, cho nên không có khổ oán ghét gặp nhau. Lại các chúng sinh ấy không có kia đây, đối với tất cả pháp không bị đắm trước, cho nên không có khổ thương yêu chia lìa. Lại các chúng sinh ấy đối với các thiện pháp không sinh khinh mạn, cũng không hủy báng, cho nên không có khổ cầu không được. Chúng sinh ở cõi ấy bị hữu vi dời đổi nên có hành khổ. Vì sao? Vì Đức Phật kia nói pháp Đệ nhất nghĩa đế vi diệu.
Lại nữa, này Ca-diếp! Đức Đế Tràng Như Lai xuất hiện thế gian, thọ mạng lâu dài vô lượng vô biên hằng hà sa kiếp. Chúng sinh trong thế giới ấy đầy đủ biện tài, khéo nói pháp yếu. Các chúng sinh này đều là do chư Phật Thế Tôn quá khứ giáo hóa thành thục, đời vị lai sẽ sinh vào cõi ấy.
Này Ca-diếp! Ý ông nghĩ sao? Cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh rộng lớn như vậy, có các hữu tình nào mà không có lòng tin, không có giới, không có định, không có tuệ, ít nghe biếng nhác mà được sinh vào cõi ấy không?
Ca-diếp-bạch Phật:
–Không thể được, thưa Thế Tôn.
Đức Phật bảo:
–Này Ca-diếp! Ý ông nghĩ sao? Cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh rộng lớn như vậy, lại có chúng sinh thiện căn nhỏ nhoi, thiện căn kém cỏi, thiện căn yếu đuối, nghiệp tập phiền não, bị khổ nhiếp thuộc. Đem bất tịnh như vậy mà hồi hướng thì có thể sinh vào cõi ấy không?
Ca-diếp-bạch Phật:
–Không thể được, thưa Thế Tôn! Chúng sinh muốn sinh vào cõi Phật ấy thì phải đầy đủ thiện căn thuần tịnh không tạp, suy nghĩ chân chánh, giải thoát các khổ, đa văn tinh tấn, hồi hướng thanh tịnh, đều được Phật trước hóa độ. Chúng sinh như vậy mới được sinh vào cõi ấy.
Đức Phật khen Ca-diếp:
–Hay thay, hay thay! Như lời ông nói, việc ấy đúng như vậy, ý ông nghĩ sao? Ông có biết Như Lai Đế Tràng thuở xưa nay là ai không? Lúc đó, các Tỳ-kheo đều im lặng không ai trả lời. Đồng thời ở phương Đông cách thế giới này quá hằng hà sa thế giới có nước tên là Nguyệt Quang trang nghiêm, có Phật hiệu là Quang Minh Tụ hiện đang nói pháp. Trong hội Phật ấy có đồng tử Diệu Cát Tường, từ xa nghe thế giới này thưa hỏi nhân duyên, biết các đại chúng không ai có thể đáp. Đồng tử Diệu Cát Tường bạch Phật Quang Minh Tụ:
–Bạch Thế Tôn! Con nay sẽ qua thế giới Ta-bà, chỗ của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, vì chúng hội mà giải đáp câu hỏi của Đức Thích-ca Mâu-ni.
Lúc đó, Quang Minh Tụ Như Lai bảo đồng tử:
–Tùy ý ngươi nên đi.
Ngay khi ấy, đồng tử liền rời khỏi thế giới đó, dùng sức thần thông chỉ trong khoảng co duỗi cánh tay đã đến thế giới Ta-bà chỗ Phật Thích-ca Mâu-ni. Đến rồi, đảnh lễ sát chân và đứng qua một bên.
Lúc đó, Đức Phật Thế Tôn hỏi đồng tử:
–Vì lý do gì mà ông đến đây?
Đồng tử Diệu Cát Tường chắp tay bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con vì chúng hội trả lời câu hỏi của Thế Tôn, cho nên mới từ xa đến đây. Bạch Thế Tôn! Đức Đế Tràng Như Lai thuở đó đâu phải người nào lạ, nay chính là Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni Như Lai. Vì sao? Vì Phật Thế Tôn thành tựu đầy đủ công đức vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, phương tiện khéo léo, thương xót hữu tình, đều khiến an trụ trong đạo Bồ-đề.
Nghe như vậy cả chúng hội đều khen:
–Hay thay! Đồng tử khéo trả lời câu hỏi này giải quyết các lưới nghi, nay lời ông vừa nói mới là đúng, là lời chân thật, là lời tối thượng.
Lúc đó, đồng tử vì chúng hội nói kệ rằng:
Thánh chúa Thích Sư tử
Đủ dũng mãnh tinh tấn
Thương xót khắp thế gian
Hiện việc chẳng nghĩ bàn
Đức Mâu-ni Thế Tôn
Quá khứ đã từng làm
Tám mươi ức Đức Phật
Thành tựu các hữu tình.
Thường dùng tâm đại Bi
Nghiêm tịnh quốc độ Phật
Ngu muội không thể biết
Đủ mọi phương tiện hay.
Không bỏ tâm mới phát
Tùy cơ mà ứng hiện
Cũng ở đời vị lai
Lại hiện vô lượng thân.
Hoặc hiện làm Thích, Phạm
Hoặc hiện làm Ma vương
Hữu tình khắp pháp giới
Phần nhỏ cũng không biết.
Hoặc hiện sinh vương cung
Thành đạo chuyển pháp luân
Cho đến nhập Niết-bàn
Hiển hiện công đức Phật.
Hoặc tùy theo chủng loại
Hiện làm tướng người nữ
Không nhiễm pháp thế gian
Như sen tánh vốn sạch.
Hoặc buồn rầu khóc lóc
Hoặc ca múa giỡn cười
Hoặc đi trên hư không
Đều vì làm Phật sự.
Người sợ khiến an ổn
Kiêu mạn khiến nhu thuận
Vì lợi ích chúng sinh
Hiện các thứ điều phục.
Người si khiến lìa si
Người ngu được trí sáng
Vì lợi ích chúng sinh
Bày phương tiện khéo léo.
Người cuồng được chánh niệm
Người què đi an ổn
Vì lợi ích chúng sinh
Hiện các việc thần biến.
Thế nên con đảnh lễ
Tinh tấn không nghĩ bàn
Hóa độ các hữu tình
Đều khiến vào Phật đạo.

Phẩm 6: THỌ KÝ CA-LÂU-LA VƯƠNG

 
Khi ấy, trong hội có sáu vạn tám ngàn Ca-lâu-la vương thấy các A-tu-la vương cúng dường rồi, lại nghe Như Lai thọ ký cho các A-tu-la, phát tâm tùy hỷ cúng dường rộng lớn, liền dùng sức thần thông hóa thành sáu vạn tám ngàn lầu gác thù thắng vi diệu. Tất cả lầu gác ấy đều làm bằng bảy báu như kim ngân, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, pha lê, đều có bảy tầng. Tầng thứ nhất, vàng ròng làm trụ, bạc làm kèo, cột, trính, xà ngang được trang trí bằng các thứ báu. Tầng thứ hai, bạc làm trụ, vàng ròng làm kèo cột, trính, xà ngang trang nghiêm bằng các ngọc trân. Cho đến tầng thứ bảy san hô làm trụ, chân châu… các báu trang trí xen kẽ nhau. Lầu gác như vậy mỗi mỗi đều có lưới báu phủ lên trên, hoặc vàng ròng làm lưới, hoặc bạc làm lưới, cho đến chân châu làm lưới. Lại treo vô số các linh báu vi diệu, gió thổi nhè nhẹ khua phát ra tiếng, làm cho người nghe đều ham thích. Lại hiện sáu vạn tám ngàn bảo cái, các
ngọc trân được kết xen nhau ánh sáng chiếu rực rỡ. Lại hiện sáu vạn tám ngàn tràng báu, trang trí trân châu các màu sắc xen nhau. Lại hiện sáu vạn tám ngàn phan lụa, năm sắc đang chéo nhau trông rất thích. Lại hiện sáu vạn tám ngàn màn báu, hoặc làm bằng chỉ vàng ròng, hoặc bằng chỉ bạc, chỉ lưu ly, chỉ chân châu… trang nghiêm khéo léo.
Lúc đó, Ca-lâu-la vương đem sáu vạn tám ngàn lầu gác bảy báu, các màn lưới báu, tràng phan báu đã hiện ở trên dâng cúng Như Lai, bày ra thứ lớp trên hư không quay tròn từ từ nhiễu Đức Phật ba vòng. Như Tam thập tam thiên, Ái-la-phược-noa, Đại Long tượng vương nhiễu Thiên đế rồi đứng qua một bên.
Lúc đó, Ca-lâu-la vương chắp tay hướng lên Đức Phật dùng kệ khen rằng:
Đảnh lễ quy y Vô Thượng Sĩ
Tất cả thế gian không ai bằng
Thoát khỏi nhân sinh, già, bệnh, chết
Giải thoát luân hồi các khổ ách.
Con nguyện mau thành tựu thân Phật
Đầy đủ ba mươi hai tướng tốt
Tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân
Như Na-la-diên sức kiên cố.
Con nguyện như Phật sắc vàng ròng
Trượng sáu rạng ngời thường chiếu sáng
Đi đứng nằm ngồi trong oai nghi
Nhiếp hóa hữu tình khiến xuất ly.
Con nguyện kiên trì các cấm giới
Trụ Tam-ma-địa thật tối thượng
Dùng trí phương tiện lợi quần sinh
Đều khiến được thành đạo Bồ-đề.
Con nguyện thân này vĩnh viễn đoạn
Vì người chế ngự tâm sân nhuế
Như Phật đầy đủ đại Từ bi
Đạt được mười tám pháp Bất cộng.
