Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trung Bộ 2

Kinh Trung Bộ 2

Tác giả: Hòa thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa thượng Thích Minh Châu. Hiệu đính Pali: Theravāda Edition. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 652.

Chương 53: 124. Kinh Bạc-Câu-La (Trang 455 - 458)


124. KINH BẠC-CÂU-LA
Bakkula Sutta[1]
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Bakkula[2] trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các loài sóc (Kalandakanivāpa). Rồi lõa thể Kassapa,[3]-[4] một người bạn trước kia của Tôn giả Bakkula khi còn là cư sĩ, đi đến Tôn giả Bakkula, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Bakkula những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, lõa thể Kassapa nói với Tôn giả Bakkula :
Này Hiền giả Bakkula, Bạn xuất gia đã bao lâu?
– Đã được tám mươi năm, này Hiền giả, từ khi tôi xuất gia.
– Hiền giả Bakkula, trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần, Hiền giả hành dâm dục?
– Hiền giả Kassapa, chớ có hỏi tôi như vậy: “Hiền giả Kassapa, trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiều lần Hiền giả hành dâm dục?” Hiền giả Kassapa, hãy hỏi tôi như sau: “Hiền giả Bakkula, trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần Hiền giả khởi lên dục tưởng?”
– Hiền giả Bakkula, trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần, Hiền giả khởi lên dục tưởng?
– Hiền giả Kassapa, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không bao giờ nhận thấy có dục tưởng khởi lên.
(Vì rằng Tôn giả Bakkula trong tám mươi năm không nhận thấy có
 

[1] Kinh Hán tạng tương đương là kinh Bạc-câu-la, Trung A-hàm số 34 (Đại. 1. 475a).
[2] Bakkula nghĩa là “Hai gia đình.” Theo MA. iv. 190 v.v.. vua phán vị này thuộc người mẹ và thuộc vợ người cố vấn đã săn sóc nuôi dưỡng khi Ngài được tìm trong bụng con cá và không bị thương tích gì.
[3] Acela Kassapa, một vị tu khổ hạnh. Xem kinh Kassapa sīhanādasuttanta, D. i. 161. v.v..
[4] DA. ii. 349 gọi vị này một du sĩ ngoại đạo, paribbājaka.
 
dục tưởng khởi lên, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).[1]
– Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không bao giờ nhận thấy có sân tưởng, có hại tưởng khởi lên.
(Vì rằng Tôn giả Bakkula trong tám mươi năm không nhận thấy có sân tưởng, có hại tưởng khởi lên, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
– Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy dục tầm nào khởi lên.
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
 Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy sân tầm, hại tầm, nào khởi lên.
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có thâu nhận y của cư sĩ.
(Vì rằng Tôn giả.. một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có cắt y với con dao.
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có may y với cây kim.
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm trừ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có nhuộm y với thuốc nhuộm
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có may y kathiṇa.[2]
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có may y cho các vị đồng phạm hạnh... có nhận lời mời ăn... có khởi lên tâm như sau: “Mong rằng có người mời tôi ăn.”
 

[1] Theo MA. iv, 193 các đoạn này được xem là do các vị Thượng tọa kiết tập kinh điển nói lên. Các đoạn sau cũng vậy.
[2] Được phép ở, Vin. ii. 116.
 
(Vì rằng Tôn giả... một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không nhận thấy có ngồi trong nhà... có ngồi ăn trong nhà... có ghi nhận chi tiết các tướng đặc biệt của nữ nhân... có thuyết pháp cho nữ nhân cho đến câu kệ bốn câu[1]... có đi đến trú phòng Tỷ-kheo-ni... có thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni... Tôi không nhận thấy có thuyết pháp cho học pháp nữ... Tôi không nhận thấy có thuyết pháp cho Sa-di-ni.
(Vì rằng Tôn giả Bakkula trong tám mươi năm không nhận thấy có thuyết pháp cho Sa-di-ni, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không bao giờ nhận thấy có xuất gia (cho ai)... có thọ đại giới (cho ai)... có nhận làm y chỉ (cho ai)[2]... tôi không bao giờ nhận thấy có Sa-di hầu hạ... có tắm trong nhà tắm[3]... có tắm thoa bột cuṇṇa... có nhờ đồng phạm hạnh xoa bóp chân tay... tôi không bao giờ nhận thấy có bệnh khởi lên, dầu cho một chốc lát[4]... có mang theo y dược cho đến một miếng nhỏ từ cây a-li-lặc vàng (harītakīkhaṇḍa)[5]... nằm dựa vào tấm gỗ dựa[6]... nằm dài xuống ngủ... đi an cư mùa mưa tại trú xứ gần làng.[7]
(Vì rằng Tôn giả Bakkula, trong tám mươi năm không nhận thấy có đi an cư mùa mưa tại trú xứ gần làng, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Vừa đúng trong bảy ngày,[8] này Hiền giả, còn uế nhiễm,[9] tôi đã ăn đồ ăn của nội địa,[10] rồi đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.
(Vì rằng Tôn giả Bakkula vừa đúng trong bảy ngày, còn uế nhiễm, đã ăn đồ ăn của nội địa, rồi đến ngày thứ tám chánh trí khởi lên, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
 

[1] Vin. iv. 21. Các vị Tỷ-kheo không được thuyết pháp nữ nhân hơn 5 hay 6 câu.
[2] nissayaṁ deti, Vin. i. 60. v.v..
[3] Xem Vin. i. 47.
[4] gaddūhanamattaṁ. MA. iv. 195 và SA. ii. 224 giải thích là thời gian lấy một giọt sữa bằng cách bóp vú con bò cái.
[5] harītakīkhaṇḍa. Các Tỷ-kheo được phép ăn trái cây này khi đau ốm, Vin. i. 201, 206.
[6] Khi vị này ngủ, vị ấy vẫn giữ thế ngồi bằng cách dựa vào một tấm ván nghiêng. Dùng tấm ván nghiêng này được cho phép ở Vin. ii. 175.
[7] Xem M. i. 31.
[8] Xem S. ii. 221.
[9] sāṇa. MA. iv. 196 đọc là saraṇa (=sa+raṇa, tham ái hay lỗi lầm), giải thích là sa-kilesa.
[10] Đồ các tín đồ cúng dường.
 
– Thưa Hiền giả Bakkula, hãy cho tôi xuất gia trong Pháp, Luật này, hãy cho tôi thọ đại giới!
Rồi lõa thể Kassapa được xuất gia trong Pháp, Luật này, được thọ đại giới.[1] Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa, an trú độc cư, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại Vô thượng cứu cánh phạm hạnh, mà vì mục đích ấy, các thiện nam tử chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Vị ấy biết “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Kassapa trở thành một A-la-hán nữa.
Rồi Tôn giả Bakkula, sau một thời gian, cầm chìa khóa, đi từ trú xứ này đến trú xứ khác và nói như sau:
– Chư Tôn giả hãy đi ra! Chư Tôn giả hãy đi ra! Hôm nay tôi sẽ nhập Niết-bàn.
(Vì rằng Tôn giả Bakkula cầm chìa khóa, đi từ trú xứ này đến trú xứ khác và nói như sau: “Chư Tôn giả hãy đi ra! Chư Tôn giả hãy đi ra! Hôm nay tôi sẽ nhập Niết-bàn,” chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).
Rồi Tôn giả Bakkula ngồi giữa chúng Tỷ-kheo nhập Niết-bàn.[2]
(Vì rằng Tôn giả Bakkula ngồi giữa chúng Tỷ-kheo nhập Niết-bàn, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula).


 
KINH BAKKULA, THỨ MỘT TRĂM HAI MƯƠI BỐN.
 

[1] MA. iv. 196 giải thích Tôn giả Bakkula không tự mình cho xuất gia và trao đại giới mà nói các vị Tỷ-kheo khác làm cho.
[2] Vị này không muốn thân mình làm phiền cho ai, nên nhập định tejodhātu (hỏa giới) lửa phát ra và tự thiêu.
 
/84
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »