Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học khái lược 1

Phật học khái lược 1

Tác giả: Tỷ-kheo Thích Quang Nhuận. Năm xuất bản: 2004. Số trang: 294.

Chương 22: 21. Đạo Đế (Trang 211 - 217)



ĐẠO ĐẾ
(Nirodha Gamadukkha)
A. MỞ ĐỀ
Đạo đế là chân lý được Thế Tôn trình bày cuối cùng trong Tứ đế. Lẽ ra, Đạo đế là giai đoạn thứ ba trong quá trình tu tập Tứ đế, song Ngài tùy thuận tâm lý chúng sanh nên nói quả trước nhân sau, vì thế mà Đạo đế được xếp ở vị trí cuối cùng trong Tứ đế. Đạo đế là giai đoạn căn bản, hoàn toàn nghiêng về sự thực hành. Nếu ở Khổ, Tập, Diệt đức Phật khai thị cho chúng sanh thấy được sự thật mà đức Phật đã thấy, đã chứng thì ở Đạo đế đức Phật hoàn toàn dạy cho chúng sanh phương pháp thực hành mà Ngài đã thực hành trọn vẹn để được thấy và chứng ngộ. Đạo đế là giáo lý thâu tóm toàn bộ tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập của người xuất gia cũng như tại gia, là con đường trung đạo đúng đắn để hành giả có thể đạt đến sự giác ngộ, giải thoát. Đạo đế gồm có: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề và Bát Thánh đạo. Chúng ta sẽ chia  Đạo đế thành bốn bài. Bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về Tứ niệm xứ.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Tứ niệm xứ là gì?
Phạn ngữ là Catvàri smrty-upathànàni, Pàli là Cattàro sati-patthànàni, còn gọi là Tứ niệm trú, Tứ chỉ niệm, Tứ ý chỉ, Thân thọ tâm pháp. Tứ niệm xứ là bốn chỗ để trú tâm, là khoa đầu tiên trong bảy khoa của 37 phẩm trợ đạo, là bốn phương pháp tập trung tâm niệm; đề phòng, ngăn ngừa không cho tạp niệm sanh khởi len lỏi vào trong tâm thức  nhằm để đạt chân lý. Đây là pháp môn tu tập được chú trọng và nhắc đến nhiều trong các kinh điển nguyên thủy. Đó là phép quán cộng tướng, tự tướng trên thân, thọ, tâm và pháp. Thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường và pháp vô ngã. Bốn phép quán này dùng để đối trị lần lượt bốn thứ điên đảo: Tịnh, Ngã, Thường, Lạc của phàm phu.
Theo Luận Câu xá thì tu tập phép Tứ niệm xứ là dùng tự tướng, cộng tướng theo thứ lớp quán chiếu bốn cảnh Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Tự tướng là tự tánh khác nhau của bốn cảnh, chẳng hạn như tự tánh của thân là sắc, mà sắc là do bốn đại (đất, nước, gió, lửa) tạo nên, còn cộng tướng là tánh chung của các pháp tức là các pháp đều có bốn đặc tính: vô ngã, khổ, không và vô thường.
1. Thân niệm xứ: tức quán tự tướng của thân là bất tịnh, đồng thời quán cộng tướng của thân là: vô ngã, vô thường, khổ và không để đối trị điên đảo. Thế gian quan niệm thân người là châu ngọc cao quý cho nên cố tìm mọi cách để nâng niu chìu chuộng, cung cấp đầy đủ những khoái lạc cho nó như vợ con, nhà cửa, vàng bạc, có khi còn làm những việc thất nhân ác đức cũng nhằm để phục vụ những lạc thú của thân. Thế nhưng, mọi thứ hầu như trái ngược, thân này chỉ là một tổ hợp của những thứ ô uế, nhơ bẩn, lại còn mong manh như sương sớm, sáng còn tối mất. Hành giả tu tập phải tự quán sát thân này là giả hợp, cấu nhiễm...những tưởng lúc nào cũng cường tráng, khỏe mạnh nhưng thật chất chỉ là một tấm thân yếu đuối, bệnh hoạn, đê hèn. Trước đây, muốn quán thân bất tịnh phải tìm đến một khu rừng người ta bỏ xác người để quán và theo trình tự 9 giai đoạn như sau; gọi là “Cửu tưởng quán”.
  • • Trướng tưởng: ngày đầu ở cạnh thây chết quán sự phình thúi của thây ấy.
  • • Thanh ứ tưởng: ngày thứ 2 quán thấy thây ấy bị nắng mưa làm xanh xám.
  • • Hoại tưởng: ngày thứ ba quán thây rã nát.
  • • Huyết đồ tưởng: ngày thứ tư quán máu thịt rơi rớt lai láng.
  • • Nồng lạng tưởng: ngày thứ năm quán da thịt trên thây rục rã hết.
  • • Hám tưởng: ngày thứ sáu quán chim thú đến ăn thịt thối.
  • • Tán tưởng: ngày thứ bảy quán các khớp xương trên thây dần dần lìa nhau sau khi bị chim chóc rỉa hết da thịt.
  • • Cốt tưởng: ngày thứ tám quán thuyết thịt đã hết, chỉ còn bộ xương trắng bừa bãi.