Rõ biết các pháp từ duyên khởi
Như huyễn như mộng như tiếng vang
Đều đồng Mâu-ni Đại Đạo Sư
Ở trong trời người rộng khai thị.
Lúc đó, Đức Thế Tôn biết Ca-lâu-la vương tâm thông đạt sâu xa, ý chí tinh tấn kiên cố, liền hiện tướng vi tiếu phóng ra năm tia sáng. Thấy việc ấy, Tỳ-kheo Mã Thắng đảnh lễ Đức Thế Tôn, chắp tay cung kính dùng kệ thưa hỏi:
Quy y Vô Thượng Thiên Nhân Sư
Hiện việc hy hữu khó nghĩ bàn
Phóng ánh sáng này vì nhân gì
Thương xót chúng sinh mà diễn nói.
Ca-lâu-la vương khởi cúng dường
Màn báu che phủ trên hư không
Thế gian xưa chưa từng nghe thấy
Xin Đấng Lưỡng Túc nói nghĩa này.
Nay các trời người trong chúng hội
Chắp tay vui vẻ trong hy vọng
Nguyện nghe việc Ca-lâu-la vương
Diễn nói vị lai quả giải thoát.
Phật là Bậc tối thượng trời người
Đáp ứng những gì chúng sinh muốn
Cúi xin Như Lai vì chúng nói
Khiến cho đại chúng trừ nghi sợ.
Khi chúng đã được lìa nghi sợ
Thì sẽ phát tâm sinh hoan hỷ
Nếu nghe lời Như Lai thọ ký
Xin phụng hành trọn lời Phật dạy.
Cúi xin đại Bi thương hộ niệm
Trừ nghi, tăng trưởng các căn lành
Tất cả chắp tay nguyện muốn nghe
Ca-lâu-la vương được Phật đạo.
Khi ấy, Đức Thế Tôn vì Tỳ-kheo Mã Thắng nói kệ rằng:
Hay thay, Mã Thắng khéo thưa hỏi
Vì sao phóng quang hiện vi tiếu
Nay ta sẽ nói nên lắng nghe
Khiến ông trừ nghi sinh vui vẻ.
Ca-lâu-la chúng khởi phước hạnh
Thệ cầu Vô thượng đại Bồ-đề
Sẽ thành Vô úy, mười Lực tôn
Được thắng báo này xưng là Phật.
Do tâm cúng dường thanh tịnh ấy
Nhất định trang nghiêm bằng tướng đẹp
Mười tám pháp Bất cộng khó bàn
Thoát Na-la-diên được thừa ngự.
Do vậy nên kiên trì tịnh giới
An trụ Tam-ma-địa thanh tịnh
Tu tập thắng tuệ sáu thần thông
Nghiêm tịnh tất cả các cõi Phật.
Với tâm thanh tịnh cúng dường ta
Thân sau thoát khỏi báo bàng sinh
vĩnh viễn không còn sinh ác thú
Thường thọ phước vui của trời người.
Quá hơn hằng hà sa số kiếp
Cúng dường thừa sự các Như Lai
Khéo hay điều phục các căn môn
Rồi sau sẽ đều được thành Phật
Đều xưng Di Lô Tràng Như Lai
Mười hiệu đầy đủ cõi nghiêm tịnh
Kiếp ấy gọi là Tự Nhiên sinh
Cõi ấy không có ba đường ác
Chúng sinh ở trong cõi nước đó
Dung nghi đặc biệt không khiếm khuyết
Thọ mạng của Phật rất lâu dài
Tám vạn bốn ngàn ức triệu năm
Như vậy lần lượt được thành Phật
Quốc độ thọ mạng đồng như nhau
Mỗi mỗi hóa độ các chúng sinh
Đến tám mươi vạn ức triệu số
Đều khiến trừ hết tập khí kiêu mạn
Dứt sạch triền cái được mát mẻ
An trụ vô sinh môn giải thoát
Xa lìa trần cấu tâm thanh tịnh,
Vì đã từng được thân sắc vàng
Dựa vào thế lực sinh kiêu mạn
Chúng ở quá khứ vô số kiếp
Từng làm Đại tiên nhân khổ hạnh
Số ấy tám vạn lẻ tám ngàn
Thường ưa tu tập phép thần thông
Chư Tiên nhân ấy được thông rồi
Chính mình tự tại đời hiếm có
Tuy trì cấm giới đủ oai nghi
An trụ rừng núi sinh ngã mạn
Do vậy đọa vào loài Kim sí
Duyên thần thông xưa có đại lực
Nhờ trì tịnh giới nên thấy thân ta
Quên mất Bồ-đề nhân ngã mạn.
Ta nay thọ ký sẽ thành Phật
Lược nói nhân trước khiến hiểu rõ
Vì lợi lạc hết các chúng sinh
Người nghe thảy đều sinh hoan hỷ.
/71
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »