Chùa Khai Nguyên - Đạo Tràng Tịnh Tông Học Hội Việt NamChùa Khai Nguyên, Đạo Tràng Tịnh Tông Học Hội Việt Nam, ChuaKhaiNguyen.Com - Địa chỉ: Thôn Tây Ninh, xã Đoài Phương, TP. Hà Nội
CHÙA KHAI NGUYÊN
Thôn Tây Ninh - Xã Đoài Phương - TP. Hà Nội
Tìm kinh sách
Kinh Trung Bộ 2
Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa thượng Thích Minh Châu. Hiệu đính Pali: Theravāda Edition. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 652.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu). Kammāssadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng Kuru. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng,[2] giả dối,[3] thuộc ngu si tánh.[4] Này các Tỷ-kheo, đây là lời chào xáo của kẻ ngu xây dựng trên giả dối. Các dục hiện tại[5] và các dục tương lai,[6] các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả hai[7] đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.
Ở đây, các ác bất thiện ý[8] này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Các dục hiện tại và các dục tương lai… cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới,[9] sau khi xác định[10] vị trí của ý. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành, chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, các ác bất thiện ý: tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta[11] không trở thành hạn
[1] Kinh Hán tạng tương đương là kinh Tịnh Bất Động Đạo (Trung. 75, Đại. 1. 542b).
[2]tuccha, trống không, không có thường tánh, trụ tánh, không có ngã, MA. iv. 56.
[3]musa, MA. iv. 56 giải thích là nassamaka, bị hoại diệt.
hẹp,[1] trái lại thành vô lượng,[2] khéo tu tập.”[3] Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ[4] (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ.[5] Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến[6] ấy (samvattanikaṃ viññāṇaṃ) có thể tùy theo đây[7] đạt đến bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích bất động.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:[8] “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, phàm bất cứ sắc pháp gì, là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành.” Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ.[9] Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích bất động.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:[10] “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và những sắc tưởng tương lai, cả hai đều vô thường. Cái gì vô thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được hoan nghênh, không đáng để được chấp trước.” Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động[11] ngay trong hiện tại hay
[1]aparitta. Tâm nhỏ, bị hạn chế pamāṇa, hay paritta chỉ cho các dục vọng.
[4]āyatana, đây là A-la-hán quả hay A-la-hán hướng hay Đệ tứ thiền hay hướng đi đến. MA. iv. 59. Āyatana cũng có nghĩa là hành động, việc làm, kārana.
[5] Đây có thể đưa đến A-la-hán quả và con đường hướng đến quả ấy hay đến Đệ tứ, Đệ tam thiền. Nếu vị này không chứng được A-la-hán quả, thì câu sau sẽ được áp dụng ở đây.
[6]saṁvattanika viññāṇa hay thức hướng tiến. MA. iv. 61 nói “Vị Tỷ-kheo ấy hướng tiến, khởi lên vì thức có hiện quả này.”
[7]yaṁ, MA. iv. 61 giải thích là yena kāraṇena, do lý do này.
[8] Nghĩa là khi vị ấy chứng Đệ tứ thiền. MA. iv. 62.
[9] Sự bất động của Hư không vô biên xứ. MA. iv. 62.
[10] Nghĩa là khi vị này chứng Hư không vô biên xứ. MA. iv. 63. Vị này có trí tuệ hơn hai vị Tỷ-kheo trước.
thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích bất động.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:[1] “Những dục hiện tại... và những sắc tưởng tương lai, và những bất động tưởng; tất cả tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt, không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu,[2] tức là vô sở hữu.” Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đi đến khu rừng hay đi đến dưới gốc cây và suy nghĩ như sau:[3] “Trống không[4] là tự ngã hay ngã này sở hữu.”[5] Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:[6] “Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào,[7] (cho ai) và trong hình thức nào.” Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
[1] Nghĩa là khi vị này chứng được Thức vô biên xứ. MA. iv. 63.
[2] Như M. i. 436, ii. 235; A. iv. 423, v. 8; S. 110, 320.
[5] Với tư tưởng “Ngã” và “Ngã sở hữu,” như vậy sự trống không có hai loại. MA. iv. 64.
[6] Trong khi vị này còn ở Thức vô biên xứ nhưng sang suốt hơn năm vị Tỷ-kheo trước.
[7] Đây là đệ tứ “Phạm lý” (chơn lý) được Sa-môn Gotama đề cập ở A. ii. 177. Xem A. i. 206, Ud. 79, Dhp. 421. Sự trống không có bốn loại. MA. iv. 64-65.
Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:[1] “Những dục hiện tại... và những sắc tưởng và những bất động tưởng, và những Vô sở hữu xứ tướng; tất cả các tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt, không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ.” Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh vị ấy có thể thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ ngay trong hiện tại hoặc thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành đạo về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
– Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta; nếu (nay) không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta.[2] Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có.” Và như vậy vị ấy được xả.[3] Bạch Thế Tôn, môt vị Tỷ-kheo như vậy có chứng được cứu cánh Niết-bàn không?
– Ở đây, này Ānanda, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn.
– Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn?[4]
– Ở đây, này Ānanda, một Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu (nay) không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có.” Và như vậy vị ấy được xả. Vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy, thức lệ thuộc xả ấy và thủ trước xả ấy. Có thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo không chứng cứu cánh Niết-bàn.[5]
[2] Như ở S. iii. 55, 99, 183; MA. iv. 65 giải thích: “Nếu không có năm loại hành động quá khứ của ta (chỉ cho năm uẩn), thì nay ta không có năm quả báo hiện tại này; nhưng nếu không có năm loại hành động hiện tại, thì ta sẽ không có năm loại quả trong tương lai.”
– Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước là thủ trước[1] chỗ nào?[2]
– Này Ānanda, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng?[3]
– Này Ānanda, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng. Này Ānanda, đây là thủ trước tối thượng, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy[4] và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu (nay) không có như vậy, thời có thể không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có.” Như vậy, vị ấy được xả, vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không chấp trước xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.
– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Chính mười y cứ sự này sự kia,[5] bạch Thế Tôn, sự vượt thoát dòng nước mạnh đã được Thế Tôn[6] nói lên. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?
– Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử[7] suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và những sắc tưởng tương lai, những bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái gì thuộc tự thân,[8] là tự thân. Đây là bất tử[9] tức là tâm giải thoát không thủ trước.”[10] Này Ānanda, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ
[1] Thủ trước theo paṭisandhi, kiết sanh thức. MA. iv. 67.
[2]kahaṁ được MA. iv. 66 giải thích là kattha, có nghĩa là ở đâu, đi đến đâu, hay là chỗ nào.
[3] Vị ấy cố gắng được tái sanh trong cảnh giới tốt đẹp hơn.
[8] Trong ba giới dục, sắc và vô sắc. Ngoài ba giới này không có tự thân. MA. iv. 67.
[9] MA. iv. 67, “Đây là sự thật, đây là thù diệu.”
[10] Chỗ khác gọi là Nibbāna (Vin. v. 164, Pts. ii. 45, A. v. 64). Nhưng đây chỉ cho vị khô kiến A-la-hán quả. MA. iv. 68.
về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng. Những gì, Này Ānanda, vị Đạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống, hãy tu thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Đây là lời dạy của Ta cho ông.[1]
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Kinh Trung Bộ 2 - 106. Kinh Bất Động Lợi Ích (Trang 319 - 324)
Mã QR Chia Sẻ Bài Kinh Này
Sử dụng Zalo, Camera điện thoại hoặc ứng dụng quét mã QR bất kỳ để lưu liên kết hoặc mở nhanh bài đọc trên di động.
Quét mã mở bài đọc: Mở ứng dụng Camera trên iPhone / Android hoặc tính năng quét mã trong Zalo, hướng ống kính vào mã QR để mở link đọc bài trên điện thoại và các thiết bị di động khác.
Chia sẻ cho bạn bè: Quét hoặc sao chép mã QR này để chia sẻ cho bạn bè bài kinh qua điện thoại một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Con là Trợ Lý Phật Pháp AI. Quý Phật tử có câu hỏi gì cần tra cứu ngắn gọn từ 5 nguồn kinh điển (Chùa Khai Nguyên, Buddha Sutra, Thư Viện Phật Giáo, Đại Tạng Kinh & Truyện Phật Giáo)?