  • • Thiêu tưởng: ngày thứ chín quán bộ xương trắng bị đốt cháy thành tro đất.
Đó là 9 giai đoạn quán tưởng nhằm để đối trị dục vọng của thân. Hành giả phải sáng suốt quán tưởng. Nếu cởi bỏ lớp ngụy trang, phù phiếm bên ngoài thì bên trong mọi người đều giống nhau, chỉ là một bộ xương nhơ nhớp chẳng khác nào một bộ xương trắng ngoài bãi tha ma. Vậy, người con Phật cần nên quán thân bất tịnh để sống tiết chế đối với thân thể.
2. Thọ niệm xứ: tức là quán nguyên do trong sự thích cầu lạc thọ nhưng lại sanh ra khổ não, đồng thời quán các cộng tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã và khổ để đối trị tâm vọng tưởng điên đảo. Thọ tức là thọ nhận, nhận lãnh tất cả những gì có trong thế gian mà thân này có thể thọ lãnh; chẳng hạn như cái ăn, cái
uống, cái mặc...Trước tiên là thọ nhận có cuộc đời, sau đó là thọ nhận danh vọng, tiền tài, vợ đẹp con thơ, nhà cao cửa rộng nhưng rốt cuộc, cuộc đời chỉ là sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não..., tiền tài danh vọng thì như người xưa có nói: “Phú quý tợ môn tiền tuyết, công danh như thảo thượng sương” (phú quý như tuyết ngoài cửa, công danh như sương trên cỏ), hoặc “Tiền tài, danh vọng có thể làm say đắm những trái tim tốt nhất, cũng như rượu ngon có thể làm say khước những cái đầu tĩnh táo nhất”. Bởi thế, người Phật tử cần biết được cuộc đời là phù phiếm, giả tạo, công danh, tiền tài như con dao hai lưỡi, cần phải cảnh tỉnh.
3. Tâm niệm xứ: tức quán sự sanh diệt, vô thường của tâm năng cầu, đồng thời quán cộng tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã để đối trị tâm chấp “thường” điên đảo. Tướng của Tâm là vô thường, nó thường được ví với ngựa với khỉ (tâm viên, ý mã) để chỉ sự thay đổi không bao giờ dừng nghỉ của tâm. Người không học Phật thì không thấy thể tánh của chơn tâm rộng lớn khắp vũ trụ nên lầm chấp, phân biệt cái thức là ta như ngoại đạo chấp có thần ngã hay linh hồn thường trụ. Tâm là duyên sinh nên nó vô thường là điều tất yếu. Tuy nhiên, nhờ sự vô thường này mà chúng sanh có thể cải đổi tâm tánh, có thể phục thiện, ăn năn sám hối, có thể tu tập để thành tựu trí tuệ biện tài...mặt khác, sự vô thường của tâm đã phủ bác hoàn
toàn quan niệm thần ngã và linh hồn bất diệt của ngoại đạo.
4. Pháp niệm xứ: tức là quán tất cả các pháp đều nương nhân duyên mà sanh, không có tự tánh, đồng thời quán cộng tướng: vô thường, khổ, không và vô ngã để đối trị chấp ngã điên đảo. Kinh dạy: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Nghĩa là tam giới do tâm mà có, vạn pháp đều do thức mà có. Tâm thì vô thường mà tam giới do tâm đương nhiên cũng vô thường, mà vô thường thì vô ngã vì nếu có ngã thì tất nhiên có thường. Các hiện tượng giới do không có ngã thường hằng nên luôn luôn sanh diệt, biến dị như trong Kinh Bát đại nhân giác dạy: “...thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã...”. Thuyết vô ngã của đức Phật ra đời là một chấn động lớn trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, bởi vì tất cả các phái ngoại đạo thời đó đều chấp có thần ngã và linh hồn. Ngài A-nan cũng không khỏi sửng sốt khi nghe đức Thế Tôn dạy Chơn tâm là vô ngã. Vô ngã, vô thường là hai đặc tính không thể thiếu của sự vật hiện tượng, nhờ hai đặc tính này mà con người cũng như sự vật mới có thể thay đổi, cải tạo, xã hội mới có thể chấn hưng...đặc biệt hành giả tu tập giải thoát phải dựa trên hai đặc tính này để tu quán sát, liễu đạt chân lý, chánh hướng Niết-bàn.
C. KẾT LUẬN
            Tứ niệm xứ là giáo lý cơ bản trong Đạo đế, là nền tảng để tiến xa trong tiến trình tu tập 37 phẩm trợ đạo. Tứ niệm xứ nghiêng nặng về Định, tức là tập trung quán sát thân, thọ, tâm và pháp nhằm để đối trị sự điên đảo của chấp thường, chấp lạc, chấp ngã và chấp tịnh. Tứ niệm xứ cũng là nền tảng của Thiền định nên có ý nghĩa rất quan trọng trong sự tu tập giải thoát. Người Phật tử không thể không tu tập Tứ niệm xứ./.
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »