Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trung Bộ 2

Kinh Trung Bộ 2

Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa thượng Thích Minh Châu. Hiệu đính Pali: Theravāda Edition. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 652.

Chương 51: 122. Kinh Đại Không (Trang 439 - 448)


122. KINH ĐẠI KHÔNG
Mahāsuññata Sutta[1]
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa các dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở tu viện Nigrodha (Ni-câu-luật). Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kapilavatthu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong, trên đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến trú xứ của Thích-ca Kāḷakhemaka[2] để ở ban ngày. Lúc bấy giờ, tại tu viện của Thích-ca Kāḷakhemaka, có sắp đặt rất nhiều sàng tọa. Thế Tôn thấy rất nhiều sàng tọa tại trú xứ của Thích-ca Kāḷakhemaka, thấy vậy, Thế Tôn suy nghĩ: “Rất nhiều sàng tọa được sắp đặt tại tu viện của Thích-ca Kāḷakhemaka. Không biết ở đấy có rất nhiều Tỷ-kheo ở không?”
Lúc bấy, giờ Tôn giả Ānanda cùng với rất nhiều vị Tỷ-kheo đang làm y (cīvarakamma) ở trú xứ của Thích-ca Ghaṭāya.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến trú xứ của Thích-ca Ghaṭāya; sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda:
– Này Ānanda, có rất nhiều sàng tọa được sắp đặt tại trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka. Không biết có nhiều Tỷ-kheo trú ở đấy không.
– Bạch Thế Tôn, có rất nhiều sàng tọa được sắp đặt ở trú xứ của Thích-ca Kāḷakhemaka; có rất nhiều Tỷ-kheo trú tại chỗ ấy. Bạch Thế Tôn, nay là thời chúng con làm y.
– Này Ānanda, một Tỷ-kheo không chói sáng[3] nếu thích thú trong hội chúng của mình,[4] nếu hân hoan trong hội chúng của mình, nếu hoan hỷ
 

[1] Kinh Hán tạng tương đương là kinh Đại Không, Trung A-hàm số 191 (Đại. 1. 738a).
[2] Vị này tên là Khemaka, da đen. MA. iv. 155.
[3] Trong lời dạy của đức Phật.
[4] sangaṇika là sự tụ họp với hội chúng của mình và gaṇa là sự tụ họp với hội chúng của người khác. MA. iv. 158. Chỉ có vị Tỷ-kheo ưa thích độc cư mới chói sáng.
 
trong hội chúng của mình,[1] nếu thích thú trong hội chúng của người, nếu hân hoan trong hội chúng của người, nếu hoan hỷ trong hội chúng của người.[1a] Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo nào thích thú trong hội chúng của mình, hân hoan trong hội chúng của mình, hoan hỷ trong hội chúng của mình, thích thú trong hội chúng của người, hân hoan trong hội chúng của người, hoan hỷ trong hội chúng của người, có thể là một vị chứng đắc tùy theo ý muốn, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, viễn ly lạc,[2] độc cư lạc,[3] an tịnh lạc,[4] chánh giác lạc;[5] sự kiện như vậy không xảy ra. Nhưng này Ānanda, Tỷ-kheo nào sống một mình, xa lánh tụ hội, thời vị ấy có hy vọng chứng đắc tùy theo ý muốn, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc; sự kiện như vậy có thể xảy ra. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo nào thích thú trong hội chúng của mình, hân hoan trong hội chúng của mình, hoan hỷ trong hội chúng của mình, thích thú trong hội chúng của người, hân hoan trong hội chúng của người, hoan hỷ trong hội chúng của người, sẽ chứng đắc và an trú với tâm giải thoát có hạn kỳ và thoải mái,[6] hay không có hạn kỳ và bất động;[7] sự kiện như vậy không xảy ra. Nhưng này Ānanda, Tỷ-kheo nào sống một mình, xa lánh tụ hội, thời vị ấy có hy vọng sẽ chứng đắc và an trú với tâm giải thoát có hạn kỳ và thoái mái, hay không có hạn kỳ và bất động; sự kiện như vậy có xảy ra. Này Ānanda, Ta không quán thấy một sắc pháp[8] nào trong ấy có hoan hỷ, trong ấy có hoan lạc, chịu sự biến dịch, chịu sự đổi khác mà không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Nhưng sự (an) trú này, này Ānanda, đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tức là sau khi không tác ý với tất cả tướng,[9] chứng đắc và (an) trú nội
 

