Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học khái lược 1

Phật học khái lược 1

Tác giả: Tỷ-kheo Thích Quang Nhuận. Năm xuất bản: 2004. Số trang: 294.

Chương 23: 22. Đạo Đế (tt) (Trang 218 - 225)

 

ĐẠO ĐẾ (tt)
(Nirodha Gamadukkha)
          A. MỞ ĐỀ
            Chúng ta đã học qua Tứ niệm xứ và đã nhận chân được bốn sự thật của cuộc đời; đó là Thân bất tịnh, Thọ thị khổ, Tâm vô thường và Pháp vô ngã. Khi thấy được sự thật ấy hẳn chúng ta sẽ nỗ lực, tinh tấn để làm sao thoát khỏi chúng để tìm sự giải thoát cho chính chúng ta. Sự bền bĩ dẽo dai là một yếu tố quan trọng để thành tựu diệu quả, vì thế đức Phật đã dạy rằng: muốn đi sâu vào đạo phải chuẩn bị phương tiện cần thiết và cần có thái độ quyết tâm xa lánh điều dữ và thực hiện điều lành. Những gì đó sẽ được trình bày trong Tứ chánh cần và Tứ như ý túc sau đây:

          B. CHÁNH ĐỀ
            I. Tứ chánh cần:
1) Tứ chánh cần là gì?
            Tứ chánh cần còn gọi là Tứ chánh đoạn, Tứ đoạn, Tứ ý đoạn.. Chỉ cho khoa thứ hai trong 7 khoa của 37 phẩm trợ đạo của Đạo đế. "Cần" nghĩa là không biếng nhác, "Đoạn" nghĩa là đoạn chướng, dùng tâm tinh tấn siêng năng để đoạn trừ tâm biếng nhác, kiêu mạn nên gọi là đoạn chướng. Tứ chánh cần là bốn
phẩm mục tu hành, là phương tiện giúp hành giả cố gắng đối với việc đoạn ác sanh thiện. Tóm lại, Tứ chánh cần là bốn phép nỗ lực, tinh tấn. Đó là:
  • • Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa sanh.
  • • Tinh tấn đoạn trừ những điều ác đã sanh.
  • • Tinh tấn phát triển những điều thiện chưa sanh.
  • • Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều thiện đã sanh.
Tứ chánh cần còn gọi là Tứ chánh đoạn. Theo Tạp A-hàm thì Tứ chánh đoạn bao gồm:
  • • Đoạn đoạn: nỗ lực khiến cho việc ác đã sanh đđược đoạn trừ hẳn; tức các ác pháp sanh khởi đã đoạn đã được đoạn.
  • • Luật nghi đoạn: nỗ lực khiến cho việc ác chưa sanh đừng sanh tức bền bỉ giữ giới luật, giữ gìn oai nghi, không để cho việc ác sanh khởi.
  • • Tùy hộ đoạn (phòng hộ đoạn): nỗ lực khiến cho việc thiện chưa sanh được phát sanh; tức đối với chánh đạo vô lậu, tùy duyên hộ niệm, khiến cho chánh đạo này sanh.
  • • Tu đoạn: nỗ lực khiến cho việc thiện đã sanh được tăng trưởng, tự nhiên đoạn trừ những điều ác.
2) Nội dung của Tứ chánh cần:
a. Tinh tấn ngăn ngừa những điều các chưa sanh: muốn ngăn ngừa những điều ác chưa sanh thì tâm phải luôn luôn tỉnh táo, thanh tịnh. Có tỉnh táo, thanh tịnh thì mới để tâm suy xét đến hậu quả của việc mà mình đang làm để mà tránh xa. Người ngu chỉ thấy quả khi đang lãnh chịu hậu quả, người trí quán thấy quả khi chưa làm (Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả). Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận nghĩ đến kết quả của mỗi hành động mà mình sắp làm. Ví dụ: mình có ý định trộm cướp, do có ý thức nhận thấy hậu quả của việc trộm cướp là phải ở tù, đồng thời sẽ khiến cho người mất của cảm thấy đau khổ cho nên vội từ bỏ ý nghĩ trộm cắp... Đó là ý nghĩa của Chánh cần thứ nhất.
b. Tinh tấn đoạn trừ những điều ác đã sanh: Kinh dạy: chúng sanh hữu tình động thân cất bước thì không thể không mang tội, nhưng vấn đề là làm sao biết ăn năn sám hối để đoạn trừ mới là điều quan trọng. Việc tu hành cũng như quét rác lau gương. Nếu một ngày mà chúng ta không quét rác, không lau gương thì bụi
sẽ bám vào gương, lá rơi đầu sân trước. Bởi thế, đối với việc tu hành chúng ta không thể để một lúc nào xao lãng. Có như thế chúng ta mới có thể đoạn trừ những điều ác đã sanh và ngăn ngừa những điều ác chưa sanh.
c. Tinh tấn phát sanh những điều thiện chưa sanh: cũng như hai chánh cần trước, chánh cần thứ ba này cũng không kém phần quan trọng. Hàng ngày chúng ta phải tiếp xúc với cuộc sống đầy gian truân vất vả, phần thì phải lo toan cho cuộc sống gia đình, phần thì lo cho xã hội; công việc bề bộn trăm ngàn khiến cho tâm trí luôn bị vọng động, nên việc ác thì dễ sanh, việc thiện thì khó hiện hữu. Vì vậy, trong từng ngôn ngữ, hành động, chúng ta phải cố gắng thực hiện điều thiện. Ngôn ngữ phải nhẹ nhàng, hành động phải hợp lý và mang tính nhân đạo, giúp đỡ người nghèo, hăng hái làm điều thiện... Đó là ý nghĩa của Chánh cần thứ ba - Tinh tấn phát triển những điều thiện chưa sanh.
d. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều thiện đã sanh: trong Hội đồ Hiền văn nói:
Mạc vị ác tiểu nhi vi chi, mạc vị thiện tiểu nhi bất vi. Thủy đích tuy vi tiệm doanh đại khí, nhất thất túc thành thiên cổ hận”. (Đừng khinh điều ác nhỏ mà không tránh, đừng vì điều thiện nhỏ mà không làm, dồn từng giọt nước nhỏ sẽ đầy bình lớn, một phút lỡ lầm muôn đời ân hận). Đúng vậy, dù điều thiện nhỏ nhưng làm nhiều thì cũng thành điều thiện lớn, làm càng nhiều điều thiện càng tốt, chúng ta phải cố gắng làm phát sanh nhiều điều thiện khác, đồng thời phát triển thêm những điều thiện đã có, chẳng hạn không giết hại, trộm cướp của cải là một điều thiện, nhưng phóng sanh, bố thí chính là làm tăng trưởng những điều thiện đã có. Đó là ý nghĩa của Chánh cần thứ tư - Tinh tấn phát triển những điều thiện đã sanh.
 
II. Tứ như ý túc:
Tứ như ý túc là bốn phương tiện mang tính thiền định cao, giúp chúng ta thành tựu được chánh định vì thế còn gọi là định pháp. Như ý túc nghĩa là đầy đủ như ý muốn của mình. Bốn phép tu tập làm chỗ nương tựa cho các công đức thiền định, thành tựu thần thông mỹ mãn như ý muốn của mình gọi là Tứ như ý túc. Luận
Câu Xá ghi: "Vì sao định mà gọi là thần túc? - Vì các công đức linh diệu thù thắng đều nương nơi bốn định này mà thành tựu". Bốn định ấy bao gồm những gì? Là Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Nhất tâm như ý túc và Quán như ý túc.
1. Dục như ý túc: dục như ý túc là mong muốn sao cho đạt được như ý muốn của mình. Chữ "dục" ở đây không phải là sự mong muốn bình thường của trần thế như: muốn ăn, muốn ngủ, muốn sắc, muốn tài...mà là sự mong muốn tiêu diệt tội lỗi. Đây là sự mong muốn hướng thượng, mong muốn một đời sống cao sang, tốt đẹp, giải thoát khỏi biển khổ trầm luân. Chữ "dục" ở đây được hiểu như là một lời nguyện. Cổ nhân có dạy: "Đa tình thị Phật tâm". Tại sao Phật mà lại đa tình? Đa tình và đa dục của Phật chính là từ bi vô lượng và hạnh nguyện vô cùng. Chữ "dục" ở đây cũng vậy, chúng ta là người tu hành, hướng đến giải thoát, cần phải có tâm dục như ý này.
2. Tinh tấn như ý túc: tinh tấn là sức mạnh vô song để vượt qua tất cả các cửa ải sanh tử. Tinh tấn là yếu tố căn bản để tu tập thiền định. Nếu không tinh tấn thì giãi đãi mà
giãi đãi là động cơ đưa chúng ta vào cảnh giới của hôn trầm thụy miên, chìm đắm trong sự say sưa, ngu muội của thế tục. Tinh tấn không như sự hăng hái, bồng bột như lửa gần rơm mà là nghị lực bền bỉ không bị gián đoạn. Trong kinh Phật dạy: " ...như người kéo cây lấy lửa, cây chưa nóng đã thôi, tuy muốn được lửa nhưng chẳng thể được"[1]. Vậy, muốn thành đạo quả, phải thường tinh tấn, đầy đủ như ý nguyện của mình.
3. Nhất tâm như ý túc: nhất tâm là chú tâm vào một chỗ, không để tán loạn. Ví như một con sông lớn, nếu phải chia ra nhiều ngã rẽ thì sức chảy của nó sẽ yếu đi. Người tu hành nếu chú tâm vào một chỗ thì khả năng chứng đạt sẽ không phải là điều khó khăn. Phật dạy: "Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện"[2]. Nghĩa là: chú tâm một chỗ thì không có việc gì không thể giải quyết. Ngài dạy tiếp: "Như người chứa nước khéo giữ bờ đê, người tu hành giữ nước trí tuệ
 

[1]Kinh Di Giáo
[2] Sđd
 
cũng như vậy, phải khéo tu thiền định, chớ cho tán động"[1].
4. Quán như ý túc: quán chính là dùng trí tuệ sáng suốt quán sát pháp mình đang tu. Quán trí ấy do định làm phát sanh, trí ấy là tịnh trí, vì đầy đủ tịnh trí cho nên có thể thông đạt như thật nghĩa lý của vũ trụ.
          C. KẾT LUẬN
            Bốn món Chánh cần và bốn món Như ý túc là những bậc thang căn bản để hành giả tiến tới địa vị cao hơn trong quá trình tu tập, chúng đều là những thứ công đức tu hành để đưa người tu hành từ cái nhân hữu lậu đến cái nhân vô lậu giải thoát nên gọi là Chánh cần và Như ý. Thứ bậc của Tứ như ý túc đi từ "dục" đến "quán" đó là những bước tiến lên không ngừng và không thể thiếu trong quá trình tu tập giải thoát./.
 

[1] Sđd
 
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »