Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Bi Hoa

Tác giả: Nguyễn Minh Tiến. Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.

 

Chương 26: Kinh Bi Hoa - Quyển IV, Phẩm Thứ Tư - Phần II, Bồ Tát Thọ Ký - Phần 2 (trang 452-471)

một đức Phật mà hiện đến chỗ của chư Phật nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, dùng những lời ngợi khen xưng tán vi diệu để xưng tán chư Phật.
“Thế Tôn! Nguyện cho con được Tam-muội Bất huyễn. Nhờ sức của tam-muội nên chỉ trong thời gian một niệm có thể thấy hết được chư Phật đầy khắp trong vô lượng vô biên thế giới mười phương.
“Thế Tôn! Nguyện cho con được Tam-muội Vô tránh. Nhờ sức của tam-muội nên chỉ trong thời gian một niệm có thể thấy hết được những thế giới thanh tịnh nhiệm mầu của chư Phật trong hiện tại, quá khứ và vị lai.
“Thế Tôn! Nguyện cho con được Tam-muội Thủ lăng nghiêm. Nhờ sức của tam-muội nên có thể biến hóa thànhthân của chúng sinh địa ngục, vào trong địa ngục thuyết giảng chánh pháp nhiệm mầu cho chúng sinh trong đó,khuyến khích và làm cho họ phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Những chúng sinh ấy được nghe chánh pháp rồi liền nhanh chóng phát tâm Bồ-đề Vô thượng, liền đó mạng chung sinh lên cõi người, rồi tùy nơi sinh ra thường được gặp Phật. Tùy chỗ gặp Phật được nghe thuyết pháp; nghe nhận chánh pháp rồi liền trụ yên nơi địa vị không còn thối chuyển.
“Đối với tất cả các loài chúng sinh như càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, loài người, loài phi nhân... cho đến chư thiên, rồng, quỷ thần, dạ-xoa, la-sát, tỳ-xá-già,(1) phú-đan-na,(2)già-trá phú-đan-na, đồ-sát,
_____________
(1)Tỳ-xá-già: xem chú giải ở trang 317.
(2)Phú-đan-na: phiên âm từ Phạn ngữ là Ptana, cũng đọc là Bố-đát-na, dịch nghĩa là xú quỷ hay xú uế quỷ. Loài quỷ này tuy thân hình xấu xí hôi hám nhưng lại là loài có phước đức cao nhất trong các loài ngạ quỷ.
khôi quái, thương giá, dâm nữ, súc sinh, ngạ quỷ... cũng đều như thế, đều khuyến khích giáo hóa, khiến cho phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Lại có những chúng sinh tùy chỗ sinh ra mà có những hình tướng khác nhau, con nguyện sẽ phân thân hóa thành giống họ, cùng làm những nghề nghiệp như họ, cùng nhận chịu những nỗi khổ, niềm vui như họ. Nguyện cho con biến hóa ra những thân như vậy để tùy theo việc làm mà giáo hóa những chúng sinh ấy.
“Thế Tôn! Nếu có những chúng sinh dùng các ngôn ngữ khác nhau, nguyện con sẽ có thể tùy theo từng loại ngôn ngữ ấy mà thuyết pháp cho họ nghe, khiến cho tất cả đều được hoan hỷ. Nhân nơi sự hoan hỷ ấy liền khuyến khích họ phát tâm, trụ yên trong chánh pháp, khiến cho đạt được địa vị không còn thối chuyển đối với quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệuTam-bồ-đề.
“Thế Tôn! Con nguyện sẽ giáo hóa cho tất cả chúng sinh trong mười ngàn cõi Phật, khiến cho được tâm thanh tịnh không còn hết thảy mọi nghiệp tạo tác và các độc phiền não, cho đến dù chỉ một người cũng không để cho bốn thứ ma(1) não hại, huống chi là nhiều người?
“Nếu như con đã trang nghiêm tốt đẹp cho mười ngàn cõi Phật, khiến được thanh tịnh như thế giới Thanh Hương Quang Minh Vô Cấu của Phật Quang Minh Vô Cấu Tôn
_______________
(1)Bốn thứ ma: chỉ các nguyên nhân gây khổ não cho chúng sinh trong vòng sinh tử luân hồi, bao gồm: 1. Phiền não ma: các phiền não gây đau khổ, như tham lam, sân hận, si mê... 2. Ấm ma: ma ngũ ấm, tức sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Những yếu tố này biến đổi không ngừng, không phải thực có, nhưng chúng sinh chấp chặt đó là bản ngã của mình nên phải chịu khổ não. 3. Tử ma: ma chết, cướp mất sinh mạng trong khi chúng sinh luôn ham muốn được sống. 4. Thiên ma: tức Ma vương ở cõi trời Tha hóa tự tại, luôn tạo ra những khó khăn, trở ngại để thách thức, não hại người tu tập.
Hương Vương, được đủ mọi sự trang nghiêm vi diệu như thế giới ấy, rồi sau đó bản thân con và quyến thuộc sẽ phát những đại nguyện giống như vị Bồ Tát Sư Tử Hương kia.(1)
“Bạch Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con sẽ thành tựu, được lợi ích bản thân, xin nguyện cho những chúng sinh trong mười ngàn cõi Phật đều được dứt hết mọi khổ não, được tâm nhu nhuyễn, được tâm điều phục, mỗi chúng sinh đều có thể tự ở nơi Bốn cõi thiên hạ của mình mà thấy được đức Phật Thế Tôn hiện đang thuyết pháp. Hết thảy chúng sinh lại tự nhiên có được đủ các loại trân bảo, hương hoa, hương bột cùng với hương phết, đủ mọi thứ y phục, cờ phướn... Mỗi chúng sinh đều dùng những thứ ấy để cúng dường đức Phật. Cúng dường Phật rồi, thảy đều phát tâm Bồ-đề Vô thượng.
“Bạch Thế Tôn! Nguyện cho con nay sẽ được sức Tam-muội Kiến chủng chủng trang nghiêm, từ xa nhìn thấy hếtthảy những việc như thế.’
“Vương tử vưa nói xong liền đúng như sở nguyện được nhìn thấy tất cả.
“Khi ấy, đức Thế Tôn khen ngợi vương tử Mẫn-đồ: “Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Thế giới của ông bao quanh bốn phía có mười ngàn cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, trong đời vị lai lại sẽ giáo hóa vô lượng chúng sinh, khiến cho được tâm thanh tịnh, lại sẽ cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn.
_____________
(1)Đại nguyện của Bồ Tát Sư Tử Hương như vừa trình bày ở đoạn trước là được cõi Phật thanh tịnh với đủ mọi sự trang nghiêm vi diệu. Vị vương tử này phát nguyện trước tiên sẽ tu hành đạo Bồ Tát ở cõi Phật bất tịnh, giáo hóa cho chúng sinh ở cõi bất tịnh, cho đến khi có thể chuyển hóa được mọi thứ trở thành thanh tịnh trang nghiêm rồi sau đó mới nguyện được cõi Phật thanh tịnh.
“Thiện nam tử! Do nhân duyên ấy, nay ta đổi tên cho ông là Phổ Hiền. Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, trong khoảng sau cuối của số a-tăng-kỳ kiếp lần thứ hai cũng nhiều như số cát song Hằng, về phương bắc của thế giới này, trải qua số cõi Phật nhiều như số cát của sáu mươi con sông Hằng, có thế giới tên là Tri Thủy Thiện Tịnh Công Đức, ông sẽ ở nơi thế giới ấy mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Trí Cang Hống Tự Tại Tướng Vương Như Lai, Ứngcúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế giangiải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư,Phật Thế Tôn.’
“Thiện nam tử! Khi ấy, Đại Bồ Tát Phổ Hiền liền cúi đầu sát đất lễ kính đức Phật Bảo Tạng.
“Bấy giờ, đức Như Lai Bảo Tạng Bồ Tát Phổ Hiền thuyết kệ rằng:
Đạo sư hãy đứng lên!
Ông đã được như nguyện,
Khéo điều phục chúng sinh,
Khiến cho được nhất tâm,
Vượt qua sông phiền não,
Thoát khỏi mọi điều ác.
Mai sau làm đuốc sáng,
Soi khắp cõi trời, người.
“Thiện nam tử! Bấy giờ, trong pháp hội có mười ngàn người sinh tâm nôn nóng không muốn đợi lâu, liền đồng thanh bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Chúng con vào đời vị lai nguyện cũng sẽ ở nơi cõi Phật trang nghiêm thanh
tịnh như vậy mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cũng nguyện tu tập trang nghiêm các cõi thế giớigiống như Bồ Tát Phổ Hiền.
“Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện sẽ tu tập đầy đủ sáu pháp ba-la-mật. Nhờ đầy đủ sáu pháp ba-la-mật nên mỗi người chúng con đều sẽ được ở nơi các cõi Phật mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’
“Thiện nam tử! Khi ấy đức Như Lai Bảo Tạng liền vì mười ngàn người ấy mà thọ ký: ‘Các thiện nam tử! Khi Bồ Tát PhổHiền thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, các ông sẽ ở trong mười ngàn cõi Phật thanh tịnh mà Bồ TátPhổ Hiền đã tu tập trang nghiêm, cùng lúc thành tựu quảA-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, trong đó có một ngànngười thành Phật cùng hiệu là Trí Sí Tôn Âm Vương NhưLai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ,Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiênnhân sư, Phật Thế Tôn.
“Lại có một ngàn người thành Phật cùng hiệu là Tăng Tướng Tôn Âm Vương.
“Lại có một ngàn người thành Phật cùng hiệu là Thiện VôCấu Tôn Âm Vương.
“Lại có một ngàn người thành Phật cùng hiệu là Ly Bố UýTôn Âm Vương.
“Lại có một ngàn người thành Phật cùng hiệu là Thiện VôCấu Quang Tôn Âm Vương.
“Lại có năm trăm người thành Phật cùng hiệu là Nhật Âm Vương.
“Lại có năm trăm người thành Phật cùng hiệu là Nhật Tạng Tôn Vương.
“Lại có năm người thành Phật cùng hiệu là Lạc Âm Tôn Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Nhật Quang Minh.
“Lại có bốn người thành Phật cùng hiệu là Long Tự Tại.
“Lại có tám người thành Phật cùng hiệu là Ly Khủng Bố Xứng Vương Quang Minh.
“Lại có mười người thành Phật cùng hiệu là Ly Âm Quang Minh.
“Lại có tám người thành Phật cùng hiệu là Âm Thanh Xưng.
“Lại có mười một người thành Phật cùng hiệu là Hiển Lộ Pháp Âm.
“Lại có chín người thành Phật cùng hiệu là Công Đức Pháp Xứng Vương.
“Lại có hai mươi người thành Phật cùng hiệu là Bất Khả Tư Nghị Vương.
“Lại có bốn mươi người thành Phật cùng hiệu là Bảo Tràng Quang Minh Tôn Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Giác Tri Tôn Tưởng Vương.
“Lại có bảy người thành Phật cùng hiệu là Bất Khả Tư Nghị Ý.
“Lại có ba người thành Phật cùng hiệu là Trí Tạng.
“Lại có mười lăm người thành Phật cùng hiệu là Trí Sơn Tràng.
“Lại có năm mươi người thành Phật cùng hiệu là Trí Hải Vương.
“Lại có ba mươi người thành Phật cùng hiệu là Đại Lực Tôn Âm Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Sơn Công Đức Kiếp.
“Lại có tám mươi người thành Phật cùng hiệu là Thanh Tịnh Trí Cần.
“Lại có chín mươi người thành Phật cùng hiệu là Tôn Tướng Chủng Vương.
“Lại có một trăm người thành Phật cùng hiệu là Thiện Trí Vô Cấu Lôi Âm Tôn Vương.
“Lại có tám mươi người thành Phật cùng hiệu là Thắng Tôn Đại Hải Công Đức Trí Sơn Lực Vương.
“Lại có bốn mươi người thành Phật cùng hiệu là Vô Thượng Bồ-đề Tôn Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Tri Giác Sơn Hoa Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Công Đức Sơn Trí Giác.
“Lại có ba người thành Phật cùng hiệu là Kim Cang Sư Tử.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Trì Giới Quang Minh.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Thị Hiện Tăng Ích.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vô Lượng Quang Minh.