[1] Như D. ii. 78.
[1a] Hán kinh có khác: “Tỷ-kheo bất khả dục hoa thuyết, lạc ư hoa thuyết, hợp hội hoa thuyết, dục chúng lạc chúng, hội hợp ư chúng, bất dục ly chúng, bất lạc độc trú, viễn ly chi xứ.” Đại. 1. 738a.
[2] Rời khỏi các dục vọng.
[3] Rời khỏi các dục vọng.
[4] Đưa đến sự đoạn trừ tham, sân, si.
[5] Đưa đến đích giác ngộ về đạo (magga).
[6] sāmāyika kantā cetovimutti, khi tâm định thì giải thoát các phiền não. MA. iv. 158 giải thích sự giải thoát có hạn kỳ và thoải mái là sự chứng đạt bốn sắc giới thiền và bốn vô sắc giới thiền.
[7] asāmāyiki akuppā ceto vinutti, tâm giải thoát không hạn kỳ và bất động. Đây chỉ cho sự giải thoát khỏi các phiền não, không bị thời gian chi phối, sự giải thoát về bốn Đạo và bốn quả.
[8] rūpa, gọi là sarīra (than) MA. iv. 159.
[9] nimitta, các tướng của thế giới hiện tượng.
 
không.[1] Và nếu này Ānanda, trong khi Như Lai an trú trong an trú này, nếu có những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, ngoại đạo đệ tử đến yết kiến, trong khi ấy, này Ānanda, Như Lai với tâm hướng đến viễn ly, thiên về viễn ly, nặng nề viễn ly, sống độc cư, hoan hỷ trong ly dục, làm cho đoạn tận tất cả các pháp dựa trên ấy các lậu hoặc an trú, nói lên tại chỗ ấy[2] những lời thuần túy liên hệ đến khích lệ.[3] Do vậy, này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ước vọng: “Sau khi chứng đạt nội không, ta sẽ an trú,” vị Tỷ-kheo ấy, này Ānanda, cần phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm.[4]
Và này Ānanda, như thế nào Tỷ-kheo an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm... chứng và trú Tam thiền… chứng và trú Tứ thiền. Như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm.
Vị ấy tác ý nội không. Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến nội không. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý nội không, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến nội không”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Vị ấy tác ý ngoại không[5] … Vị ấy tác ý nội ngoại không[6] …  Vị ấy tác ý bất động.[7] Trong khi vị ấy tác ý bất động thời tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến bất động.” Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý bất động, tâm không thích thú, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến bất động.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú, an tọa, chuyên nhất, và an định nội tâm trên định
 

[1] Như sống một mình dù rằng ngồi giữa đám đông.
[2] Giữa hội chúng ấy, MA. iv. 160.
[3] aññadatthu uyyojaniya paṭisaṁyuttaṁ yeva kathaṃ katā hoti: như ở A. iv. 233, Hán tạng dịch là khuyến trợ.
[4] Xem M. i. 116, A. ii. 94.
[5] Ngoại không, đối với năm uẩn của một người khác. MA. iv. 161.
[6] Nội ngoại không, khi thì tác ý nội không, khi thì tác ý ngoại không.
[7] āñaja: bất động. Xem M. ii. 229; Vin. iii. 4. Nghĩ rằng, tôi sẽ giải thoát cả hai phía, vị ấy chứng đắc vô sắc và bất động, āñaja-arūpasamāpatti, MA. iv. 161.
 
tướng (samādhinimitte) đã đề cập về trước ấy.[1] Vị ấy tác ý nội không. Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến nội không. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý nội không, tâm thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến nội không.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Vị ấy tác ý ngoại không… Vị ấy tác ý nội ngoại không… Vị ấy tác ý bất động. Trong khi vị ấy tác ý bất động, tâm thích thú, tịnh tín, an trú hướng đến bất động. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, vị Tỷ-kheo biết như sau: “Trong khi ta tác ý bất động, tâm thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến bất động.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ấy đang an trú trong an trú này,[2] tâm vị ấy hướng đến đi kinh hành, vị ấy đi kinh hành (caṅkamati), và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang đi kinh hành, tham và ưu, các ác, bất thiện pháp không có chảy vào.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.[3] Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo đang an trú trong an trú này, tâm vị ấy hướng đến đứng lại, vị ấy đứng lại và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang đứng lại, tham và ưu, các ác, bất thiện pháp không có chảy vào.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy an trú trong sự an trú này, tâm vị ấy hướng đến ngồi, vị ấy ngồi và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang ngồi, tham và ưu, các ác, bất thiện pháp không có chảy vào.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy an trú trong sự an trú này, tâm vị ấy hướng đến nằm, vị ấy nằm và nghĩ rằng: “Trong khi ta đang nằm, tham và ưu, các ác, bất thiện pháp không chảy vào.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy an trú trong sự an trú này, tâm vị ấy hướng đến nói, vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta sẽ không nói những câu chuyên hạ liệt, đê tiện, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly dục, đoạn tiệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như quốc vương luận, đạo tặc luận, đại thần luận, quân luận, bố úy luận, chiến tranh luận, thực vật luận, ẩm liệu luận, y phục luận, ngọa cụ luận, hoan man luận, hương liệu luận, thân thích luận, xa thừa luận, thôn luận, thị trấn luận, đô thị luận, quốc độ luận, nữ
 

[1] Nguyên bản là parimasmiṁ. Nhưng MA. iv. 161 đọc là purimasmiṁ. Đây có nghĩa là một sự cố gắng nữa để nhập và trú nội không.
[2] An trú trong chỉ và quán, MA. iv. 162.
[3] Nghĩa là đối với kammaṭṭhāna này, nghiệp xứ hay đối tượng tu hành, MA. iv. 162.
 
luận, anh hùng luận, hạng trung luận, thủy bình xứ luận, tiên linh luận, sai biệt luận, thế giới luận, hải thuyết luận, hữu vô hữu luận.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Nhưng này Ānanda, đối với những lời nói nào khắc khổ, khai tâm, đưa đến nhứt hướng yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận, định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận, vị ấy nghĩ: “Ta sẽ nói các luận như vậy.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi an trú với sự an trú này, tâm hướng đến suy tầm (vitakka), vị ấy suy nghĩ: “Đối với những suy tầm hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như là dục tầm, sân tầm, hại tầm, ta sẽ không suy nghĩ các loại suy tầm ấy.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Nhưng này Ānanda, đối với những suy tầm này, thuộc bậc Thánh, có khả năng cầu tiến, hướng dẫn (người suy nghĩ các suy tầm ấy) đến sự đoạn trừ hoàn toàn đau khổ,[1] như là ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm, vị ấy nghĩ: “Ta sẽ suy tư các loại suy tầm này.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này.[2] Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Ānanda, có năm dục trưởng dưỡng này. Từ đây, Tỷ-kheo cần phải thường thường quán sát tự tâm như sau: “Trong tâm ta, có khởi lên tâm hành gì với xứ (āyatana) này hay xứ khác của năm dục trưởng dưỡng.” Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát như vậy, tuệ tri rằng: “Trong tâm ta, có khởi lên tâm hành với xứ này hay xứ khác của năm dục trưởng dưỡng.” Sự kiện là như vậy, Tỷ-kheo tuệ tri như sau: “Dục ái (chandarāga) này đối với năm dục trưởng dưỡng đối với ta, chưa đoạn diệt được.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Này Ānanda, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát như vậy, tuệ tri rằng: “Trong tâm ta, không có khởi lên tâm hành với xứ này hay xứ khác của năm dục trưởng dưỡng.” Sự kiện là
 

