Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Bi Hoa

Tác giả: Nguyễn Minh Tiến. Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến. Hiệu đính Hán Văn: Nguyễn Minh Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 1135.

 

Chương 32: KINH BI HOA - QUYỂN V - Phần 1 (trang 558-577)

KINH BI HOA - QUYỂN V
PHẨM THỨ TƯ - PHẦN III
BỒ TÁT THỌ KÝ

 
Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm-chí Bảo Hải lại khuyên vị vương tử thứ mười là Nhu Tâm phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cho đến nguyện đượccõi Phật.
“Vương tử Nhu Tâm lại trình bày sở nguyện cũng giống như Bồ Tát A-súc, rồi bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, xin nguyện hết thảy chúng sinh đều tư duy về cảnh giới của chư Phật, rồi trong tay tự nhiên có các loại hương chiên-đàn, hương ưu-đà-bà-la, lại dùng các loại hương ấy cúng dường chư Phật.’
Khi ấy, đức Như Lai Bảo Tạng ngợi khen vương tử Nhu Tâm rằng: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Sở nguyệncủa ông thật vô cùng đặc biệt và kỳ lạ. Ông nguyện cho trongtay chúng sinh tự nhiên có các loại hương chiên-đàn, hương ưu-đà-bà-la, tư duy về cảnh giới của chư Phật, duy trì ýniệm thanh tịnh. Vì thế, nay ta đổi tên cho ông là Hương Thủ.
“Thiện nam tử! Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, trong phần sau của số a-tăng-kỳ kiếp thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng,sau khi đức Như Lai A-súc đã nhập Niết-bàn, chánh phápdiệt mất, sau đó bảy ngày ông sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Kim Hoa Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Cõi Phật ấy cũng tên là Diệu Lạc.’
“Bấy giờ, Bồ Tát Hương Thủ lại bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay khi con kính lễ Phật, khắp rừng Diêm-phù này sẽ mưa xuống đầy hoa chiêm-bặc.’(1)
“Thiện nam tử! Lúc đó, Bồ Tát Hương Thủ liền đối trước đức Phật Bảo Tạng, cúi đầu sát đất lễ kính. Ngay khi ấy, khắp trong rừng Diêm-phù liền có hoa chiêm-bặc mưa xuống đúng như lời nguyện.
“Bấy giờ, đức Như Lai Bảo Tạng Bồ Tát Hương Thủthuyết kệ rằng:
Bậc công đức cao quý,
Nay ông hãy đứng lên!
Như lòng ông đã nguyện,
Trời mưa hoa chiêm-bặc,
Độ thoát được vô số,
Hết thảy mọi chúng sinh.
Chỉ bày mọi pháp lành,
Khiến không còn sợ sệt.
_______________
(1)Chiêm-bặc (Sanskrit: campaka): một loại hoa rất thơm, còn gọi là hoàng hoa, vì có màu vàng, thường được dùng cúng Phật và làm dầu thắp. Cây chiêm-bặc thường mọc thành rừng, không xen lẫn với các cây khác.
“Thiện nam tử! Khi ấy Bồ Tát Hương Thủ nghe kệ rồi sinh tâm hoan hỷ, liền đứng lên trước Phật chắp tay cung kính, lễ bái dưới chân Phật rồi lui ra gần đó, ngồi yên lặng lắng nghe thuyết pháp.
“Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm-chí Bảo Hải lại khuyên vị vương tử thứ mười một là Mông-già-nô phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cho đến nguyện được cõi Phật.
“Vương tử Mông-già-nô trình bày sở nguyện cũng giống như Bồ Tát Hương Thủ. Rồi vương tử dùng các loại cờ phướn quý báu để cúng dường đức Như Lai Bảo Tạng.
“Khi ấy, đức Phật liền ngợi khen vương tử Mông-già-nô: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Nay ông dùng những cờ phướn quý báu này để cúng dường, vậy ta đặt tên cho ông là Bảo Tướng.
“Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, đến phần sau của số a-tăng-kỳ kiếp thứ hai, cũng nhiều như số cát sông Hằng, khi đức Như Lai Kim Hoa ở thế giới Diệu Lạc nhập Niết-bàn rồi, chánh pháp diệt mất, sau đó ba trung kiếp, thế giới Diệu Lạc đổi tên thành Nguyệt Thắng, ông sẽ ở nơi thế giới ấy mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Long Tự TạiTôn Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minhhạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngựtrượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Những sự trang nghiêm tốt đẹp của thế giới Phật ấy cũng giống như thế giới Diệu Lạc, không có gì khác biệt.’
“Bấy giờ, Bồ Tát Bảo Tướng bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nếu
như sở nguyện của con được thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay khi con cúi đầu lễ kính dưới chân Phật, sẽ khiến cho hết thảy chúng sinh đều được chánh niệm, giống như Bồ Tát trụ yên trong Tam-muội Vô siểm, đều được lợi ích lớn, sinh lòng đại bi, phát tâm Bồ-đề.’
“Thiện nam tử! Khi ấy, Bồ Tát Bảo Tướng liền đối trước đức Phật Bảo Tạng, cúi đầu sát đất lễ kính. Hết thảy chúng sinh liền được Tam-muội Vô siểm, được lợi ích lớn, sinh lòng đại bi, phát tâm Bồ-đề.
“Lúc đó, đức Như Lai Bảo Tạng liền vì Bồ Tát Bảo Tướng thuyết kệ:
Ông nay hãy đứng lên!
Tâm lành đối trước Phật,
Vì hết thảy chúng sinh,
Khéo phát lời nguyện lớn,
Có thể làm lợi ích,
Cho vô lượng chúng sinh,
Khiến tâm được trong sạch.
Vì thế trong tương lai,
Sẽ được thành quả Phật,
Tôn quý trong Ba cõi.
“Thiện nam tử! Khi ấy Bồ Tát Bảo Tướng nghe kệ rồi sinh tâm hoan hỷ, liền đứng lên trước Phật chắp tay cung kính, lễ bái dưới chân Phật rồi lui ra gần đó, ngồi yên lặng lắng nghe thuyết pháp.
“Bấy giờ, vương tử Ma-xà-nô(1) và các vương tử khác,
_____________
(1)Ma-xà-nô: đây là vị vương tử thứ 15 của vua Chuyển luân. Nguyên bản Hán văn ghi là Ma-xà-bà, chúng tôi ngờ là có nhầm lẫn, vì không thấy có vị vương tử nào mang tên này.
cả thảy năm trăm vị, đều phát nguyện như nhau, nguyện được cõi Phật có đủ mọi công đức trang nghiêm tốt đẹp giống như cõi thế giới thanh tịnh của Đại Bồ Tát Hư Không Ấn.
“Lúc ấy, đức Như Lai Bảo Tạng liền vì mỗi vị vương tử đều thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tất cả đều cùng lúc ở các cõi Phật khác nhau thành tựu đạo thượng, cũng giống như Đại Bồ Tát Hư Không Ấn.
“Sau đó, bốn trăm vị vương tử khác cũng phát nguyện được cõi Phật thanh tịnh, mầu nhiệm, trang nghiêm tốt đẹp, thảy đều giống như Đại Bồ Tát Kim Cang Trí Huệ Quang Minh.
“Đức Như Lai Bảo Tạng cũng vì mỗi vị vương tử đều thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tất cả đều cùng lúc ở các cõi Phật khác nhau thành tựu đạo Vô thượng, cũng giống như Đại Bồ Tát Kim Cang Trí Huệ Quang Minh.
“Sau đó, tám mươi chín vị vương tử còn lại cũng phát nguyện được cõi Phật trang nghiêm tốt đẹp giống như cõi Phật của Đại Bồ Tát Phổ Hiền, không có gì khác biệt.
“Bấy giờ, tám mươi bốn ngàn vị tiểu vương, mỗi vị đề khởi những lời nguyện thù thắng khác nhau, đều tự nhận lấy những cõi Phật nhiệm mầu cao trổi với đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp.
“Đức Như Lai Bảo Tạng liền vì hết thảy các vị vương tử và tiểu vương mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, trong đời vị lai mỗi người đều sẽ ở tại các thế giới khác nhau mà cùng lúc thành tựu đạo Vô thượng.
“Khi ấy có chín mươi hai ức chúng sinh, mỗi người cũng đều phát nguyện được cõi Phật nhiệm mầu thù thắng với đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp.
“Đức Như Lai Bảo Tạng cũng vì tất cả mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề cho từng người: ‘Hết thảy các ông trong đời vị lai đều sẽ ở nơi những thế giới khác nhau cùng lúc thành tựu đạo Vô thượng.’
“Thiện nam tử! Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải có tám mươi người con trai, đều là anh em ruột với đức Như Lai Bảo Tạng. Người con lớn nhất tên là Hải Địa Tôn.
“Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải bảo người con trưởng ấy rằng: ‘Nay con nên phát nguyện được cõi Phật nhiệm mầu thanh tịnh với đủ mọi sự trang nghiêm.’
“Người con đáp: ‘Xin cha hãy phát đại nguyện trước.’
Phạm-chí Bảo Hải nói: ‘Sở nguyện của cha nên được nói ra sau cùng.’
“Người con lại nói: ‘Nay con nên phát nguyện được cõi Phật thanh tịnh hay là không thanh tịnh?’
Phạm-chí Bảo Hải đáp: ‘Nếu như Bồ Tát thành tựu được tâm đại bi thì mới nên nhận lấy cõi thế giới không thanh tịnh. Vì sao vậy? Vì muốn khéo điều phục những điều xấu ác bất tịnh của chúng sinh. Việc ấy con nên tự biết.’
“Thiện nam tử! Khi ấy Hải Địa Tôn liền đến trước đức Như Lai Bảo Tạng, bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn! Chỗ phát nguyện A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề của con là vào lúc nào tuổi thọ con người được tám vạn năm, giống như đời Phật hiện nay, thì con mới thành tựu quả A-nậu-đa-laTam-miệu Tam-bồ-đề.
“Con cũng nguyện cho tất cả chúng sinh trong thế giới của con đều trừ nhẹ được dâm dục, sân khuể, ngu si; biết chán lìa thân tâm vô thường, thấy được những chỗ tai hại mà sợ sệt chốn sinh tử, thảy đều tìm đến chỗ con để xuất gia học đạo. Khi ấy con sẽ vì các chúng sinh ấy mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa.(1)
“Bạch Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, nguyện đức Thế Tôn vì con thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’
“Bấy giờ, đức Như Lai Bảo Tạng bảo Hải Địa Tôn: ‘Thiện nam tử! Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước vào số a-tăng-kỳ kiếp thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng, khi ấy kiếp tên là Biến Phu Ưu-bát-la Hoa, cõi thế giới tên là Nguyện Ái. Vào thờiấy, nhân dân thọ tám vạn tuổi, ông sẽ ở trong thế giới ấy mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Bảo Sơn Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnhtúc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượngphu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
“Khi ấy, Hải Địa Tôn lại bạch rằng: ‘Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, nguyện khắp khu rừng Diêm-phù này có mưa xuống chân châu màu đỏ, hết thảy cây cối tự nhiên đều phát ra âm nhạc vi diệu.’
“Thiện nam tử! Lúc đó, Hải Địa Tôn liền đối trước đức Phật Bảo Tạng cúi đầu sát đất kính lễ. Ngay khi ấy, khắp
______________
(1)Ba thừa (Tam thừa): gồm Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ Tát thừa. Giáo pháp Ba thừa có nghĩa là phù hợp với căn cơ của hết thảy chúng sinh, chỉ trừ ra hạng Nhất-xiển-đề, nghĩa là những người không thể phát khởi lòng tin.
cả khu rừng liền có mưa xuống chân châu màu đỏ, hết thảy cây cối tự nhiên đều phát ra âm nhạc vi diệu.
“Khi ấy, đức Như Lai Bảo Tạng liền vì Hải Địa Tôn thuyết kệ:
Nay ông hãy đứng lên!
Kho trí huệ vô lượng,
Từ bi vì chúng sinh,
Làm lợi ích lớn lao.
Chỗ phát nguyện thanh tịnh,
Nay đã được thành tựu.
Vì hết thảy chúng sinh,
Làm bậc thầy dẫn dắt.
“Thiện nam tử! Khi ấy Hải Địa Tôn nghe kệ rồi sinh tâm hoan hỷ, liền đứng lên trước Phật chắp tay cung kính, lễ bái dưới chân Phật rồi lui ra gần đó, ngồi yên lặng lắng nghe thuyết pháp.
“Người con thứ hai của Phạm-chí Bảo Hải Tam-bà-bà bạch Phật: ‘Thế Tôn! Chỗ phát nguyện của con cũng giốngnhư sở nguyện của anh Hải Địa Tôn.’
“Bấy giờ, đức Như Lai Bảo Tạng liền bảo Tam-bà-bà: ‘Trong đời vị lai, vào kiếp Ưu-bát-la Hoa, ở thế giới NguyệnÁi, tuổi thọ con người tăng lên đến tám mươi ức tuổi, ông sẽ ở trong thế giới ấy mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệuTam-bồ-đề, hiệu là Nhật Hoa Như Lai, Ứng cúng, Chánhbiến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượngsĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
“Người con thứ ba cũng nguyện được cõi thế giới giống như vậy, sẽ vào lúc tuổi thọ con người là hai ngàn năm mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Hỏa Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
“Người con thứ tư thành Phật hiệu là Tu-mạn-na.
“Người con thứ năm thành Phật hiệu là Trì Giới Vương.
“Người con thứ sáu thành Phật hiệu là Thiện Trì Mục.
“Người con thứ bảy thành Phật hiệu là Phạm Tăng Ích.
“Người con thứ tám thành Phật hiệu là Diêm-phù Ảnh.
“Người con thứ chín thành Phật hiệu là Phú-lâu-na.
“Người con thứ mười thành Phật hiệu là Thắng Diệu.
“Người con thứ mười một thành Phật hiệu là Bảo Sơn.
“Người con thứ mười hai thành Phật hiệu là Hải Tạng.
“Người con thứ mười ba thành Phật hiệu là Na-la-diên.
“Người con thứ mười bốn thành Phật hiệu là Thi Khí.
“Người con thứ mười lăm thành Phật hiệu là Nam-vô-ni.
“Người con thứ mười sáu thành Phật hiệu là Giác Tôn.
“Người con thứ mười bảy thành Phật hiệu là Kiều-trần-như.
“Người con thứ mười tám thành Phật hiệu là Sư Tử Lực.
“Người con thứ mười chín thành Phật hiệu là Trí Tràng.
“Người con thứ hai mươi thành Phật hiệu là Âm Thanh.
“Người con thứ hai mươi mốt thành Phật hiệu là Tôn Thắng.
“Người con thứ hai mươi hai thành Phật hiệu là Ly Thế Tôn.
“Người con thứ hai mươi ba thành Phật hiệu là Lợi Ích.
“Người con thứ hai mươi bốn thành Phật hiệu là Trí Quang Minh.
“Người con thứ hai mươi lăm thành Phật hiệu là Sư Tử Tôn.
“Người con thứ hai mươi sáu thành Phật hiệu là Tịch Tĩnh Trí.
“Người con thứ hai mươi bảy thành Phật hiệu là Nan-đà.
“Người con thứ hai mươi tám thành Phật hiệu là Ni-câu-la Vương.
“Người con thứ hai mươi chín thành Phật hiệu là Kim Sắc Mục.
“Người con thứ ba mươi thành Phật hiệu là Đắc Tự Tại.
“Người con thứ ba mươi mốt thành Phật hiệu là Nhật Lạc.
“Người con thứ ba mươi hai thành Phật hiệu là Bảo Thắng.
“Người con thứ ba mươi ba thành Phật hiệu là Thiện Mục.
“Người con thứ ba mươi bốn thành Phật hiệu là Phạm Thiện Lạc.
“Người con thứ ba mươi lăm thành Phật hiệu là Phạm Tiên.
“Người con thứ ba mươi sáu thành Phật hiệu là Phạm Âm.
“Người con thứ ba mươi bảy thành Phật hiệu là Pháp Nguyệt.
“Người con thứ ba mươi tám thành Phật hiệu là Thị Hiện Nghĩa.
“Người con thứ ba mươi chín thành Phật hiệu là Xứng Lạc.
“Người con thứ bốn mươi thành Phật hiệu là Tăng Ích.
“Người con thứ bốn mươi mốt thành Phật hiệu là Đoan Nghiêm.
“Người con thứ bốn mươi hai thành Phật hiệu là Thiện Hương.
“Người con thứ bốn mươi ba thành Phật hiệu là Nhãn Thắng.
“Người con thứ bốn mươi bốn thành Phật hiệu là Thiện Quán.
“Người con thứ bốn mươi lăm thành Phật hiệu là Nhiếp Thủ Nghĩa.
“Người con thứ bốn mươi sáu thành Phật hiệu là Thiện Ý Nguyện.
“Người con thứ bốn mươi bảy thành Phật hiệu là Thắng Huệ.
“Người con thứ bốn mươi tám thành Phật hiệu là Kim Tràng.
“Người con thứ bốn mươi chín thành Phật hiệu là Thiện Mục.
“Người con thứ năm mươi thành Phật hiệu là Thiên Minh.
“Người con thứ năm mươi mốt thành Phật hiệu là Tịnhphạn.
“Người con thứ năm mươi hai thành Phật hiệu là Thiện Kiến.
“Người con thứ năm mươi ba thành Phật hiệu là Tỳ-lâu-ly Tràng.
“Người con thứ năm mươi bốn thành Phật hiệu là Tỳ-lâu-bác-xoa.
“Người con thứ năm mươi lăm thành Phật hiệu là Phạm Âm.
“Người con thứ năm mươi sáu thành Phật hiệu là Công Đức Thành Tựu.
“Người con thứ năm mươi bảy thành Phật hiệu là Hữu Công Đức Tịnh.
“Người con thứ năm mươi tám thành Phật hiệu là Bảo Quang Minh.
“Người con thứ năm mươi chín thành Phật hiệu là Ma-ni Châu.
“Người con thứ sáu mươi thành Phật hiệu là Thích-ca Văn-ni.
“Người con thứ sáu mươi mốt thành Phật hiệu là Âm Tôn Vương.
“Người con thứ sáu mươi hai thành Phật hiệu là Trí Hòa Hợp.
“Người con thứ sáu mươi ba thành Phật hiệu là Thắng Tôn.
“Người con thứ sáu mươi bốn thành Phật hiệu là Thành Hoa.
“Người con thứ sáu mươi lăm thành Phật hiệu là Thiện Hoa.
“Người con thứ sáu mươi sáu thành Phật hiệu là Vô Nộ.
“Người con thứ sáu mươi bảy thành Phật hiệu là Nhật Tạng.
“Người con thứ sáu mươi tám thành Phật hiệu là Tôn Lạc.
“Người con thứ sáu mươi chín thành Phật hiệu là Nhật Minh.
“Người con thứ bảy mươi thành Phật hiệu là Long Đắc.
“Người con thứ bảy mươi mốt thành Phật hiệu là Kim Cang Quang Minh.
“Người con thứ bảy mươi hai thành Phật hiệu là Xứng Vương.
“Người con thứ bảy mươi ba thành Phật hiệu là Thường Quang Minh.
“Người con thứ bảy mươi bốn thành Phật hiệu là Tướng Quang Minh.
“Người con thứ bảy mươi lăm thành Phật hiệu là San-nidu.
“Người con thứ bảy mươi sáu thành Phật hiệu là Trí Thành Tựu.
“Người con thứ bảy mươi bảy thành Phật hiệu là Âm Vương.
“Người con thứ bảy mươi tám thành Phật hiệu là Sa-la Vương Na-la-diên Tạng.
“Người con thứ bảy mươi chín thành Phật hiệu là Hỏa Tạng.
“Thiện nam tử! Bấy giờ, người con nhỏ nhất của Phạm-chí Bảo Hải tên là Ly Bố Não, đứng trước Phật bạch rằng:‘Thế Tôn! Bảy mươi chín người anh của con nay đều đã đượcthọ ký, vào kiếp Biến Phu Ưu-bát-la Hoa, ở nơi thế giới Nguyện Ái, khi tuổi thọ con người thay đổi tăng thêm, đều sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Bạch Thế Tôn! Nay con đối trước Phật phát tâm A-nậuđa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nguyện vào phần sau của kiếp Ưu-bát-la Hoa, khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề sẽ được thọ mạng giống như bảy mươi chín vị Phật kia, cũng sẽ hóa độ chúng sinh giống như bảy mươi chín vị Phật kia, cũng sẽ thuyết giảng giáo pháp Ba thừa giống như bảy mươi chín vị Phật kia, cũng sẽ có số chúng đệ tử Thanh văn giống như bảy mươi chín vị Phật kia.
“Trong kiếp Ưu-bát-la Hoa, lại có vô lượng chúng sinh đã được bảy mươi chín vị Phật kia giáo hóa cho có được thân người, nhưng vẫn chưa được độ thoát. Con nguyện vào cuối kiếp ấy, khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi sẽ giáo hóa cho tất cả những chúng sinh ấy, khiến được trụ yên trong Ba thừa.
“Bạch Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, xin nguyện đức Thế Tôn vì con mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’
“Thiện nam tử! Khi ấy, đức Phật Bảo Tạng liền ngợi khen Ly Bố Não: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Ông nay đã vì vô lượng chúng sinh mà khởi lòng đại bi. Thiện nam tử! Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước sang số a-tăng-kỳ kiếp thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng, có một kiếp tên là Ưu-bát-laHoa, vào phần sau của kiếp ấy ông sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Vô Cấu ĐăngXuất Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Thọ mạng của tất cả bảymươi chín vị Phật kia đều là nửa kiếp. Thọ mạng của ôngcũng là nửa kiếp. Tất cả những sở nguyện như ông vừa nóiđều sẽ được thành tựu.’
“Bấy giờ, Bồ Tát Ly Bố Não lại bạch rằng: ‘Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay khi con cúi đầu kính lễ Phật, nguyện khắp cả thế giới đều mưa xuống hoa ưu-bát-la, hương thơm vi diệu. Những chúng sinh nào ngửi được mùi hương ấy thì bốn đại(1)trong thân đều được thanh tịnh, không có cấu
______________
(1)Bốn đại (Tứ đại): bốn thành tố được cho là hợp lại cấu thành nên mọi dạng vật
uế, điều hòa thích hợp, hết thảy bệnh khổ đều được dứt hết.’(1)
“Thiện nam tử! Bồ Tát Ly Bố Não nói như vậy rồi liền cúi đầu sát đất kính lễ dưới chân Phật. Ngay khi ấy, khắp cõi Phật này đều có mưa xuống hoa ưu-bát-la, hương thơm vi diệu. Chúng sinh ngửi thấy mùi hương ấy rồi thì bốn đại trong thân đều được thanh tịnh, không có cấu uế, điều hòa thích hợp, hết thảy bệnh khổ đều được dứt hết.
“Đức Như Lai Bảo Tạng liền vì Bồ Tát Ly Bố Não thuyết kệ rằng:
Bậc tâm lành, từ bi,
Đạo sư hãy đứng lên!
Các vị Phật Thế Tôn,
Thảy đều ngợi khen ông.
Có thể trừ dứt được,
Mọi phiền não kiên cố.
Tương lai ông sẽ thành,
Kho trí huệ thanh tịnh.
“Thiện nam tử! Khi ấy, Bồ Tát Ly Bố Não nghe kệ rồi sinh tâm hoan hỷ, liền đứng lên trước Phật chắp tay cung kính, lễ bái dưới chân Phật rồi lui ra gần đó, ngồi yên lặng lắng nghe thuyết pháp.
_____________
chất. Đó là: đất (địa đại), tượng trưng cho tính chất rắn chắc; nước (thủy đại), tượng trưng cho tính chất ẩm ướt; lửa (hỏa đại), tượng trưng cho tính chất nóng ấm, hay nhiệt năng; gió (phong đại), tượng trưng cho tính chất chuyển động. Khi nhìn Bốn đại theo các ý nghĩa tượng trưng của chúng, ta sẽ thấy là không có bất cứ dạng vật chất nào lại không hàm chứa đủ bốn thành tố này.
(1)Từ cách nhìn vật chất như là sự hợp thành của bốn đại, y thuật phương Đông cho rằng tất cả mọi bệnh tật của con người đều là do sự rối loạn, mất quân bình giữa các yếu tố này gây ra. Vì thế, khi mọi thứ được điều hòa thích hợp theo một tỷ lệ hợp lý, thì mọi bệnh tật đều không thể phát sinh.