“Lại có ba người thành Phật cùng hiệu là Sư Tử Du Hý.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Vô Tận Trí Sơn.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Bảo Quang Minh.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Vô Cấu Trí Huệ.
“Lại có chín người thành Phật cùng hiệu là Trí Huệ Quang Minh.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Sư Tử Xứng.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Công Đức Biến Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Vũ Pháp Hoa.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tạo Quang Minh.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tăng Ích Sơn Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Xuất Pháp Vô Cấu Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Hương Tôn Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vô Cấu Mục.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Đại Bảo Tạng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Lực Vô Chướng Ngại Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tự Tri Công Đức Lực.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Y Phục Tri Túc.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Đức Tự Tại.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vô Chướng Ngại Lợi Ích.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Trí Huệ Tạng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Đại Sơn Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Lực Tạng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Cầu Công Đức.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Hoa Tràng Chi.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Chúng Quang Minh.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vô Ngại Công Đức Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Kim Cang Thượng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Pháp Tướng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tôn Âm Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Kiên Trì Kim Cang.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Trân Bảo Tự Tại Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Kiên Tự Nhiên Tràng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Sơn Kiếp.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vũ Ngu Lạc.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tăng Ích Thiện Pháp.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Sa-la Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Công Đức Biến Mãn Đại Hải Công Đức Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Trí Huệ Hòa Hợp.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Trí Sí.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Hoa Chúng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Thế Gian Tôn.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Ưu-đàm-bát Hoa Tràng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Pháp Tràng Tự Tại Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Chiên-đàn Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Thiện Trụ.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tinh Tấn Lực.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tràng Đẳng Quang Minh.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Trí Bộ.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Hải Tràng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Diệt Pháp Xứng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Hoại Ma Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Chúng Quang Minh.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Xuất Trí Quang Minh.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Huệ Đăng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là An Ẩn Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Trí Âm.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Tràng Nhiếp Thủ.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Thiên Kim Cang.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vô Thắng Trí.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Thiện Trụ Ý.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Nguyệt Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Vô Thắng Bộ Tự Tại Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Sa-lân-đà Vương.
“Lại có tám mươi người thành Phật cùng hiệu là Sư Tử Bộ Vương.
“Lại có năm mươi người thành Phật cùng hiệu là Na-la-diên
Vô Thắng Tạng. “Lại có bảy mươi người thành Phật cùng hiệu là Tụ Tập Trân Bảo Công Đức.
“Lại có ba mươi người thành Phật cùng hiệu là Quang Minh Tạng.
“Lại có hai mươi người thành Phật cùng hiệu là Phân Biệt Tinh Tú Xưng Vương.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Công Đức Lực Sa-la Vương.
“Lại có chín mươi người thành Phật cùng hiệu là Vi Diệu Âm.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Phạm Tăng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Đề-đầu-lại-trá Vương.
“Lại có một ngàn người thành Phật cùng hiệu là Liên Hoa Hương Trạch Xưng Tôn Vương.
“Lại có sáu mươi người thành Phật cùng hiệu là Quang Minh Sí Đăng Vương.
“Lại có ba mươi người thành Phật cùng hiệu là Liên Hoa Hương Lực Tăng.
“Lại có hai người thành Phật cùng hiệu là Vô Lượng Công Đức Đại Hải Trí Tăng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Diêm-phù-âm.
“Lại có một trăm lẻ ba người thành Phật cùng hiệu là Công Đức Sơn Tràng.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Sư Tử Tướng.
“Lại có một trăm lẻ một người thành Phật cùng hiệu là Long Lôi Tôn Hoa Quang Minh Vương.
“Lại có một người thành Phật hiệu là Thiện Thú Chủng Vô Ngã Cam Lộ Công Đức Kiếp Vương.
“Lại có một ngàn người thành Phật cùng hiệu là Ly Pháp Trí Long Vương Giải Thoát Giác Thế Giới Hải Nhãn Sơn Vương.
“Tất cả đều có đủ mười hiệu là Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
“Hết thảy các vị Phật này đều trong cùng một ngày, một giờ, mỗi vị ở nơi thế giới của mình mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Thọ mạng của mỗi vị đều là mười trung kiếp, đều nhập Niết-bàn trong cùng một ngày. Sau khi nhập Niết-bàn rồi, sau bảy ngày chánh pháp sẽ diệt mất.
“Thiện nam tử! Khi ấy, mười ngàn người cùng hướng về đức Phật Bảo Tạng, cúi đầu làm lễ.
“Bấy giờ, đức Thế Tôn vì mười ngàn người ấy thuyết kệ rằng:
Long vương hãy đứng lên!
Được kiên cố tự tại,
Phát nguyện lành vô thượng,
Thanh tịnh và hòa hợp,
Dụng ý của các ông,
Gấp rút như gió mạnh,
Tinh tấn và chuyên cần,
Tu học pháp Lục độ,
Đời vị lai sẽ thành,
Tôn quý trong Ba cõi.
“Thiện nam tử! Khi ấy, mười ngàn người cùng nghe kệ rồi sinh tâm hoan hỷ, liền đứng lên trước Phật chắp tay cung kính, lễ bái dưới chân Phật rồi lui ra gần đó, ngồi yên lặng lắng nghe thuyết pháp.
“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Phạm-chí Bảo Hải lại khuyên bảo vương tử thứ chín là Mật-tô phát tâm A-nậu-đa-laTam-miệu Tam-bồ-đề, cho đến phát nguyện được cõi Phật.
“Khi ấy, vương tử Mật-tô bạch trước Phật rằng: ‘Thế Tôn! Khi con tu hành đạo Bồ Tát, nguyện được hết thảy chư Phật hiện tại trong các thế giới mười phương nhiều như số cát sông Hằng vì con mà chứng minh, nay con ở trước Phật phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Thế Tôn! Nguyện trong khi con tu hành đạo Bồ Tát cho đến khi thành Phật, chẳng bao giờ sinh tâm hối tiếc, đến khi thành Phật cũng vẫn thường trụ yên nơi nhất tâm, không có sự thối chuyển, luôn theo đúng như sự thuyết dạy mà làm, theo đúng như việc làm mà thuyết dạy, cho đến chẳng có một người nào đến làm não hại tâm con. Con rốt ráo chẳng cầu Thanh văn, Duyên giác, chẳng khởi tâm dâm dục, chẳng khởi các tư tưởng ác. Con cũng chẳng bao giờ để tâm rơi vào những trạng thái mê ngủ, kiêu căng, ngạo mạn, nghi ngờ, hối tiếc... cũng chẳng sinh khởi những tâm tham lam, dâm dục, giết hại, trộm cắp,
nói dối, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời không chân chánh,(1) sân hận, tà kiến, ganh ghét; cũng chẳng bao giờ dám khi dễ, xem nhẹ chánh pháp.
“Trong suốt thời gian con tu hành đạo Bồ Tát cho đến thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nguyện không sinh khởi các pháp xấu ác như vậy, cho đến thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, mỗi bước chân đi vẫn thường niệm tưởng chánh pháp, niệm tưởng chư Phật, được thấy chư Phật, thưa hỏi và nhận lãnh chánh pháp nhiệm mầu, cúng dường chúng tăng.
“Mỗi khi con sinh ra ở bất cứ đâu, nguyện thường xuất gia tu tập. Ngay khi xuất gia liền tự nhiên có đủ ba tấm phấn tảo y,(2)thường ngồi tư duy một mình dưới gốc cây, ở nơi thanh vắng tịch tĩnh thường thực hành việc khất thực, không cầu được lợi dưỡng, thực hành hạnh biết đủ, thường giảng thuyết chánh pháp, thành tựu được vô lượng tài biện thuyết không có chướng ngại, không phạm vào các tội lớn; không rơi vào chấp ngã khi vì người nữ thuyết pháp, khi thuyết pháp thường luôn giữ lấy tướng không, trong tâm nhớ nghĩ muôn pháp đều không, chắp tay ngồi ngay ngắn, khi nói chẳng để lộ răng.(3)
“Khi gặp những người học tập theo Đại thừa, luôn khởi ý tưởng xem đó như đức Thế Tôn, thường luôn cung kính
______________
(1)Lời không chân chánh: nguyên bản Hán văn dùng “ỷ ngữ”, xin xem chú giải ở trang 124.
(2)Phấn tảo y, cũng gọi là nạp y, chỉ ba tấm pháp y của người xuất gia. Phấn tảo có nghĩa là phân rác, đồ bỏ đi, vì người xuất gia dùng những loại vải xấu xí, rách nát mà chắp vá lại thành áo mặc, hoặc nhuộm cho mất đi màu sắc đẹp mà thế gian ưa chuộng, nên gọi tên như vậy. Tên Phạn ngữ là Paṃsukulika. Xem chú giải về Ba tấm pháp y ở trang 179.
(3)Đoạn này mô tả oai nghi của vị tỳ-kheo khi cần thiết phải vì người nữ thuyết pháp, luôn nghiêm trang thận trọng, tự giữ gìn cho mình và cho người, không để cho các tâm niệm xấu có điều kiện sinh khởi.
dường. Ở bất cứ nơi đâu được nghe chánh pháp đều khởi ý tưởng xem như được gặp Phật. Đối với các vị sa-môn, bà-la-môn cũng luôn cung kính, cúng dường tôn trọng. Khi thực hành việc bố thí, cúng dường, chỉ trừ ra đức Phật Thế Tôn, còn đối với tất cả mọi người khác đều không có tâm phân biệt là ruộng phước(1)hay không phải ruộng phước.
“Con nguyện đối với những người bố thí pháp(2) không sinh lòng ganh ghét. Nếu có chúng sinh nào sắp bị hình phạt giết chóc, con nguyện xả bỏ thân mạng để cứu giúp, bảo vệ. Nếu có chúng sinh nào phạm vào tội lỗi, con nguyện dùng hết sức mình với mọi phương tiện như lời nói, tiền bạc, của cải... để cứu giúp, khiến cho được giải thoát.
“Nếu có những người tại gia hoặc xuất gia mắc phải lỗi lầm, con nguyện không mang những việc ấy ra phô bày với người khác. Đối với những sự lợi dưỡng, danh vọng, con sẽ luôn tránh xa như hầm lửa, như đao kiếm, như cây có độc.
“Bạch Thế Tôn! Nếu như sự phát nguyện của con hôm nay trước Phật, cho đến quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệuTam-bồ-đề rồi sẽ được thành tựu đúng như vậy, xin khiến cho trong cả hai tay con đều tự nhiên có được bánh xe báu
__________
(1)Ruộng phước (phước điền): xem chú giải ở trang 223. Ở đây có ý muốn nói không phân biệt người nhận bố thí là có nhiều hay ít oai đức, chỉ trừ ra tâm cung kính đối với đức Thế Tôn là có khác biệt mà thôi.
(2)Bố thí pháp (pháp thí): nghĩa là đem chánh pháp ra giảng giải, truyền trao cho người khác. Phật dạy có ba hình thức bố thí: một là tài thí, là cung cấp cho người khác những của cải vật chất mà họ đang cần; hai là vô úy thí, là sự an ủi, trấn an, bảo vệ người khác, khiến cho họ được an ổn, không sợ sệt; ba là pháp thí, là dùng chánh pháp để dạy bảo, khuyến khích người khác tu tập. Như vị Phạm-chíBảo Hải trong kinh này chính là người đang thực hành việc bố thí pháp, tức là pháp thí.
cõi trời với ngàn cây nan hoa, ánh sáng tỏa ra như ngọn lửa lớn.’
“Thiện nam tử! Khi vương tử Mật-tô vừa nói xong lời ấy, trong cả hai tay liền tự nhiên xuất hiện mỗi tay một bánh xe báu có ngàn cây nan hoa, đúng như lời nguyện.
“Khi ấy, vương tử Mật-tô lại bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, thành tựu quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, thì nay con sẽ sai khiến các bánh xe báu cõi trời có ngàn cây nan hoa này bay đến những cõi thế giới không có Phật với đủ năm sự uế trược. Những bánh xe báu này sẽ phát ra âm thanh rất lớn, vang dội khắp các cõi Phật. Cũng giống như các vị Long vương Nan-đà, Long vương Ưu-ba Nan-đà phát ra âm thanh lớn vang khắp thế giới, âm thanh của những bánh xe báu này cũng vang dội khắp nơi như vậy. Đó là những âm thanh thọ ký cho Bồ Tát, âm thanh không để mất chánh niệm, trí huệ; âm thanh tu học pháp không Pháptạng của chư Phật.
“Chúng sinh ở khắp mọi nơi, nếu nghe những âm thanh chánh pháp này liền được trừ dứt tham dục, sân khuể, ngusi, kiêu mạn, xan lận, tật đố, đạt được sự tư duy tịch tĩnh và trí huệ rất thâm sâu của chư Phật, liền phát tâm A-nậu-đa-laTam-miệu Tam-bồ-đề.’
“Thiện nam tử! Khi ấy, vương tử Mật-tô tức thời sai khiến hai bánh xe báu. Cũng giống như thần túc của chư Phật hóa hiện cực kỳ nhanh chóng, những bánh xe ấy cũng đến rồi đi nhanh chóng như vậy, hóa hiện khắp những cõi thế giới xấu ác không có Phật, vì những chúng sinh ở đó mà phát ra những âm thanh thọ ký cho Bồ Tát,
âm thanh không để mất chánh niệm, trí huệ; âm thanh tu học pháp không Pháp tạng của chư Phật. Chúng sinh ở khắp mọi nơi khi nghe những âm thanh chánh pháp này liền được trừ dứt tham dục, sân khuể, ngu si, kiêu mạn, xan lận, tật đố, đạt được sự tư duy tịch tĩnh và trí huệ rất thâm sâu của chư Phật, liền phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Rồi chỉ trong phút chốc, các bánh xe ấy đã quay về ngay trước mặt vương tử Mật-tô.
“Thiện nam tử! Bấy giờ, đức Như Lai Bảo Tạng ngợi khen vương tử Mật-tô: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Nguyện lành của ông khi hành đạo Bồ Tát thật là cao trổi nhiệm mầu bậc nhất, sai khiến những bánh xe báu này bay đến những cõi thế giới không có Phật với đủ năm sự uế trược, khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ trăm ngàn ức chúng sinh được dừng yên, trụ vững nơi tâm không uế trược, tâm không não hại, khuyến khích giáo hóa cho thảy đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Do vậy, nay ta đổi tên ông là A-súc,(1) trong đời vị lai sẽ thành bậc Thế Tôn. Nay ông nên đối trước Phật mà vui mừng hoan hỷ, phát nguyện nhận lấy cõi Phật với đủ mọi sự trang nghiêmtốt đẹp.’
“Bấy giờ, Bồ Tát A-súc bạch Phật: ‘Thế Tôn! Sở nguyện của con là được cõi Phật với đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp như thế này: Nguyện cho thế giới của con chỉ dùng toàn vàng ròng làm đất, đất đai bằng phẳng như lòng bàn tay, có rất nhiều mọi thứ báu vật cõi trời, đầy khắp trong thế giới; không có những núi đồi gò nỗng, đất cát sỏi đá, các loại gai góc... Mặt đất mềm mại êm ái như vải lụa cõi
_______________
(1)A-súc, phiên âm từ Phạn ngữ là Akṣobhya, cũng đọc là A-súc-bệ hay A-súc-bà, dịch nghĩa là Vô động hay Bất động. Kinh Duy-ma-cật có một phẩm nói về thế giới của đức Phật này.
trời, khi đi thì bàn chân lún sâu vào đất đến bốn tấc, khi nhấc chân lên mặt đất liền khép lại.
“Thế giới ấy không có các cảnh giới địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, không có những điều bất tịnh, hôi hám, dơ bẩn. Khắp thế giới chỉ có toàn hương thơm mầu nhiệm bậc nhất của chư thiên cùng với các loại hương hoa mạn-đà-la, ma-ha mạn-đà-la xông tỏa khắp nơi. Chúng sinh ở thế giới ấykhông có già yếu, không có bệnh tật, mỗi người đều sống rấttự tại, không hề e dè, sợ sệt lẫn nhau, thường không não hạingười khác.
“Thế giới ấy không có những trường hợp chết yểu, đến lúc mạng chung tâm không có sự hối tiếc, oán hận. Người sắp chết luôn có tâm quyết định, không có sự sai lầm, rối loạn, luôn giữ tâm niệm tưởng, tư duy đến chư Phật Như Lai. Sau khi mạng chung không đọa vào các đường ác,(1)không sinh về những thế giới xấu ác có năm sự uế trược không có Phật.
“Chúng sinh ở thế giới ấy mãi cho đến khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thường luôn được gặp Phật, thưa hỏi và nhận lãnh chánh pháp nhiệm mầu, được cúng dường chúng tăng.
“Chúng sinh ở thế giới ấy trừ bỏ dâm dục, giận hờn, si mê, thảy đều thực hành theo Mười điều lành.(2)Trong thế
____________
(1)Các đường ác: tức là ba đường ác, chỉ các cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.
(2)Mười điều lành (Thập thiện): là những điều mà bất cứ ai làm theo cũng sẽ gặt hái được những quả lành, được sinh về những cảnh giới tốt đẹp hơn. Mười điều lành gồm có:
1. Không sát sinh, thường làm việc tha thứ và phóng sinh.
2. Không trộm cắp, thường tu hạnh bố thí, giúp đỡ, san sẻ với mọi người.
3. Không tà dâm, luôn giữ lòng chung thủy một vợ một chồng.
4. Không nói dối, luôn nói lời chân thật.
giới không có mọi thứ ngành nghề khéo xảo, không có sự phạm tội, cũng không có cả tên gọi để chỉ sự phạm tội; cũng không có Thiên ma(1) và những trở ngại khó khăn trên đường tu đạo.
“Hình thể của chúng sinh không có các tướng xấu xí, cũng không có sự phân biệt thứ bậc cao thấp. Hết thảy chúng sinh đều thấu hiểu sâu xa lý vô ngã, rằng không thật có cái ta vật của ta. Hàng Thanh văn Bồ Tát cho đến trong giấc mộng cũng không khởi tâm bất tịnh. Chúng sinh thường ưa muốn, mong cầu chánh pháp, lắng nghe chánh pháp, không có bất cứ một người nào sinh ra các kiến giải điên đảo,(2) cũng không có ngoại đạo. Chúng sinh không có sự mỏi mệt của thân và tâm, hết thảy đều đạt được năm thần thông,(3)không phải chịu đói khát và
_________________
5. Không nói trau chuốt, thô tục, thường nói những lời có ý nghĩa, có ích lợi.
6. Không nói đâm thọc, gây chia rẽ, thường nói những lời tạo ra sự đoàn kết, thương yêu nhau.
7. Không nói lời độc ác, gây tổn hại, thường nói những lời ôn hòa, nhu thuận.
8. Không tham lam, luôn quán xét rằng mọi thứ của cải vật chất đều chỉ là giả tạm, không thường tồn.
9. Không sân nhuế, thường tu tập hạnh từ bi, nhẫn nhục.
10. Không ngu mê, tà kiến, thường sáng suốt tu tập theo chánh kiến.
(1)Thiên ma: tức Ma vương Ba-tuần và quyến thuộc ở cõi trời Tha hóa tự tại, nên cũng gọi là Tha hóa tự tại thiên tử ma, thường đi khắp nơi gây ra nhiều khó khăn trở ngại cho người tu đạo.
(2)Các kiến giải điên đảo (đảo kiến): chỉ bốn quan điểm sai lầm mà chúng sinh thường rơi vào, nên cũng gọi là Tứ đảo hay Tứ điên đảo, gồm có: 1. Vô thường cho là thường, thường cho là vô thường; 2. Khổ cho là vui, vui cho là khổ. 3. Không có thật ngã cho là có ngã, có thật ngã cho là không có ngã. 4. Bất tịnh cho là tịnh, tịnh cho là bất tịnh.
(3)Năm thần thông (ngũ thông): là năm năng lực siêu phàm của một bậc chứng ngộ, bao gồm: 1. Thiên nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Tha tâm thông, 4. Túc mạng thông, 5. Thần túc thông hay Như ý thông. Như vậy, Năm thần thông cũng tương tự như Sáu thần thông (Lục thông), chỉ trừ không có Lậu tận thông. Xem lại chú giải ở trang 93. Những tiên nhân ngoại đạo tu hành lâu năm cũng chứng đắc Năm thần thông nhưng với mức độ giới hạn, không được
/54
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây