vậy, này cư sĩ, được gọi là Đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này cư sĩ, Tỷ-kheo, cho đến một ruộng làng an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền). Như vậy, này cư sĩ, được gọi là Đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba ruộng làng, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền). Như vây, này cư sĩ được gọi là Đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này cư sĩ, Tỷ-kheo, cho đến một đại vương quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền). Như vậy, này cư sĩ, được gọi là Đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này cư sĩ, Tỷ-kheo, cho đến hai hay ba đại vương quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền). Như vậy, này cư sĩ, được gọi là Đại hành tâm giải thoát. Do vậy, này cư sĩ, đây cần phải hiểu đúng với pháp môn này, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa, vừa khác văn.
Này cư sĩ, có bốn hữu sanh này (bhavūppattiyo: bốn sự sanh khởi cho một đời sống mới). Thế nào là bốn? Ở đây, này cư sĩ, có người, với hào quang hạn lượng (parittābhā) an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiểu quang thiên. Ở đây, này cư sĩ, có người với hào quang vô lượng, an trú biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Vô Lượng quang thiên. Ở đây, này cư sĩ có người với hào quang tạp nhiễm, an trú biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Tạp nhiễm quang thiên. Ở đây, này cư sĩ, có người với hào quang thanh tịnh, an trú biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Biến tịnh quang thiên. Này cư sĩ, có bốn loại hữu sanh này.
– Có thời, này cư sĩ, chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập họp tại một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác về hào quang. Ví như, này cư sĩ, có người cầm nhiều cây đèn dầu đi vào trong một nhà. Khi các cây đèn dầu ấy được đem vào trong nhà, có thấy sự sai khác về ngọn lửa, nhưng không có thấy sự sai khác về ánh sáng. Cũng vậy, này cư sĩ, có thời chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập họp tại một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác về hào quang. Có thời, này cư sĩ, chư Thiên ấy, đi ra khỏi từ chỗ kia. Khi chư Thiên ấy đi ra khỏi từ chỗ kia, có thấy sự sai khác về màu sắc
mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
– Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo, cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
– Này Hiền giả Kaccāna, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền); và Tỷ-kheo, cho đến một ruộng làng, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
– Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo, cho đến một ruộng làng, an trú, biến mãn, và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
– Này Hiền giả Kaccāna, Tỷ-kheo, cho đến hai hay ba ruộng làng, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền); và Tỷ-kheo cho đến một đại vương quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn?
– Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo, cho đến một đại vương quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
– Này Hiền giả Kaccāna, Tỷ-kheo, cho đến một đại vương, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền); và Tỷ-kheo, cho đến hai hay ba một đại vương quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
Thưa Tôn giả Anuruddha, Tỷ-kheo, cho đến hai hay ba đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần rộng lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
Này Hiền giả Kaccāna, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến hai hay ba đại vương quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), và Tỷ-kheo, cho đến giải đất tận hải biên, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
Hiền giả Kaccāna, ở đây Tỷ-kheo an trú biến mãn và thấm nhuần với hào quang thanh tịnh. Thân dâm hạnh của vị này được khéo chấm dứt, hôn trầm, thụy miên được khéo đoạn trừ, trạo cử hối quá được khéo nhiếp phục. Do thân dâm hạnh được khéo chấm dứt, do hôn trầm thụy miên được khéo đoạn trừ, do trạo cử hối quá được khéo nhiếp phục, nên vị ấy được cháy lên không có mù mờ. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên có hào quang thanh tịnh.
Này Hiền giả Kaccāna, do nhân này, do duyên này, giữa chư Thiên ấy sanh khởi cùng trong một Thiên chúng, có một số chư Thiên có hào quang tạp nhiễm, nhưng có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccāna thưa với Tôn giả Anuruddha:
– Thật lành thay, Tôn giả Anuruddha! Thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha không có nói như sau: “Như vậy tôi nghe” hay: “sự việc đúng như vậy.”[1] Trái lại, thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha chỉ nói: “Chư Thiên này là như vậy và chư Thiên kia là như vậy.” Thưa Tôn giả, tôi nghĩ như sau: “Tôn giả Anuruddha chắc chắn đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy.”
– Này Hiền giả Kaccāna, lời nói này của Hiền giả đến gần như thử thách Ta phải tuyên bố,[2] nhưng ta sẽ trả lời cho Hiền giả. Này Hiền giả Kaccāna, đã từ lâu, ta đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy.
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccāna nói với thợ mộc Pañcakaṅga:
– Thật lợi ích thay cho ông, này cư sĩ, rằng ông đã đoạn trừ được điều nghi ngờ từ trước, và cũng được dịp nghe pháp môn này!
KINH A-NA-LUẬT, THỨ MỘT TRĂM HAI MƯƠI BẢY.
[1] evaṁ arahati bhavituṁ.
[2] āsajja upanīyavācā bhāsitā, như A. i. 172, xem chú thích G.S.i. 156.