[1] Nivyyani (niyyāti) takkarassa sammādukkhayāya, như M. i. 68, 81, 322. Ở đây chữ kara nên hiểu là người suy nghĩ.
[2] Như M. i. 85 v.v..
 
như vậy, Tỷ-kheo tuệ tri như sau: “Dục tham này đối với năm dục trưởng dưỡng đối với ta đã được đoạn diệt.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
Này Ānanda, có năm thủ uẩn. Ở đây, Tỷ-kheo cần phải đoạn tận chúng khi vị ấy tùy quán sự sanh diệt. Đây là sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ, đây là sự tập khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ. Đây là tưởng... Đây là hành... Đây là thức, đây là sự tập khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức. Trong khi vị ấy an trú, tùy quán sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, nếu có ngã mạn nào (asmiṃmāno) (khởi lên) đối với năm thủ uẩn, ngã mạn ấy được đoạn tận. Sự kiện là như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo tuệ tri như sau: “Phàm có ngã mạn nào đối với năm thủ uẩn (khởi lên) nơi ta, ta đã đoạn tận ngã mạn ấy.” Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy. Những pháp này, này Ānanda, thuần nhất liên hệ đến thiện,[1] đều thuộc Hiền Thánh, siêu thế, vượt ngoài tầm của Ác ma.
– Này Ānanda, ông nghĩ thế nào? Vì thấy lý do gì, một Thanh văn đệ tử tự nghĩ là xứng đáng (hợp lý) để đi theo một Đạo sư, dầu cho bị hất hủi?[2]
– Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp dựa Thế Tôn làm căn bản,[3] hướng Thế Tôn làm lãnh đạo, nương tựa Thế Tôn làm y cứ. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn thuyết giảng cho ý nghĩa này. Sau khi được nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ hành trì.
– Này Ānanda, thật không xứng đáng cho một đệ tử bám sát theo vị Đạo sư, nếu vì lý do được nghe giải thích khế kinh và phúng tụng.[4] Vì cớ sao? Trong một thời gian lâu dài, các pháp đã được các ông nghe, thọ trì, đọc lớn tiếng, suy tư với ý, khéo thấu hiểu với chánh trí.[5] Nhưng này Ānanda, đối với những lời nói nào khắc khổ, khai tâm đưa đến nhất hướng, viễn ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn như là thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận, định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận. Này Ānanda, do nhân duyên những loại thuyết luận như vậy, thật xứng đáng cho
 

[1] kusalāyatikā. MA. iv. 163 giải thích là kusālato āgatā, khởi lên từ thiện pháp. Nhưng nghĩa của các bản giải thích là “đưa đến (từng bước một) các gọi là chí thiện.”
[2] payujjamāno, có nghĩa là cột vào, ép vào. Nhưng ở đây nên hiểu là panujjamāno như M. i. 108.
[3] Như M. i. 310.
[4] Trong 9 phân loại thể văn, đây chỉ nói đến Sutta (Khế kinh) và Geyya (Phúng tụng). Chữ veyyākaraṇa được xem có nghĩa là giải thích chứ không phải loại thể văn thứ ba.
[5] Như M. i. 213.
 
một Thanh văn đệ tử bám sát vị Đạo sư, dầu cho bị hất hủi. Sự kiện là như vậy,[1] này Ānanda, thời có sự phiền lụy (upaddava) cho vị Đạo sư; sự kiện là như vậy, thời có sự phiền lụy do đệ tử; sự kiện là như vậy, thời có sự phiền lụy cho các vị tu phạm hạnh.
Và này Ānanda, như thế nào là sự phiền lụy cho vị Đạo sư? Ở đây, này Ānanda, có Đạo sư[2] lựa một trú xứ (senāsanam) xa vắng trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời hay trên một đống rơm. Trong khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Được các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, vị ấy khởi lên nhiễm tâm,[3] rơi vào dục vọng, khởi lên tham ái, trở lui lại đời sống sung túc. Như vậy, này Ānanda, được gọi là sự phiền lụy của Đạo sư. Vì sự phiền lụy của Đạo sư, các ác, bất thiện pháp, tạp nhiễm, dẫn đến tái sanh, đáng sợ hãi, đưa đến khổ quả, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai,[4] các pháp ấy tấn công vị ấy. Như vậy, này Ānanda, là sự phiền lụy của Đạo sư.
Này Ānanda, thế nào là sự phiền lụy của đệ tử? Này Ānanda, đệ tử của một Đạo sư bắt chước[5] đời sống viễn ly của Đạo sư mình, lựa một trú xứ xa vắng, trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời hay trên một đống rơm. Trong khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân với quốc dân bao vây xung quanh. Được các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, vị ấy khởi lên nhiễm tâm, rơi vào dục vọng, khởi lên tham ái, trở lui lại đời sống sung túc. Như vậy, này Ānanda, được gọi là sự phiền lụy của đệ tử. Vì sự phiền lụy của đệ tử, các ác, bất thiện pháp, tạp nhiễm, dẫn đến tái sanh, đáng sợ hãi, đưa đến khổ quả, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai, các pháp ấy tấn công vị ấy. Như vậy, này Ānanda, là sự phiền lụy của đệ tử.
 

[1] evaṁ sante. Trong khi vài đệ tử sống một mình, vấn đề (liên hệ đến 10 loại đàm luận) không được phát triển. Do vậy muốn nêu rõ sự nguy hiểm (ādīnava) của độc cư, khi vị ấy nói evaṁ sante với nghĩa dầu cho ở độc cư nhàn tịnh như vậy evaṁm ekībhāve sante. MA. iv. 164-165.
[2] MA. iv. 165, một đạo sư ngoại đạo.
[3] Nguyên bản đọc mucchati kāmayati. Những bản chữ Thái chép mucchaṁ nikāmayati như MA. iv. 165.
[4] Xem M. i. 280.
[5] anubrūhayamāno.
 
Và này Ānanda, như thế nào là sự phiền lụy của các vị tu phạm hạnh? Ở đây, này Ānanda, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài lựa một trú xứ xa vắng, trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời hay trên một đống rơm. Trong khi Ngài sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Được các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, Ngài không khởi lên nhiễm tâm, không rơi vào dục vọng, không khởi lên tham ái, không trở lui lại đời sống sung túc. Nhưng này Ānanda, vị đệ tử của bậc Đạo sư chủ tâm theo (hạnh) viễn ly[1] của bậc Đạo sư, bắt chước (theo hạnh ấy), lựa một trú xứ xa vắng, trong rừng, dưới gốc cây, trên sườn núi, chỗ hoang vu, trong hang núi, tại bãi tha ma, tại khu rừng, ngoài trời, trên một đống rơm. Trong khi vị ấy sống viễn ly như vậy, các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh. Được các Bà-la-môn, gia chủ, cả thị dân và quốc dân bao vây xung quanh, vị ấy khởi lên nhiễm tâm, rơi vào dục vọng, khởi lên tham ái, trở lại đời sống sung túc. Như vậy, này Ānanda, được gọi là sự phiền lụy của các vị tu phạm hạnh. Vì sự phiền lụy của phạm hạnh, các ác, bất thiện pháp, tạp nhiễm, dẫn đến tái sanh, đáng sợ hãi, đưa đến khổ quả, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai, các pháp ấy tấn công vị ấy. Như vậy, này Ānanda, là sự phiền lụy của các vị tu phạm hạnh.
Nhưng này Ānanda, sự phiền lụy của các vị tu phạm hạnh là nhiều quả khổ hơn,[2] nhiều quả não hơn đối với phiền lụy của Đạo sư này và phiền lụy của đệ tử này, hơn nữa, nó dẫn đến đọa lạc.[3] Do vậy, này Ānanda, hãy đối xử với Ta với tâm thân hữu, không với tâm thù nghịch,[3a] và như vậy các ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Và như thế nào là các đệ tử đối xử vị Đạo sư với tâm thù nghịch, không với tâm thân hữu? Ở đây, này Ānanda, vị Đạo sư ấy với lòng từ mẫn thuyết pháp cho các đệ tử, mong cầu hạnh phúc cho họ, vì lòng từ mẫn, nói rằng : “Đây là hạnh phúc cho các ông,
 