“Thiện nam tử! Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải có ba tram ngàn đệ tử đang cùng ngồi ở một chỗ ngoài ven rừng, cùng dạy bảo các chúng sinh khác thọ Ba quy y,(1) khiến cho họ đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
“Thiện nam tử! Khi ấy, Phạm-chí Bảo Hải khuyên bảo các đệ tử ấy rằng: ‘Nay các ông nên phát tâm A-nậu-đa-laTam-miệu Tam-bồ-đề, cầu được cõi Phật. Như trong lòng có chỗ mong cầu gì, nay có thể đối trước Phật mà nói ra.’
“Trong số ba trăm ngàn người ấy, có một người tên là Thọ Đề, lúc đó thưa hỏi rằng: ‘Bạch thầy! Thế nào là đạo Bồ-đề?Thế nào là các pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề? Thế nào là Bồ Tát tuhành đạo Bồ-đề? Thế nào là tâm thường nhớ nghĩ được đạo Bồ-đề?’
“Bậc thầy Bảo Hải đáp: ‘Thiện nam tử! Đạo Bồ-đề mà ông hỏi đó, chính là chỗ tu tập bốn kho tàng vô tận của hàng BồTát.
“Những gì là bốn kho tàng vô tận? Đó là kho tàng phước đức vô tận, kho tàng trí vô tận, kho tàng huệ vô tận kho tàng Phật pháp hòa hợp vô tận. Thiện nam tử! Đó gọi là đạo Bồ-đề.
“Thiện nam tử! Như Phật có thuyết dạy các pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, đó là bao gồm hết thảy những pháp môn giúp người tu đạt được sự thanh tịnh, vượt qua sinh tử.
“Thiện nam tử! Xả bỏ tài vật là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì điều phục được chúng sinh. Trì giới là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì tùy theo sở nguyện đều được thành tựu. Nhẫn
_____________
(1)Ba quy y (Tam quy y): tức Quy y Tam bảo, nghĩa là Quy y Phật, Quy y Pháp Quy y Tăng. Người thọ Tam quy y là sự phát khởi tín tâm trước hết, từ đó mới có thể thọ trì Ngũ giới để bắt đầu thực hành theo lời Phật dạy.
nhục là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì giúp có được đầy đủ ba mươi hai tướng tốt,(1)tám mươi vẻ đẹp. Tinh tấn là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì hết thảy mọi việc đều được đầy đủ. Thiền định làpháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì khéo điều phục được tâm. Trí huệ là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì rõ biết được hết thảy mọi phiềnnão.
Nghe nhiều học rộng là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì được tài biện thuyết không ngăn ngại. Phước đức là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì là chỗ tu tập của hết thảy chúng sinh. Trí sáng suốt là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu được trí không ngăn ngại. Tịch diệt là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu tâm nhu hòa, hiền hậu. Tư duy là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc dứt trừ mọi sự nghi ngờ.
Tâm từ là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu tâm không ngăn ngại. Tâm bi là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì làm việc giáo hóa chúng sinh mãi mãi không chán bỏ. Tâm hỷ là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì đối với chánh pháp sinh lòng ưa thích. Tâm xả là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc dứt trừ mọi sự yêu ghét.
Lắng nghe thuyết pháp là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc dứt trừ năm sự ngăn che.(2) Xuất thế là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc xả bỏ hết thảy việc thế gian. A-lan-nhã là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì ngăn chặnđược mọi việc làm bất thiện không cho sinh khởi, giúp tang trưởng thật nhiều căn lành. Niệm là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc gìn giữ, duy trì. Ý là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc phân biệt hết thảy các
__________
(1)Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.
(2)Năm sự ngăn che (ngũ cái): xem chú giải ở trang 327.
pháp. Nắm giữ là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu sự nghĩ bàn giác ngộ.
Bốn niệm xứ(1) là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu việc phân biệt thân, thọ, tâm, pháp. Bốn chánh cần(2)là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì lìa xa hết thảy các pháp bất thiện, tu hành tăng trưởng hết thảy các pháp lành. Bốn như ý túc(3)là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu được thân tâm nhẹ nhàng nhanh lẹ. Năm căn(4) là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì thành tựu được việc thâu tóm được hết thảy các pháp lành căn bản. Năm sức(5) là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì phá trừ được hết thảy mọi phiền não.
Tỉnh giác là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì rõ biết được pháp chân thật. Sáu hòa kính(6) là pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề, vì điều phục được chúng sinh khiến cho được thanh tịnh.
“Thiện nam tử! Như vậy gọi là bao gồm hết thảy những pháp môn giúp người tu đạt được sự thanh tịnh, vượt qua sinh tử.’
Thọ Đề lại thưa hỏi: ‘Bạch thầy! Như Phật có thuyết dạy, quả báo của việc bố thí là được giàu có lớn, được đông đảo quyến thuộc; còn người nghiêm trì giới luật được sinh lên cõi trời; người nghe nhiều học rộng trí huệ lớn. Vì sao
_______________
(1)Bốn niệm xứ (Tứ niệm xứ): xem chú giải ở trang 99.
(2)Bốn chánh cần (Tứ chánh cần): xem chú giải ở trang 101.
(3)Bốn như ý túc (Tứ như ý túc): xem chú giải ở trang 102.
(4)Năm căn (Ngũ căn): xem chú giải ở trang 83.
(5)Năm sức (Ngũ lực): xem chú giải ở trang 83.
(6)Sáu hòa kính (Lục hòa kính): Sáu pháp hòa kính được vận dụng để sống chung hòa hợp trong một tập thể, cụ thể là trong Tăng đoàn. Sáu pháp này bao gồm: 1. Thân hòa cộng trú, 2. Khẩu hòa vô tranh, 3. Ý hòa đồng sự, 4. Giới hòa đồng tu, 5. Kiến hòa đồng giải, 6. Lợi hòa đồng quân. Để tìm hiểu ý nghĩa chi tiết về Sáuhòa kính, có thể tìm đọc sách “Những tâm tình cô đơn” của Nguyên Minh, NXB Tôn giáo.
Phật cũng dạy rằng tư duy các pháp ấy vượt thoát được sinh tử?’
“Bậc thầy Bảo Hải đáp: ‘Thiện nam tử! Nếu đem lòng ưa thích cuộc sinh tử mà làm việc bố thí thì được giàu có lớn. Còn người đem tâm hướng về quả vị Bồ-đề lại vì muốn điều phục tâm nên làm việc bố thí, vì muốn tâm được tịch tĩnh nên nghiêm trì giới luật, vì muốn tâm được thanh tịnh không ái dục nhơ nhớp nên cầu nghe nhiều học rộng, vì lòng đại bi nên tư duy việc tu tập chánh đạo. Ngoài ra khi cầu các pháp khác cũng đều là dùng trí huệ thành tựu các phương tiện để hỗ trợ đạo Bồ-đề. Thiện nam tử! Như vậy gọi là các pháp hỗ trợ đạo Bồ-đề. Tu hành theo đúng như vậy, đó gọi là tâm thường nhớ nghĩ đến các pháp ấy được đạo Bồ-đề.
‘Đạo giải thoát thanh tịnh chỉ cần hết lòng mong cầu, đầy đủ nguyện lực. Đạo không có sự nhơ bẩn, vì tâm được thanh tịnh. Đạo chân chánh ngay thẳng, vì không có sự siểm nịnh, cong vạy. Đạo trong trắng, tươi mát, vì lìa xa phiền não. Đạo mênh mông rộng lớn, vì không có sự che bít ngăn ngại. Đạo bao hàm chất chứa, vì có nhiều tư duy. Đạo không có sợ sệt, vì không làm các việc ác.
“Thiện nam tử! Nay cần phải sinh tâm ham muốn đạo Bồ-đề như vậy. Đạo thanh tịnh như vậy, cần phải chuyên lòng phát khởi nguyện lực. Đạo ấy không có sự nhơ bẩn, vì tâm được thanh tịnh. Đạo ấy chân chánh ngay thẳng, vì không có sự siểm nịnh, cong vạy, trừ dứt mọi phiền não. Đạo ấy luôn yên ổn, kín đáo, vì thậm chí có thể đạt đến thành tựu Niết-bàn. Nay các ông nên phát nguyện lành lớn lao, nhận lấy cõi Phật trang nghiêm tốt đẹp, tùy ý mà cầu được cõi thanh tịnh hoặc không thanh tịnh.
/54
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây