Với mọi chúng sanh, Ta bỏ trượng, kiếm,
Còn ngươi hữu tình, không tự kiềm chế,
Do vậy, Ta đứng, còn ngươi chưa đứng.
– Đã lâu tôi kính, bậc Đại Tiên Nhân,
Nay Sa-môn này bước vào Đại Lâm.
Không lâu, tôi sẽ đoạn trừ ác pháp,
Sau khi được nghe pháp kệ của Ngài.
Nói xong tên cướp liền quăng bỏ kiếm,
Quăng bỏ khí giới xuống vực thâm sâu,
Tên cướp đảnh lễ dưới chân Thiện Thệ,
Ngay tại chỗ ấy, xin được xuất gia.
Đức Phật từ bi, bậc Đại Tiên Nhân,
Đạo Sư Nhân giới, cùng với Thiên giới,
Ngài đã trả lời: “Thiện lai Tỷ-kheo !”
Uy đức Tỷ-kheo, được Ngài xác chứng.
Rồi Thế Tôn cùng Tôn giả Aṅgulimāla là Sa-môn tùy tùng, bắt đầu du hành đi đến Sāvatthī, và tuần tự du hành, Thế Tôn đến Sāvatthī. Ở đây, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, tại cửa nội cung vua Pasenadi nước Kosala, một số đông quần chúng tụ họp lại, cao tiếng, lớn tiếng nói lên: “Tâu Đại vương, trong lãnh thổ Đại vương, có tên cướp tên Aṅgulimāla, là tên thợ săn, bàn tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Do vì nó, các làng trở thành không làng, thị trấn trở thành không thị trấn, quốc độ trở thành không quốc độ. Do nó luôn luôn giết người, nó mang một vòng hoa làm bằng ngón tay người. Đại vương hãy tẩn xuất nó.”
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, với khoảng năm trăm con ngựa, sáng sớm đi ra khỏi Sāvatthī, đi đến tinh xá, đi xe đến chỗ nào còn đi xe được, rồi vua xuống xe, đi bộ đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi xứ Kosala đang ngồi một bên:
– Thưa Đại vương, có phải vua Seniya Bimbisāra nước Magadha tức giận với Đại vương, hay các người Licchavi ở Vesālī, hay một địch vương nào khác?
– Bạch Thế Tôn, vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha không có tức giận với con, không phải các người Licchavi ở Vesālī, cũng không phải có địch
Nay được chánh danh, vì chẳng hại ai.
Trước ta được tên Aṅgulimāla,
Bị nước thác cuốn, ta quy y Phật.
Trước tay vấy máu, danh xưng (Anguli) māla,
Xem ta quy y, đoạn dây sanh tử,[1]
Làm nghiệp như vậy phải sanh ác thú,
Khi lãnh nghiệp báo,[2] không nợ ta hưởng.[3]
Kẻ ngu vô trí, đam mê phóng dật,
Còn người có trí, giữ không phóng dật,
Như giữ tài sản, tối thượng, tối quý,
Chớ mê phóng dật, chớ mê dục lạc.
Giữ không phóng dật, luôn luôn thiền định,
Chứng đắc đại lạc, quảng đại vô lượng,
Thiện lai[4], ta đến,[5] không đi lạc hướng,
Không ai khuyên ta theo tư tưởng ác,
Giữa các chân lý (được khéo) giảng dạy,
Chân lý ta theo, chân lý tối thượng.
Thiện lai ta đến, không đi lạc hướng,
Không ai khuyên ta theo tư tưởng ác,
Ba minh ta chứng, Phật lý viên thành.
KINH AṄGULIMĀLA, THỨ TÁM MƯƠI SÁU.
[1] Bhavanetti = sợi dây tái sanh.
[2] Kammavipāka được gọi là maggacetanā, cương quyết chọn lựa chon đường. Vì rằng Kamma được nấu sôi và đoạn trừ bởi phương tiện này, nên phương tiện này được gọi là Kammavipāka.
[3] Bhuñjāmi bhojanaṁ. Được tìm thấy ở Thag. 789, MA. iii. 343, Vism. 43, Ja.v. 253 phân biệt bốn loại paribhoga,
thụ hưởng, thọ dụng. Đây có nghĩa sāmiparibhoga, thọ hưởng của người chủ, khi các lậu hoặc đã đoạn trừ.
Bhojana có thể dịch là những đặc ân, đặc quyền, sự thọ dụng, địa vị.
[4] Cũng được tìm thấy ở Thag. 9.
[5] Thag A.i. 55 nói svāgatam có nghĩa cả hai: Sự đến đây của ta rất tốt đẹp; hay, tốt đẹp thay sự đến của ta trước mặt Thế Tôn.