[1] virekam anuyutto brūhayamāno. Xem M. số 6 “Vị hành trì các chỗ vắng lặng.”
[2] Những ai xuất gia theo giáo hội, sāsana, phải chứng được 4 Đạo, 4 Quả và Niết-bàn, nhưng vì không lãnh hội được giáo lý, sāsana, các vị ấy thất bại với chín tầng bậc siêu thế này.
[3] Xem S. ii. 128.
[3a] Hán kinh: đệ tử ư sư, hành từ sự, mạc hành oán sự.
 
đây là an lạc cho các ông.” Nhưng các đệ tử của vị ấy không chịu nghe theo, không chịu lóng tai, chú tâm vào hướng khác (aññan), ngược lại, họ đi xa lời giảng dạy của vị Đạo sư. Như vậy, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư với tâm thù nghịch, không với tâm thân hữu. Và như thế nào, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư, với tâm thân hữu, không với tâm thù nghịch? Ở đây, này Ānanda, vị Đạo sư với lòng từ mẫn thuyết pháp cho các đệ tử, tìm cầu hạnh phúc cho họ, vì lòng từ mẫn nói rằng: “Đây là hạnh phúc cho các ông, đây là an lạc cho các ông.” Các đệ tử của vị ấy chịu nghe theo, chịu lóng tai,[1] không chú tâm vào hướng khác, và không ngược lại[2] đi xa lời dạy của bậc Đạo sư. Như vậy, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư, với tâm thân hữu, không phải với tâm thù nghịch. Do vậy, này Ānanda, hãy đối xử với Ta, với tâm thân hữu, chớ với tâm thù nghịch, và như vậy sẽ là hạnh phúc, là an lạc lâu dài cho các ông. Ta không sách tấn các ông như người thợ gốm đối với các đồ gốm chưa nung, chưa được nung chín.[3] Ta sẽ nói hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác,[4] hết lời tán thán này đến lời tán thán khác.[5] Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại.[6]-[7]
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.


 
KINH ĐẠI KHÔNG, THỨ MỘT TRĂM HAI MƯƠI HAI.
 

[1] Chữ na của nguyên bản cần phải loại bỏ.
[2] Chữ ca cần phải đọc là na ca.
[3] āmake āmakamatte. Ý nói người thợ gốm đối với đất sét chưa nung, rất nhẹ tay vì sợ bể. Nhưng đức Phật đối với đệ tử không phải nhẹ tay như vậy. Nếu cần la thì đức Phật la.
[4] niggayha niggayha, tiếp tục chỉ trích.
[5] pāvāyha pāvāyha, tiếp tục tán thán.
[6] yo sāro so ṭhassati.
[7] Hán kinh có khác: “Ngã bất như thị thuyết, như đào sư tác ngõa. A-nan, ngã thuyết nghiêm cấp chi khổ. Nhược hữu chơn thực, giả, tất năng vãng giả.” Đại. 1. 740b, c.
 
/84
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »