PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA BỒ-TÁT TẠNG CHÁNH PHÁP KINH
QUYỂN 33
Phẩm 10: THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 3)
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát được thần thông không thoái chuyển, hoặc dùng ý tưởng, hoặc dùng sự nghiệp, đều là việc làm thần thông du hý, dù ở nơi nào cũng được an trụ, hiện các việc làm, các việc làm ấy đều là thần thông trí lực tối thắng nhất thế gian. Đối với các việc làm tuy đầy đủ các tướng khéo léo lựa chọn, nhưng lại hiện chứng pháp đệ nhất thế gian và xuất thế gian. Thần thông của Bồ-tát thị hiện tướng vô tận, cũng như hư không bao trùm khắp tất cả. Thần thông của Bồ-tát hiện tất cả tướng sắc vô sắc lại có thể tùy thuận nhập vào tất cả tiếng, nhưng lại bình đẳng đối với tiếng trước. Thần thông Bồ-tát quán sát tâm hạnh của tất cả hữu tình, đối với thể tánh của hữu tình ấy tùy duyên hiển hiện, đối với các kiếp tùy theo sự suy nghĩ ấy, tiền tế hậu tế không gián đoạn tất cả chỉ hiện thần cảnh biến hóa, quyết định hiện tiền không có hành tướng riêng khác. Thần thông Bồ-tát đạt trí lậu tận quán thời phần rồi nhưng không siêu việt thù thắng hơn các pháp lựa chọn thế gian, tất cả Thanh văn, Duyên giác khó có thể đo lường. Thần thông Bồ-tát nghĩa ấy sâu xa phá tan bọn ma, chế phục ngoại đạo, đối với Bồ-đề tràng có khả năng tổng trì tất cả pháp Phật, ý chí cầu chánh giác, tùy theo từng chủng loại chuyển bánh xe chánh pháp. Khéo léo điều phục tất cả hữu tình, đến vị quán đảnh được pháp tự tại.
Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát thần thông không thoái chuyển, sự nghiệp làm ra đều không ngã mạn. Tâm ấy thanh tịnh khéo léo điều phục chân chánh, sáng suốt tự tại, lìa các nhiễm dục và tùy phiền não, thành tựu tất cả thiện nghiệp vi diệu tịch tĩnh; đối với thiền định
giải thoát Tam-ma-địa, Tam-ma-bát-để, khởi suy nghĩ chân chánh không bị trói buộc, bởi dòng sinh tử. Vì sao? Vì đã giải thoát mọi sinh nghiệp phiền não trói buộc điên đảo chấp trước. Thế nên không bị sinh tử trói buộc mà lại không phá hoại Đại thừa chứng thành tất cả pháp Phật, nhưng pháp Phật ấy tìm cầu khắp mười phương thật không thể được. Lại tất cả pháp đều thuận với pháp Phật. Thế nên pháp Phật tức là tất cả pháp, nếu tìm cầu tất cả pháp như thật thì cũng không thể được. Đối với toán số và không phải toán số, bình đẳng siêu việt không có một phần nhỏ nào. Đây gọi là không có pháp cũng không phải không pháp. Nếu có thể biết rõ pháp và phi pháp thì không chấp trước vào pháp này, lại cũng không chấp trước vào nghĩa của pháp này. Nếu chấp trước vào nghĩa thì không phải là cái lợi đại nghĩa. Nếu lại đối với nghĩa không phải nghĩa đều không chỗ trụ. Giá như thấy được nghĩa ấy nhưng trí lại vô ngại; nếu trí vô ngại tức là không biến kế. Nếu không biến kế thì không có đối tượng. Nếu không có đối tượng thì không chỗ trụ. Nếu không chỗ trụ thì không gián đoạn. Nếu không gián đoạn thì không hư tác. Nếu không hư tác thì không mê loạn. Nếu không mê loạn thì không có ngã, ngã sở. Nếu không có ngã, ngã sở thì không tranh luận. Nếu không tranh luận thì là pháp Sa-môn. Nếu không tranh luận thì là pháp Sa-môn, tức là dụ hư không ấy bằng phẳng như lòng bàn tay. Nếu dụ hư không ấy bằng thẳng như lòng bàn tay thì không đọa vào Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Nếu không đọa vào tất cả chỗ thì không có hình sắc và không hiển sắc, cũng không phần vị. Nếu không hình sắc không hiển sắc và không phần vị thì tùy thuận giác ngộ như vậy. Nếu có thể tùy thuận như vậy thì tùy chỗ giác ngộ như vậy.
Sao gọi là tùy thuận giác ngộ và tùy chỗ giác ngộ? nghĩa là, nếu biết rõ pháp cực vi ấy đều không thể được thì đó là tùy thuận giác ngộ và chỗ giác ngộ. Phải nên hiểu rõ điều đó một cách bình đẳng, thì có khả năng thành tựu pháp hy hữu của Đại Bồ-tát.
Sao gọi là pháp hy hữu của Đại Bồ-tát? nghĩa là, đối với Từ không ngã, Bi không chúng sinh, Hỷ không thọ giả, Xả không Bổ-đặc-già-la. Bố thí không bỉ hối cùng với tâm trì giới sinh tâm tịch
tĩnh; nhẫn nhục phát sinh tâm vô tận; tinh tấn phát sinh tâm tối thượng; thiền định lìa tâm tán loạn; tuệ thù thắng không có hý luận; niệm xứ không niệm xứ tâm tác ý; chánh đoạn tùy tâm sinh diệt; thần túc lìa tâm hy hý. Đối với tín, tấn, niệm, định, tuệ khởi tâm vô ngại tự nhiên hiểu rõ bình đẳng. Năm căn, năm lực như vậy khởi tâm khuất phục không tổn hoại. Đối với bảy Giác chi khởi tâm phân biệt Bồ-đề. Đối với tám Thánh đạo khởi tâm quán sát chánh giải. Đối với Xa-ma-tha khởi tâm bình đẳng. Đối với Tỳ-bát-xá-na phát khởi tâm hy hữu, biết hết quán sát Thánh đế, thành thục hữu tình, phát khởi bản tâm thanh tịnh. Đối với pháp giới nhiếp thọ chánh pháp, tâm không tạp loạn. Đối với pháp vô sinh khởi tâm bất khả đắc. Đối với địa không thoái chuyển khởi tâm chuyển không chuyển. Đối với tướng được khởi tâm vô tướng, trang nghiêm Bồ-đề đạo tràng, khởi tâm tùy thuận ba cõi, chế phục quần ma, khởi tâm nhiếp thọ hữu tình. Đối với Bồ-đề tự tánh các pháp, khởi tâm tùy thuận giác ngộ. Đối với chuyển pháp luân khởi tâm không sở chuyển. Đối với đại Niết-bàn khởi tâm tùy hiện luân hồi tự tánh bình đẳng.
Này Xá-lợi Tử! Như vậy là ta đã nói Đại Bồ-tát đối với tùy thuận giác ngộ và chỗ giác ngộ có khả năng thành tựu pháp hy hữu.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Sao gọi là thiền định? Nghĩa là, Bồ-tát đối với thiền định không có đắm trước, có thể viên mãn Tam-ma-địa của Như Lai, lại không ham thích mùi vị thiền duyệt. Các Đại Bồ-tát tuy vui thích thân thể nhưng không đắm trước, đối với thiền định thường thích đại Bi. Vì lý do đó cho nên giữ lại các hoặc nhiễm. Lại đối với thiền định thích Đẳng trì không thoái chuyển. Vì lý do đó cho nên nhàm chán Dục giới. Lại đối với thiền định thích tu thần thông nghiệp. Vì lý do đó cho nên biết rõ tâm hạnh của tất cả hữu tình. Đối với thiền định lại thông đạt thật tế. Vì lý do đó cho nên tâm trí được tự tại. Lại đối với thiền định được trí Đẳng chí. Vì lý do đó cho nên bao trùm tất cả Sắc, Vô sắc giới. Đối với thiền định đạt được vắng lặng tối thượng. Vì lý do đó cho nên đối với Thanh văn, Duyên giác, Tam-ma-bát-để thường cầu tăng trưởng. Đối với thiền định lại không động loạn. Vì lý do đó cho nên trụ rốt ráo tối thượng. Lại đối với thiền định thường thực hành đối trị. Vì lý do đó cho nên không trụ
tập khí tương tục. Đối với thiền định được tuệ tối thắng. Vì lý do đó cho nên đệ nhất trong các thế gian. Lại đối với thiền định, trước hết là thông hiểu tâm ý của hữu tình. Vì lý do đó cho nên tối thượng trong các hữu tình. Lại đối với thiền định thường được tự tại vui thích Tam bảo. Vì lý do đó cho nên đạt được công đức vô tận của Như Lai. Lại đối với thiền định được thù thắng tối cao. Vì lý do đó cho nên thường trụ Tam-ma-hy-đa. Lại đối với thiền định được tự tại chuyển. Vì lý do đó cho nên có khả năng viên mãn tất cả sự nghiệp. Lại đối với thiền định đều không lãnh thọ. Vì lý do đó cho nên được đại trí tuệ.
Này Xá-lợi Tử! Đó là thiền định của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Thiền định ba-la-mật-đa lấy gì làm chính? Lấy tâm quyết định làm chính, lấy tâm nhất cảnh làm chính, tâm không tán loạn làm chính, tâm an trụ làm chính, tâm Xa-ma-tha làm chính, tâm Tam-ma-địa làm chính; lấy căn đẳng trì làm chính, lực đẳng trì làm chính, chánh đẳng đẳng trì làm chính, định giải thoát làm chính, chín Định thứ đệ làm chính, bất tương vi làm chính, thiện pháp làm chính, nhiếp phục phiền não oán tặc làm chính; viên mãn Tam-ma-địa uẩn làm chính, Bồ-tát Tam-ma-địa làm chính, Phật Tam-ma-địa làm chính.
Này Xá-lợi Tử! Pháp tịch tĩnh như vậy gọi là Đại Bồ-tát thực hành hạnh Thiền định ba-la-mật-đa làm chính.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ nghĩa trên, liền lập lại bằng kệ rằng:
Thiền định giải thoát Ba-la-mật
Thường trong nhiều kiếp hành hạnh này
Ý không đắm trước pháp thế gian
Đó là Tịnh chiếu Tam-ma-địa
Nếu thông đạt các Ba-la-mật
Như cung điện trang nghiêm tối thắng
Hay có khả năng lìa dơ bẩn
Đó là Nguyệt quang Tam-ma-địa
Thành tựu vô ưu giới đức quang
Đối với các pháp tự tại chuyển
Pháp này cao dũng như Tu-di
Đó là Pháp quang Tam-ma-địa
Đối với pháp bảo địa trang nghiêm
Chánh pháp tổng trì diệu thanh tịnh
Tâm này hay xét tâm người khác
Là trí chánh pháp chuyển tự tại
Định hay bẻ gãy các phiền não
Như cờ châu võng không chướng ngại
Giải thoát tối thắng trong mười lực
Là Tam-ma-địa phá ma lực
Thắng không thể thắng đen Tu-di
Hiệu là Trí quang thanh tịnh nhãn
Nếu thường chắp tay khen lời hay
Diệu trụ trì địa Tam-ma-địa
Vì hay hiểu rõ không vô tướng
Vô nguyện tịch tĩnh địa cũng vậy
Pháp niệm công đức trí tự tại
Chư Phật Tam-ma-địa vô biên
Rồng Tô-nan-đà sư tử vương
Hoặc đến hoặc đi thường an tĩnh
Nhãn lực thanh tịnh không lay động
Định tên"xa lìa các thứ tưởng"
Kim cang định như kim cang địa
Cao hiển không động bằng Tu-di
Âm thanh thanh tịnh vang tất cả
Tam-ma-địa xa lìa phiền não
Tất cả tướng công đức to lớn
Cũng như hư không không ngằn mé
Tăng trưởng đầy đủ trí tuệ niệm
Biện tài tuyên nói đều vô tận
Quán sát hữu tình khiến làm thiện
Vô biên vô tận không tổn giảm
Từ hay điều nhu, Bi thiện căn
Hỷ nhập cực Hỷ, Xả hai chướng
Giải thoát kiên cố sinh hoan hỷ
Như cờ kim cang thắng liên hoa
Biển Trí trí quang đều không động
Gọi là pháp nghĩa Tam-ma-địa
Giải thoát vô biên biển ánh sáng
Định tuệ Như Lai nguyện trang nghiêm
Chánh giác vô thượng diệu tịch tĩnh
Tên định Bất động pháp điều phục
Ánh sáng nguyện được cõi trang nghiêm
Khiến ý hữu tình đều hoan hỷ
Luôn luôn tùy thuận đạo chánh giác
Trang nghiêm bảo kế Ba-la-mật
Nhanh chóng như gió không hạn cuộc
Cũng như kho biển chứa các báu
Thí chân cam lồ môn giải thoát
Nở hoa bảy giác Tam-ma-địa
nghĩa đại thần thông diệu nhiếp thọ
Thông đạt vô biên đều viên mãn
Hiện khắp cảnh giới Phật như vậy
Gọi là Tích thạch sơn vương định
Nếu tu Thiền định ba-la-mật
An trú cảnh giới định Đẳng dẫn
Bồ-tát vô lượng môn công đức
Đó là Tịch tĩnh Tam-ma-địa
Đối với Đẳng dẫn tùy tác ý
Nói ra điều gì đều phép tắc
Cho đến đi ngồi trong oai nghi
Như vậy luôn luôn không buông lung
Các pháp tịch tĩnh tối thắng này
Không ngã, không nhân, không thọ giả
Cũng không phân biệt phi phân biệt
Chỉ vô dư này lên bờ giác
Nếu tu Thiền định ba-la-mật
Sẽ được biển công đức vô biên
Các chúng Bồ-tát có trí tuệ
Phải nên thương xót các hữu tình.
Phẩm 11: TUỆ THÙ THẮNG BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 1)
Này Xá-lợi Tử! Sao gọi là tuệ thù thắng Ba-la-mật-đa của Đại Bồ-tát?
Này Xá-lợi Tử! Nếu Bồ-tát thực hành hạnh Bồ-tát không thoái chuyển, đối với chánh pháp tạng thù thắng nghĩa lợi phải thọ trì, đọc, tụng lắng nghe rốt ráo, khai thị rộng rãi, diển nói cho mọi người, được tướng tuệ thù thắng.
Tuệ thù thắng ấy sao gọi là tướng? Sao gọi là giải nhập? Nghĩa là đối với tướng tuệ thù thắng đã nghe tùy ý hiểu rõ.
Lại nữa, sao gọi là tướng đã nghe? Nghĩa là, tướng ham muốn, tướng ý nguyện, tướng khéo hòa hợp, tướng Thiện tri thức, tướng biến hóa, tướng hồi hướng, tướng cao quý, tướng tôn trọng, tướng xoay bên phải, tướng hết sức tự tại, tướng thân cận, tướng không nghe ngoại cảnh, tướng thừa sự, tướng tác ý, tướng không tán loạn, như tướng cầu của báu, như tướng cầu thuốc thang, tướng diệt tất cả bệnh khổ, tướng niệm pháp khí, tướng thông đạt Bồ-đề, tướng đối trị giác ngộ, tướng nhập Phật trí, tướng nghe không nhàm chán, tướng tập pháp thí, tướng thí rồi không hối hận, tướng thích gần đa văn, tướng khéo làm hoan hỷ lãnh nạp, tướng toàn thân hoan hỷ, tướng tâm rất vui thích, tướng lắng nghe không mệt mỏi, tướng thích nghe chánh pháp, tướng thích nghe chánh hạnh, tướng thích nghe không xúc vô trí, tướng thích nghe Ba-la-mật-đa, tướng thích nghe chánh pháp Bồ-tát tạng, tướng thích nghe nhiếp sự, tướng thích nghe phương tiện khéo léo, tướng thích nghe phạm hạnh, tướng thích nghe thần thông, tướng thích nghe bốn Niệm xứ, tướng thích nghe bốn Chánh đoạn, tướng thích nghe bốn Thần túc, tướng thích nghe mười
hai duyên sinh, tướng thích nghe vô thường, khổ, vô ngã tịch tĩnh, tướng thích nghe Không, Vô tướng, Vô nguyện, giải thoát, tướng thích nghe không tích tập căn hạnh bất thiện, tướng thích nghe tích tập hạnh thiện căn, tướng thích nghe sống một mình, tướng thích nghe chuyển pháp luân, tướng đối với tạp nhiễm mà không tưởng tán loạn, tướng điều phục tất cả tưởng phiền não, tướng hướng về người trí, tướng thân cận Hiền thánh, tướng xa lìa không luật nghi, tướng thích nghe Thánh nhân, tướng thích nghe năm căn, tướng thích nghe tùy niệm quán sát, tướng thích nghe bảy Giác chi, tướng thích nghe tám Thánh đạo, tướng thích nghe mười Lực, bốn Vô sở úy, bốn Vô lượng, mười tám pháp Bất cộng của Như Lai.
Này Xá-lợi Tử! Đối với các điều đó tức là văn, tu, tuệ.Vì sao? Vì ham muốn chánh pháp Bồ-tát tạng, khi nghe pháp rồi có khả năng biết rõ, biết rồi tu hành. Nếu ý nguyện muốn lắng nghe chánh pháp Bồ-tát tạng, khởi tâm hòa hợp, gần Thiện tri thức, hoặc biến hóa, hoặc nhiếp thọ, hoặc xoay bên phải, hoặc hết sức tự tại. Nếu thân cận đa văn, không nghe ngoại cảnh, an trụ đa văn, siêng năng dũng mãnh tác ý. Như tưởng mong cầu đồ báu, như tưởng mong cầu y vương, tưởng diệt tham, sân, si; tưởng thọ trì. Nếu thông đạt chỉ thú của các pháp và đối với ý vui khiến ý tăng trưởng, lắng nghe lãnh thọ không nhàm chán; nghe bố thí rồi hay phấn khởi mạnh mẽ bố thí; nghe nói giới rồi hay hộ trì tịnh giới; nghe nói nhẫn nhục rồi hay nhẫn nhục; nghe nói tinh tấn rồi không có biếng nhác; nghe nói thiền định rồi không có tán loạn; nghe nói tuệ thù thắng rồi tâm khởi tận hết lậu hoặc thích đa văn thù thắng; nghe pháp rồi thân tâm vui thích; nghe Đại thừa rồi lại sinh thắng dục; nghe việc nhiếp thọ rồi tâm hành nhiếp thọ; nghe bốn Niệm xứ rồi thân thọ tâm pháp niệm trụ; nghe bốn Chánh đoạn rồi liền diệt trừ bất thiện đã sinh, xả bỏ bất thiện chưa sinh, khiến tăng trưởng thiện căn đã sinh, khiến phát khởi thiện căn chưa sinh; nghe nói lìa tranh cãi thân tâm dục đều được khinh an; nghe nói thiền định tâm hành quyết định; nghe bốn Vô lượng rồi khởi đại Từ đối với tất cả hữu tình, khởi tâm đại Bi đối với những ai đắm trước, khởi đại Hỷ đối với các chánh pháp, khởi đại Xả đối với điều bất thiện; nghe năm Căn rồi tâm hay thực hành
tín, tấn, niệm, định, tuệ; nghe bảy Giác chi tâm sinh giác ngộ tất cả các pháp; nghe tám Thánh đạo khởi tâm hướng đến Niết-bàn. Nếu đối với mười Lực, bốn Vô sở úy, bốn Vô lượng, mười tám pháp Bất cộng của Như Lai cho đến vô lượng pháp Phật, nên học như vậy, phát tâm Chánh đẳng Chánh giác, khi đã nghe rồi mới có thể biết rõ, biết rồi mới có thể tu học.
Này Xá-lợi Tử! Như vậy là ta đã nói về các tướng đã nghe, tùy ý hiểu rõ. Đó là Đại Bồ-tát thực hành hạnh tuệ thù thắng Ba-la-mật-đa.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Nếu Bồ-tát thực hành hạnh tuệ thù thắng Ba-la-mật-đa thì mới có khả năng đối với chánh pháp Bồ-tát tạng nghĩa lợi thù thắng, thọ trì đọc tụng, lắng nghe, khai thị rộng rãi, diễn nói cho mọi người, được các pháp chánh hạnh.
Sao gọi là các pháp chánh hạnh? Nghĩa là, đối với pháp này, như trên đã nói an lập chánh hạnh.
Này Xá-lợi Tử! Pháp chánh hạnh nghĩa là tùy thuận nhiếp thọ các pháp. Vì sao? Vì pháp không chấp trước. Đó tức là chánh hạnh. Nếu còn chấp trước thì không thể có. Đối với pháp Bổ-đặc-già-la mà cầu xuất ly cũng không có điều đó. Đối với pháp Bổ-đặc-già-la không có chấp trước thì gọi là chánh hạnh, được vô ngại hoặc, việc này đương nhiên. Thế nên, các vị tu hành đối với chánh pháp này tùy thuận nhiếp thọ không bị chướng ngại. Đó là chánh hạnh.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Nếu đối với các pháp và pháp tôn trọng mà không chấp, không giữ, không sinh, không diệt và đối với các pháp như tùy thuận chánh lý, cũng không chấp thủ, nói như vậy tức là chánh hạnh. Như nay ta nói không có một phần nhỏ nào, cũng không có sở kiến, không thấy, không chấp thủ, như vậy là tướng các pháp.
Sao gọi là tướng? Đó là có tướng, không tướng. Vì sao? Vì tướng này không tướng nên gọi là không tướng.
Lại nữa, tướng này đối với tất cả pháp đều không biết rõ, không tướng này vốn không thấy, không giữ được, như vậy tức là chánh hạnh. Thế nên đối với chánh hạnh này phải nên tu tập hiện chứng các pháp, không bị chướng ngại.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này liền nói kệ rằng:
Đối với Bồ-tát tạng
Không nên sinh quyết định
Các người trí như vậy
Được an trụ chánh hạnh.
Lại nếu đối pháp này
Mà sinh ra chấp thủ
Và khởi chấp một bên
Đó không phải chánh hạnh.
Pháp tuy không thể được
Nhưng chớ hiểu là không
Huống là chánh diệu pháp
Không đồng với hư không.
Nếu pháp đồng hư không
Thế gian không lãnh hội
Do vì không lãnh hội
Nên không phải chánh hạnh.
Lại chánh diệu pháp này
Không thủ không không thủ
Thế nên pháp phi pháp
Không nên sinh chấp thủ.
Do không chấp thủ đó
Mới chánh là pháp tướng
Hành tướng như thế đó
Mới gọi là chánh hạnh.
Lại chánh diệu pháp này
Chưa từng có chấp trước
Tùy thuận mà biết rõ
Không thể bị tổn hại.
Do không bị tổn hại
Người trí không vin vào
Hành tướng như thế ấy
Mới gọi là chánh hạnh.
Lại nữa, các người trí
Trụ công đức thiểu dục
Đối với chánh pháp này
Tương ưng khéo tu hành.
Nếu an trụ các thiện
Hành oai nghi chánh hạnh
Đối với chỗ hướng đến
Tùy ứng được thanh tịnh.
Chỗ hướng đã thanh tịnh
Biết chánh pháp như vậy
Thì dù ở nơi nào
Rõ tâm ý hữu tình.
Lại nữa, các người trí
Biết rõ tâm ý rồi
Đối hành tướng như vậy
Hay tuyên nói chánh pháp.
Lại pháp thậm thâm này
Thông đạt Thắng nghĩa đế
Đối với nghĩa như vậy
Thường đạt được quyết định.
Lại nữa, các người trí
Đa văn như biển cả
Do sâu rộng như vậy
Hành vô lượng công đức.
Không mượn văn và nghĩa
Hay thông đạt chánh lý
Đối vô lượng văn nghĩa
Được kiên cố bất động.
Lại nữa, này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát thực hành hạnh tuệ thù thắng Ba-la-mật-đa, đối với chánh pháp Bồ-tát tạng nghĩa lợi thù thắng, nghe rồi diễn nói cho mọi người, đạt được tuệ thù thắng sáng suốt, nó có khả năng diệt trừ các pháp vô minh tối tăm mù mịt cản trở và mau chóng thành tựu tuệ quang thù thắng, biết rõ pháp như
thật thiện và bất thiện, cho đến mạng chung đoạn trừ rốt ráo các pháp bất thiện, nghe các pháp thiện như đã giác ngộ và có khả năng tuyên nói pháp thiện vắng lặng.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên liền nói kệ rằng:
Ví như vào chỗ tối
Các sắc tướng hiện tiền
Mắt ấy không thể thấy
Lửa sáng soi tối tăm.
Kiếp hiện tại như vậy
Có người sinh tử kia
Đối pháp thiện, bất thiện
Không nghe cũng không biết.
Vì do nghe pháp này
Không gây ra tội lỗi
Và trừ lợi phi nghĩa
Mau chóng đến Niết-bàn.
Thích thân cận thầy, bạn
Tăng trưởng thêm văn tuệ
Nhờ tuệ thanh tịnh ấy
Nên được nghĩa diệu lạc.
Người trí nghe nghĩa ấy
Thấy phi pháp xuất ly
Đối tịnh pháp dũng mãnh
Được diệu lạc thù thắng.
Nếu đối Bồ-tát tạng
Nghe rồi trụ pháp tánh
Ánh sáng chiếu thế gian
Chân hành hạnh Bồ-đề.